Tư tưởng của ngô thì nhậm về trung nghĩa - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******* _ *******

NGUYỄN VĂN TRỌNG

TƯ TƯỞNG CỦA NGÔ THÌ NHẬM
VỀ TRUNG NGHĨA

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2015
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******* _ *******

NGUYỄN VĂN TRỌNG

TƯ TƯỞNG CỦA NGÔ THÌ NHẬM
VỀ TRUNG NGHĨA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Hạnh

HÀ NỘI - 2015
2

trong khoa Triết học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhận văn đã cung
cấp cho tôi những tri thức quý báu trong suốt quá trình học tập cũng như đã
tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới gia đình bạn bè, những
người đã luôn bên tôi động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Trọng

2


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
NỘI DUNG .................................................................................................... 8
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA
NGÔ THÌ NHẬM ....................................................................................... 8
1.1. Những điều kiện cho sự hình thành tư tưởng của Ngô Thì Nhậm 8
1.1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII ...... 8
1.1.2 Tiền đề tư tưởng cho việc hình thành tư tưởng của Ngô Thì Nhậm .....16
1.2. Cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của Ngô Thì Nhậm ................. 32
1.2.1. Cuộc đời, sự nghiệp của Ngô Thì Nhậm ..............................................32
1.2.2. Tác phẩm chính của Ngô Thì Nhậm ....................................................38
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN NIỆM
“TRUNG”, “NGHĨA” CỦA NGÔ THÌ NHẬM ........................................ 43

triển với sự xuất hiện, phát triển của nhiều xu hướng tư tưởng và nhiều nhà tư
tưởng tiêu biểu.
Ngô Thì Nhậm, một con người, nhà Nho, nhà tư tưởng lỗi lạc ở thế kỷ
XVIII đã để lại cho dân tộc kho tàng đồ sộ với những áng văn thơ phản ánh
lịch sử, cùng với những tư tưởng triết học sâu sắc. Những áng văn thơ, những
tư tưởng triết học của ông gắn liền với hai thời kỳ khi ông ra làm quan với
triều đình Lê – Trịnh và cống hiến hết mình cho triều Tây Sơn, nơi ông đã tìm
thấy đúng giá trị, lý tưởng sống của mình.
Ngô Thì Nhậm (1746- 1803) đã sống trong thời kỳ lịch sử đầy hỗn loạn
nửa sau thế kỷ XVIII. Trong khoảng vài chục năm trở lại đây giới nghiên cứu
mới có những bài viết, đánh giá về tầm vóc cũng như giá trị mà người trí thức
Ngô Thì Nhậm đã để lại cho thế hệ sau. Những cống hiến trên mọi phương
diện kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, văn học và triết học đều có những
đóng góp của ông.

1


Trong hệ thống tư tưởng của Ngô Thì Nhậm, tư tưởng trung nghĩa có
một vị trí vô cùng quan trọng. Chính những quan niệm trung nghĩa đã được
Ngô Thì Nhậm phát triển lên một tầm cao mới, đầy tính tích cực và nó có tác
động to lớn đến sự nghiệp chính trị của ông. Chính vì vậy, tư tưởng trung
nghĩa được ông thể hiện trong hầu hết những tác phẩm tiêu biểu của ông. Việc
tìm hiểu tư tưởng triết học của Ngô Thì Nhậm có một ý nghĩa hết sức quan
trọng cho chúng ta thấy được những giá trị tư tưởng của ông trong hệ thống
lịch sử tư tưởng của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay những công trình nghiên
cứu về quan điểm, quan niệm của Ngô Thì Nhậm nói chung và tư tưởng trung
nghĩa nói riêng còn rất ít.
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Tư tưởng của
Ngô Thì Nhâm về trung nghĩa”.

đề con người và giáo dục con người của các nhà tư tưởng trên đối với việc
xây dựng con người Việt Nam hiện nay, góp phần khẳng định và xây dựng
nền triết học Việt Nam.
Ngoài những công trình chuyên biệt viết về tư tưởng Ngô Thì Nhậm
ở Việt Nam như đã nêu ở trên, vấn đề tư tưởng của Ngô Thì Nhậm cũng được
nhiều tác giả đề cập trong các tạp chí.
Tạp chí triết học số 2 năm 1972 có bài viết “ Ngô Thì Nhậm trong lịch
sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII” của tác giả Lê Sĩ Thắng. Bài viết cũng đã
tóm tắt những chặng đường phát triển của tư tưởng Ngô Thì Nhậm.
Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 7 năm 1983 có bài viết của tác giả Mai
Quốc Liên “ Ngô Thì Nhậm một nhân vật lịch sử và là nhà văn hóa kiệt xuất”.
Trong bài viết này tác giả đã tóm tắt cuộc đời, sự nghiệp tư tưởng của Ngô
Thì Nhậm nhằm làm rõ hơn những đóng góp của ông trong chặng đường lịch
sử của dân tộc.
Tạp chí nghiên cứu Hán Nôm số 1 năm 2007có bài “ Về cuốn Tam
thiên tự Ngô Thì Nhậm soạn”của tác giả Hoàng Hồng Cấm. Trong bài viết
này tác giả đã đề cập lại nội dung chính của tác phẩm và những đánh giá vai
trò của tác phẩm đối với lịch sử nghiên cứu chữ Nôm của nước nhà.

3


Tạp chí Giáo dục số 136 năm 2006 có bài “ Tư tưởng Ngô Thì Nhậm
về trọng dụng hiền tài” của tác giả Nguyễn Bá Cường. Tác giả đã nêu bật lên
tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về giáo dục, trọng dụng hiền tài từ đó đưa ra
những giá trị của tư tưởng đó đối với việc phát triển giáo dục Việt Nam.
Tạp chí triết học số 5 năm 2007 có bài viết “ Nhận thức luận của
Ngô Thì Nhậm, bước phát triển tư tưởng triết học Việt Nam thế kỷ XVIII” của
tác giả Trần Ngọc Ánh. Trong bài viết này tác giả đã nêu lên tư tưởng tiến bộ
của Ngô Thì Nhậm, khẳng định ông đã vượt lên so với những nhà trí thức

Tác giả luận văn đã sưu tầm, nghiên cứu và kế thừa những kết quả của
các công trình trên. Ngô Thì Nhậm là một nhà tri thức lỗi lạc của nước ta
trong thế kỷ XVIII, một thế kỷ mà xã hội Việt Nam rơi vào tình cảnh chiến
tranh liên miên, nhân dân chịu nhiều đau khổ. Ở những thời điểm lịch sử Ngô
Thì Nhậm được một số tài liệu không chính thống ghi chép lại và có sự phê
phán bảo thủ khi ông có liên quan đến nhiều vấn đề chính trị trong thời điểm
ông ra làm quan thời Lê – Trịnh. Trong khoảng vài thập kỷ trở lại đây việc
nghiên cứu và đánh giá đúng vai trò lịch sử của Ngô Thì Nhậm luôn thu hút
được nhiều tác giả, nhà nghiên cứu. Chính vì vậy đã có rất nhiều công trình,
tác phẩm bài viết nghiên cứu về Ngô Thì Nhậm được công bố. Tuy vậy có
những nội dung trong quan niệm của ông chưa được nghiên cứu đầy đủ dù nó
góp phần ảnh hưởng quyết định đến chặng đường tư tưởng của Ngô Thì
Nhậm.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Luận văn làm rõ những nội dung tư tuởng “ Trung”, “ Nghĩa” của Ngô
Thì Nhậm, từ đó rút ra những giá trị và hạn chế về lý luận, thực tiễn của tư
tưởng Ngô Thì Nhậm.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ
sau:

5


* Làm rõ những điều kiện, tiền đề cho việc hình thành tư tưởng của
Ngô Thì Nhậm.
*Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng “Trung”, “ Nghĩa” .
* Nhận xét đánh giá về những giá trị, hạn chế về lý luận và thực tiễn
của tư tưởng Ngô Thì Nhậm.


7


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA
NGÔ THÌ NHẬM
1.1. Những điều kiện cho sự hình thành tư tưởng của Ngô Thì Nhậm
1.1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII
Xã hội Việt Nam vào giai đoạn thế kỷ XVI - XVIII đầy những biến
động thăng trầm. Sự bất ổn về chính trị dẫn đến có những sự xáo trộn về cơ
cấu tầng lớp trong xã hội và kinh tế thì không có tính ổn định lâu dài. Triều
Lê sơ từ khi giành được độc lập khỏi ách thống trị nhà Minh đầu thế kỷ XV,
đã bị nhà Mạc lật đổ vào thế kỷ XVI. Việc nhà Mạc thay thế nhà Lê đã tạo ra
những phản ứng trong giới Nho sĩ Việt lúc bấy giờ. Trong khoảng thời gian
nhà Mạc cai trị đất nước, Nguyễn Kim rồi đến Trịnh Kiểm dấy cờ khởi nghĩa
Trung Hưng lập lên Nam triều ở vùng Thanh Hóa chống lại thế lực Bắc triều.
Do có danh nghĩa chính thống nhà Lê nên uy tín của Nam triều ngày càng
tăng mạnh,đã lôi kéo được đông đảo nho sĩ từ bỏ nhà Mạc về với danh nghĩa
nhà Lê.
Chính sách của triều đình nhà Mạc trải qua nhiều đời vua cũng không
thể đem lại kết quả có lợi cho họ, thêm vào đó càng về sau nhà Mạc càng tỏ ra
không quan tâm đến đất nước, từ chỗ giành thế chủ động so với Nam triều
dần đánh mất sự chủ động dẫn đến sự suy yếu và thất bại hoàn toàn so với
Nam triều. Khi mà nền quân chủ tập quyền trên một đất nước thống nhất bị
phá vỡ, với cục diện Trịnh- Nguyễn phân tranh, sự chia cắt lãnh thổ đàng
Ngoài và đàng Trong thì tư tưởng chính trị có những điều mới mẻ với thể chế
vua Lê- chúa Trịnh. Hệ thống chính trị ở đàng Ngoài hình thành với “thể chế
Vua Lê – Chúa Trịnh mà thực quyền nằm trong tay phủ chúa” [46, tr.346].Ở
thế kỷ XVII, thời kỳ “chúa Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn

dẫn đến sự thay đổi chế độ thuế, khi tất cả các loại ruộng đất tư, ruộng làng xã
đều phải chịu thuế. Ở Đàng Trong, đất đai khá rộng lớn từ phía nam sông
Gianh đến mũi Cà Mau. Bên cạnh ruộng công làng xã có loại ruộng gọi là
quan điền trang và quan đồn điền. Dù có chữ quan đứng đầu nhưng loại ruộng

9


này không phải là ruộng nhà nước mà thực chất là ruộng tư của chúa. Cũng
như ở Đàng Ngoài, tệ chiếm công vi tư ngày càng phát triển, đến mức vào
giữa thế kỷ XVIII, nhiều người nông dân không có nổi một tấc đất, phải bỏ
nhà đi phiêu tán. Những vùng đất xuôi về phía nam mới được khai hoang thì
chúa Nguyễn nhanh chóng đưa vào quản lý. Đất đai ở đàng Trong vì mới
được khai hoang nên rất màu mỡ, phì nhiêu vì thế nên nông nghiệp ở đàng
Trong rất phát triển. Một điều đặc biệt trong sự phát triển ruộng đất ở đàng
Trong đó chính là những người nông dân bị bần cùng hóa có thể tìm đến
những vùng đất khai hoang mới, ít nhiều đã giải quyết được sự tự do, cuộc
sống của họ. Điều này lí giải vì sao “cuộc khủng hoảng xã hội ở Đàng Trong
đến muộn hơn so với Đàng Ngoài” [46, tr. 365].
Xã hội nước ta ở thời kỳ này xuất hiện nhiều ngành nghề mới phát
triển. Ở châu Âu, lúc này đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật,
chính vì thế nhu cầu cần giao lưu buôn bán là nhu cầu tất yếu nên có sự tác
động mạnh mẽ đến xã hội Đại Việt lúc đó. Ngành thủ công nghiệp của cả hai
Đàng Trong và Đàng Ngoài đều đẩy mạnh, thành lập nhiều xưởng đóng
thuyền, sản xuất nhiều loại vũ khí. Những ngành nghề thủ công nghiệp phát
triển mạnh mẽ ở trong nhân dân với nhiều loại hình khác nhau như nghề làm
gốm, kéo tơ, dệt lụa, làm đường, rèn, làm giấy … xuất hiện phân bố rải rác cả
ở hai Đàng.
Sự phát triển của làng nghề thủ công từ những cơ sở nhỏ bé cho đến
những nơi sản xuất quy mô lớn là cả một quá trình phát triển lâu dài. Nó cần

nhóm xã, để tiện việc mua bán, giao lưu hàng hóa. Việc vận tải hàng thường
dùng là thuyền trên sông ngòi” [50, tr.373]. Trong thời kỳ này, buôn bán
trong nước xuất hiện một hiện tượng đặc biệt đó sự hình thành của các làng
buôn. Nó thể hiện sự chuyên môn hóa và buôn bán nội thương cũng được
phát triển nâng tầm một cách đáng kể.
Thương nghiệp ở giai đoạn này, phát triển phải kể đến sự giao lưu buôn
bán với các thương gia nước ngoài. Các thương nhân chủ yếu đến từ Trung
Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Pháp, Anh và Hà Lan. Ở Đàng Ngoài, việc

11


buôn bán với các thương nhân nước ngoài chủ yếu diễn ra ở thương điếm Phố
Hiến (Hưng Yên), với các mặt hàng phong phú đa dạng từ khắp các nước
mang tới. Ở Đàng Trong chúa Nguyễn mở cửa Hội An, thương cảng lớn và
vô cùng sầm uất. “Thương thuyền các nước Âu châu khác đi đến mua bán
cũng nhiều. Người Âu gọi Đàng Trong là nước Quảng Nam”[50, tr.374]. Rõ
ràng việc buôn bán với các thương nhân nước ngoài không chỉ tạo ra những
con phố buôn bán đông đúc mà còn tạo ra một tầng lớp có của cải do buôn
bán mang lại. Các nhà buôn giàu có trong nước ngày càng khẳng định vị trí
của mình trong xã hội và tạo ra những nếp sống quan cách, hàng phố.
Thêm vào đó là sự tiếp xúc kinh tế, văn hóa với các luồng giao thương
quan trọng Bắc Nam và Tây Đông đã là những nhân tố ngoại sinh kích thích
nền kinh tế hàng hóa đô thị phát triển. Sự hứng khởi đô thị ở Việt Nam trong
thế kỷ XVII, bao gồm cả một mạng lưới đô thị ở cả Đàng Trong và Đàng
Ngoài. Đô thị hầu hết nằm ở những nơi có vị trí thuận lợi như dọc con sông,
nơi có đầu mối giao thông thuận tiện. Có những đô thị ở giai đoạn này nặng
về chính trị như Thăng Long, Gia Định còn một số đô thị lại nghiêng về sự
phát triển kinh tế, hay buôn bán với người nước ngoài như Phố Hiến, Hội An.
Quy mô các đô thị cũng to nhỏ khác nhau xuất hiện dọc theo cả nước, trong

nhà Mạc, Lê Trung Hưng, Trịnh – Nguyễn, Tây Sơn kết cấu xã hội Việt Nam
liên tục chuyển biến. Sự phân tầng đẳng cấp và xung đột đẳng cấp ngày càng
tăng cao chuyển hóa thành một cuộc đấu tranh giai cấp thật sự, thể hiện trong
những cao trào bạo động nông dân bùng nổ ở các triều đại trên. Sự phát triển
nền kinh tế hàng hóa đô thị, thị trường diễn ra một quá trình giao lưu đẳng
cấp.
Thế kỷ XVIII, cấu trúc xã hội Đại Việt vẫn bao gồm sĩ, nông, công,
thương và được phân theo nghề nghiệp. Trên thực tế ba tầng lớp nông, công,
thương đã nằm trung trong đẳng cấp thứ dân nhưng theo thời gian vẫn có sự
thay đổi đáng kể trong sự phân hóa của xã hội. Khi thương nghiệp được phát
triển mạnh, “thợ thủ công và thương nhân theo đà phát triển cùng kinh tế hàng
hóa đô thị, một số ít trở thành những chủ xưởng và phú thương giàu có,

13


nhưng vẫn không vươn lên được về địa chính trị, nếu không tìm cách kết giao
để chen chân vào hàng ngũ quan liêu. Bản thân nông dân cũng tự phân hóa.
Một số ít trở thành những địa chủ và cường hào, trong khi đó đại đa số trở
thành nông dân bần cùng, mất đất, phải bỏ làng đi xiêu tán, trở thành giặc dã”
[61, tr.35]. Xã hội phong kiến Việt Nam khi đó cũng đã xuất hiện nhiều mâu
thuẫn nhưng nổi lên vẫn là mâu thuẫn nông dân với địa chủ, quý tộc.
Trong khi đó tầng lớp sĩ xuất hiện từ gốc xã hội cho đến những tầng lớp
đẳng cấp nhất trong bộ máy quan lại triều đình. Thời kỳ đầu của nhà Lê –
Trịnh và Nguyễn tầng lớp quan liêu quý tộc chủ yếu là giới thân thích nội,
ngoại tông thất của quý tốc. Nhưng theo thời gian, nhu cầu của bộ máy quan
liêu và chế độ giáo dục khoa cử mở rộng, thành phần nho sĩ khoa bảng trong
đẳng cấp quan liêu ngày càng gia tăng.
Bước sang thế kỷ XVIII, khi mà chế độ phong kiến Lê – Trịnh,
Nguyễn đã có những dấu hiệu khủng hoảng sâu rộng về mọi mặt của xã hội

của họ đã bị đổ vỡ, rồi từ đó đề ra những hướng giải quyết mà theo họ là hữu
hiệu” [17, tr.55]. Xét theo trên tinh thần dứt khoát thái độ đối với triều Tây
Sơn có ba xu hướng: Chống Tây Sơn, theo Tây Sơn và không chống mà cũng
không theo. Những người chống Tây Sơn là đám nho sĩ cựu thần nhà Lê và
đó là sự cản trở của ý thức hệ mang tính chất bảo thủ, mang tính giai cấp
nhiều hơn. Xu hướng theo nhà Tây Sơn có Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Thiếp
là có tính tích cực nhất.
Xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XVIII, nhiều nho sĩ có sự phân hóa theo xu
hướng và nhanh chóng biến đổi dưới tác động của những biến cố lịch sử. Dù
thế nào đi chăng nữa khi “nhận thức các nguy cơ như thế nào và cách chọn
hướng giải quyết của nhà Nho ra sao quy định diện mạo và đường hướng vận
động của Nho giáo thế kỷ XIX. Nhận thức và cách giải quyết đó còn gắn liền
với những điều kiện kinh tế - xã hội đương thời, của ý thức tư tưởng của các
tầng lớp xã hội” [17, tr.55].
Tóm lại, những vấn đề cơ bản trong điều kiện chính trị xã hội của Việt
Nam từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII là sự khủng hoảng cho đến khi sụp

15


đổ của cả hai hệ thống chính quyền phong kiến ở cả Đàng Ngoài và Đàng
Trong. Chiến tranh đã làm cho kinh tế xã hội kiệt quệ, nhân dân rơi vào tình
cảnh lầm than. Mặc dù có sự khủng hoảng xã hội, nhưng ở giai đoạn này
chứng kiến sự phát triển mạnh về thương nghiệp cả về nội thương lẫn ngoại
thương và đó chính là nét tươi mới của giai đoạn này. Nhưng sự hứng khởi đó
cũng không cứu vãn được chế độ phong kiến đang trên đà suy yếu khi phong
trào Tây Sơn đã thống nhất đất nước vào cuối thế kỷ XVIII. Tất cả những sự
kiện đó đã tác động mạnh mẽ tới nhà trí thức tài ba Ngô Thì Nhậm và ông đã
hướng tầm nhìn thiên tài của mình lên một tầm cao mới, để lại cho dân tộc
một hệ thống tác phẩm đồ sộ phản ánh rõ nét nhất những diễn biến chân thực

cùng hung hãn và chúng đã chinh phúc khắp các lãnh thổ rộng lớn. Nhưng
chúng không ngờ khi sang đến Đại Việt, chúng đã thất bại vô cùng thảm hại
và thất bại tới những ba lần. Ở cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm
lược chúng ta thấy được rõ đỉnh cao “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, đó
là một bản hịch khơi dậy tinh thần yêu nước của toàn thể người dân trong
cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Bài “Hịch tướng sĩ” khi đó có tầm
quan trọng vô cùng to lớn quyết định tới việc rèn luyện một đội quân tuyệt
đỉnh anh hùng. Trần Hưng Đạo đã chỉ rõ khi nước ta hòa bình một thời gian,
quân sĩ tỏ ra phát sinh tư tưởng tự mãn, tỏ rõ sự thờ ờ và đó là một điều vô
cùng nguy hiểm gây ra hậu họa khôn lường. Chính bài “Hịch tướng sĩ” đã
khơi dậy tinh thần chiến đấu cao độ và sau đó đã chiến thắng trước giặc
Nguyên xâm lược.
Bước sang đến thế kỷ XV, nước ta bị đô hộ một cách tàn bạo dưới thời
nhà Minh, quân xâm lược đã dùng mọi thủ đoạn để tiêu diệt mọi mầm mống
chống lại chúng. Nhưng cũng từ trong những chính sách cai trị tàn ác đó, tư
tưởng yêu nước của dân tộc ta lại trỗi dậy nhanh chóng và hình thành lên cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, những chính sách tài tình
của Nguyễn Trãi đã đưa đến thắng lợi, quét sạch lũ giặc ra khỏi đất nước ta.
Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và sau đó “Đại Cáo Bình Ngô” được
Nguyễn Trãi viết cho chúng ta thấy được một tinh thần yêu nước to lớn, sự

17


căm hờn quân giặc đến cao độ. Bản “Đại Cáo Bình Ngô” nói lên được ý thức
tự hào dân tộc, một cơ sở chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc Việt
Nam. Chủ nghĩa yêu nước phải làm này sinh chủ nghĩa anh hùng thì quốc gia
dân tộc mới sống còn được danh dự, nhất là khi đất nước ở một vị trí địa dư
chính trị đặc biệt như Việt Nam. Yêu nước, nhân dân vua tôi đồng lòng chính
là chìa khóa đi đến những thắng lợi vĩ đại trong công cuộc bảo vệ giặc ngoại

Khổng Tử cho rằng ngôi vua duy trì theo kiểu cha truyền con nối. Ông lên án
việc chức tước truyền theo huyết thống, dòng dõi mặc dù trong xã hội đương
thời vẫn có ba kiểu lên ngôi được thừa nhận như: lên ngôi do cha truyền lại,
lên ngôi do vua tước truyền lại và lên ngôi do đổi mệnh vua. Ông cho rằng
người cầm quyền phải có đức, có tài mà không cần tính đến đẳng cấp xuất
thân của họ. Ông cũng đưa ra những đức tính và nhiệm vụ của người đứng
đầu của một quốc gia. Khổng Tử đề cập đến việc dân phải coi vua như cha
mẹ của mình, dân vì vua mà trung, vua vì dân để được lòng dân tin cũng là
trung vậy. Trong quan hệ cha con, Khổng Tử đề cập đến phạm trù trung, song
Tăng Tử và đời sau mới phát triển, hoàn thiện nội dung này.
Phạm trù “Đức” chính là phẩm chất quan trọng nhất mà con người cần
phải có để thực hiện tốt các mối quan hệ bên trên. Từ Khổng Tử, ông nhấn
mạnh “Tam đức” : nhân, trí, dũng; tới Mạnh Tử là: nhân, nghĩa, lễ, trí ; cho
tới Đổng Trọng Thư là “ngũ thường”: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Trong Nho giáo
“tam cương” và “ngũ thường” được kết hợp và gọi tắt là đạo cương thường, là
nội dung cơ bản trong đạo làm người của Nho giáo, là nguyên tắc chi phối
mọi suy nghĩ, hành động và là tiêu chuẩn vàng ngọc để đánh giá phẩm hạnh
của con người. Đạo cương thường góp phần điều chỉnh hành vi của con
người, đưa những hành động của con người vào trong khuôn khổ theo chế độ
lễ pháp mà các nhà nước đặt ra.
“Nhân” là phạm trù trung tâm của cương thường, các phạm trù khác
đều xoay quanh phạm trù này. “Nhân” theo Khổng Tử có nghĩa là yêu người
và có sự trung, thứ. Trong đó, trung thứ tức là lòng mình suy ra lòng người,
cần phải giúp người. Khổng Tử khuyên rằng nên làm cho người những cái mà

19


mình muốn và đừng làm cho người những cái mà mình không muốn. Phạm
trù đức nhân tuy bao chứa nhiều nội hàm khác nhau, song cái gốc và cốt lõi

Trích đoạn Quan niệm về trung nghĩa của Ngô Thì Nhậm sau năm 1788 Quan niệm về “nghĩa” Một số giá trị trong quan niệm “trung”,“nghĩa” của Ngô Thì Nhậm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status