Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................................1
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến 2015-2020………..........12
Bảng 2. Năng lực sản xuất của Tổng công ty may Việt Tiến
........................................ ........................................ Error: Reference source not found
Bảng 3. Chỉ tiêu 6 tháng đầu 2010 của Tổng công ty cổ phần may Việt
Tiến……….. Error: Reference source not found
Bảng 4. Ma trận hình ảnh cạnh
tranh........................................................ ..................... Error: Reference source not found
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình quốc tế hóa và xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ và trở thành một
xu hướng phát triển trong tương lai. Chúng ta đã và đang ngày càng tích cực tham gia
vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới, mở rộng quan hệ đối ngoại với các quốc gia, đem
lại triển vọng tốt đẹp cùng những thách thức lớn cho sự phát triển của nền kinh tế nước
nhà. Trong đó thách thức lớn nhất có lẽ là sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp
trong nước và nước ngoài ở mọi ngành kinh tế.
Ngành dệt may vốn là một ngành truyền thống của dân tộc ta. Tuy nhiên, trong
nhiều năm dệt may dường như chỉ chú trọng tới thị trường xuất khẩu mà bỏ quên thị
trường trong nước, để cho hàng hóa nước ngoài chiếm lĩnh phần lớn thị trường. Mặc dù
môi trường nội địa được đánh giá là tiềm năng, 86 triệu dân với nhu cầu tiêu dùng các
sản phẩm may mặc là rất lớn nhưng tỷ lệ nội địa hóa chỉ chiếm 25%. Thời gian gần đây,
các doanh nghiệp dệt may trong nước đang quay trở lại và xây dựng những chiến lược
nội địa hóa cho riêng mình. Cuộc cạnh tranh trong nước cũng diễn ra không kém phần
gay gắt.
Tổng công ty Cổ phần may Việt Tiến (gọi tắt là May Việt Tiến) là một trong
những doanh nghiệp dệt may trong nước cũng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc
liệt đó. Với phương châm hoạt động “cam kết không ngừng nâng cao sự thỏa mãn của
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí
sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi
nhuận.
Các tác giả trong cuốn "Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh
kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc sự án VIE/97/016 thì cho rằng: Cạnh tranh có thể
được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản
xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một
mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh
trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua.
Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt
động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh
doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện
sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất.
Theo Michael Porter: Cạnh tranh hiểu theo cấp độ doanh nghiệp là việc đấu tranh
hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của doanh
nghiệp. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức
lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình
quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có
thể giảm đi. Tuy nhiên, cạnh tranh không phải là tiêu diệt đối thủ mà doanh nghiệp phải
tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối
thủ mà họ có thể lựa chọn cho mình.
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong
lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào
sự phát triển kinh tế. Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm
bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải
tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản
xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao
sản phẩm, hình thành nên giá trị cho người mua, hoặc bằng cách giảm chi phí sử dụng,
hoặc bằng cách tăng khả năng sử dụng. Lợi thế này tạo cho doanh nghiệp “quyền lực thị
trường” mạnh mẽ. Lợi thế cạnh tranh có được từ bên trong doanh nghiệp dựa trên tính
ưu việt của doanh nghiệp trong việc làm chủ chi phí sản xuất. Nó tạo nên giá trị cho
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
người sản xuất bằng cách tạo ra cho doanh nghiệp một giá thành thấp hơn so với đối thủ
cạnh tranh trực tiếp.
Sử dụng lợi thế cạnh tranh để chiến thắng đối thủ doanh nghiệp cần phải đáp ứng
được những yêu cầu nhất định
Một là, phải xác định được chính xác đối thủ cạnh tranh. Yêu cầu này được hiểu
là nắm vững về tiềm lực, khả năng của đối thủ.
Hai là, khi muốn tạo lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp cần lựa chọn vũ khí cạnh
tranh cho phù hợp và tìm ra phương pháp sử dụng tối đa hiệu quả các khí giới đó. Lựa
chọn vũ khí cạnh tranh là bước đầu, song để đạt được kết quả trong cạnh tranh cần phải
có thời gian, công sức để chuẩn bị vũ khí sao cho phát huy được hiệu quả cao nhất của
công cụ đó.
1.2.2 Các vũ khí cạnh tranh chủ yếu
Các doanh nghiệp đang sử dụng công cụ phổ biến trong quá trình cạnh tranh sôi
động hiện nay là:
Thứ nhất, chất lượng của hàng hóa. Trên thị trường nếu nhiều hàng hóa công có
công cụ như nhau, giá cả bằng nhau thì người tiêu dùng sẽ sẵn sàng mua hàng hóa nào
có chất lượng cao hơn. Do đó, đây là công cụ đầu tiên và quan trọng mà các doanh
nghiệp sử dụng để chiến thắng các đối thủ cạnh tranh. Công ty dệt Thái Tuấn hiện nay là
một ví dụ. Với chất lượng vải gấm nổi tiếng, công ty đã khẳng định vị trí đối với người
tiêu dùng và không ngừng mở rộng thị phần trong cả nước. Tuy nhiên, chất lượng của
hàng hóa phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng đơn vị sản xuất, từng ngành, từng
vùng và từng quốc gia.
Thứ hai, giá cả hàng hóa. Hai hàng hóa có cùng công dụng, chất lượng như nhau
thì người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa nào có giá rẻ hơn. Giá cả hàng hóa được quyết định
cáo, giới thiệu, trưng bày sản phẩm chiếm tất yếu nhất định trong chi phí chung của cả
doanh nghiệp.
Thứ năm, phương thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Phương thức phục vụ và thanh toán là công cụ cạnh tranh khá quan trọng.
Ai nắm giữ được công cụ này sẽ thắng trong cạnh tranh. Bởi vì, công cụ này tạo được sự
tiện lợi cho khách hàng. Phương thức phục vụ và thanh toán trước hết được thể hiện ở ba
giai đoạnh của quá trình bán hàng: trước khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau
khi bán hàng.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trước khi bán hàng, các doanh nghiệp thực hiện các động tác như: quảng cáo,
giới thiệu, hướng dẫn thị hiếu khác hàng, cách triển lãm, trừng bày hàng hóa. Những
động tác này nhằm hấp dẫn, lôi cuốn khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp
mình. Trong quá trình bán hàng, khâu quan trọng nhất là nghệ thuật chào mời khách
hàng. Điều này đòi hỏi người bán hàng phải thật sự tôn trọng khách hàng, lịch sự, ân cần
và chu đáo. Sau khi bán hàng phải có những dịch vụ như bao bì và giao hàng hóa đến tận
tay người mua, các dịch vụ trên sẽ phát huy tác dụng khi được bảo đảm các yêu cầu sau:
các dịch vụ phải nhanh, chính xác,… phương thức thanh toán một lần, thanh toán chậm
(bán chịu), bán trả góp, bán có thưởng, thanh toán linh hoạt khi trả bằng ngoại tệ.
Thứ sáu, tính độc đáo của sản phẩm. Mọi sản phẩm khi xuất hiện trên thương
trường đều mang một chu kỳ sống nhất định, đặc biệt “vòng đời” của nó sẽ rút ngắn khi
xuất hiện sự cạnh tranh. Để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, các doanh nghiệp dùng
nhiều biện pháp trong đó có biện pháp thường xuyên cải tiến một mặt sản phẩm, tạo ra
nét độc đáo riêng, liên tiếp tung ra thị trường những sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ.
Trong điều kiện doanh nghiệp chưa đủ sức tạo ra tính tương lai độc đáo của sản phẩm
đang được uy tín trên thị trường thông qua hình thức liên doanh. Sự thay đổi thường
xuyên về mẫu mã, nhãn hiệu hàng hóa cũng như việc không ngừng nâng cao chất lượng,
tính năng hàng hóa sẽ tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
hiện nay.
Thứ bảy, chữ tín là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong quá trình
trong một loạt các sản phẩm tiêu dùng hữu ích. Trong nhiều năm liền, Corning đã tạo ra
các dòng sản phẩm thành công, từ đĩa chịu nhiệt Pyrex dùng trong lò nướng đến đèn
hình ti vi hay sợi quang học từ năng lực cốt lõi liên quan đến vật liệu thủy tinh và gốm
sứ…
Như vậy, năng lực cốt lõi của doanh nghiệp thường được hiểu là những khả
năng mà doanh nghiệp có thể làm tốt, nhưng phải đồng thời thỏa mãn 3 điều kiện:
- Khả năng đó đem lại lợi ích cho khách hàng;
- Khả năng đó đối thủ cạnh tranh rất khó bắt chước
- Có thể vận dụng khả năng đó để mở rộng cho nhiều sản phẩm và thị trường
khác.
Năng lực cốt lõi có thể là công nghệ, bí quyết kỹ thuật, mối quan hệ thân thiết
với khách hàng, hệ thống phân phối, thương hiệu mạnh. Năng lực cốt lõi tạo nên lợi thế
cạnh tranh cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong kinh doanh,
khi phát triển sản phẩm, dịch vụ mới doanh nghiệp thường dựa vào năng lực cốt lõi, tức
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những thế mạnh sẵn có của mình. Đây được xem là ưu tiên hàng đầu đối với nhiều
doanh nghiệp khi xem xét các quyết định phát triển sản phẩm, dịch vụ mới bổ sung cho
sản phẩm, dịch vụ hiện có. Năng lực cốt lõi sẽ tạo cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh,
giúp giảm thiểu rủi ro trong việc xây dựng mục tiêu và hoạch định chiến lược, góp phần
quyết định vào sự thành bại của các dự án. Các doanh nghiệp cần chú ý rằng :
- Thứ nhất, năng lực cốt lõi không phải tự nhiên mà có. Nó được hình thành và
phát triển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, sau khi doanh nghiệp đã mày mò thử, sai
nhiều lần. Thế mạnh cũng từ đó hình thành và được củng cố dần. Năng lực được sinh ra
trong quá trình phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới và dần dần hoàn thiện để trở thành
“cốt lõi”, mang lại thế mạnh và lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
- Thứ hai, năng lực cốt lõi khi đã có thì không có nghĩa là sẽ dừng lại. Chúng cần
phải được tiếp tục xây dựng, phát triển thêm cả về chất lượng lẫn số lượng. Muốn mở
rộng, xây dựng năng lực cốt lõi mới, có khi doanh nghiệp phải bắt đầu từ một năng lực
thông thường, thậm chí từ con số không.