TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------
VŨ THỊ ĐÀO
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI
SAU 1975
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học
TS. LA NGUYỆT ANH
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có nhận được sự hướng dẫn của cô
giáo: TS. La Nguyệt Anh – giảng viên tổ Văn học Việt Nam, các thầy cô trong
tổ Văn học Việt Nam cùng các thầy cô trong khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP
Hà Nội 2.
Khóa luận hoàn thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy cô và
các bạn sinh viên.
Do hạn chế về mặt thời gian, khả năng bước đầu nghiên cứu khoa học,
khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và sai sót. Chúng tôi mong tiếp
tục nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để khóa luận
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG ............................................................................................................6
Chương 1.GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT VÀ THỂ
LOẠI TRUYỆN NGẮN ........................................................................................6
1.1. Ngôn ngữ nghệ thuật ........................................................................... 6
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật .................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật ..................................................... 7
1.2. Thể loại truyện ngắn ............................................................................ 9
1.2.1. Khái niệm truyện ngắn .................................................................. 9
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của truyện ngắn............................................... 10
1.2.3. Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – Vị trí và thành tựu ................ 15
1.3. Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 ................................... 16
1.3.1. Vài nét về tác giả và quá trình sáng tác ...................................... 16
1.3.2. Một số đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 ................. 22
Chương 2. ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1975...................................................................28
2.1. Ngôn ngữ kể chuyện .......................................................................... 29
2.1.1. Ngôn ngữ kể chuyện sắc sảo, tinh tế ........................................... 30
2.1.2. Ngôn ngữ kể chuyện khách quan lạnh lùng, tỉnh táo ................... 32
2.1.3. Ngôn ngữ kể chuyện vừa giàu chất trữ tình vừa đậm chất triết lí 35
2.2. Ngôn ngữ đối thoại ............................................................................ 40
2.2.1. Ngôn ngữ đối thoại thể hiện những căng thẳng, dồn nén ............ 40
2.2.2. Ngôn ngữ đối thoại thể hiện nỗi trăn trở, suy tư ......................... 44
2.2.3. Ngôn ngữ đối thoại thể hiện sự trải nghiệm ................................ 46
2.3. Ngôn ngữ độc thoại ........................................................................... 49
2.3.1. Ngôn ngữ độc thoại thể hiện sự tự nhận thức .............................. 50
2.3.2. Ngôn ngữ độc thoại thể hiện sự dằn vặt, day dứt ........................ 52
KẾT LUẬN ..........................................................................................................55
Tài liệu tham khảo
sau thế kỉ XX. Cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn là một thể loại tiêu biểu
trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải, đặc biệt là những sáng tác sau
1975. Sách giáo khoa Ngữ văn Trung học Phổ thông có đưa vào chương trình
giảng dạy những sáng tác của Nguyễn Khải với Mùa lạc, Một người Hà Nội.
Vì vậy, nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải
sau 1975, người viết mong muốn kiến thức này sẽ là cơ sở góp phần vào quá
trình tiếp nhận các tác phẩm của Nguyễn Khải.
Là một sinh viên Sư phạm, một giáo viên trong tương lai, thông qua đề
tài này người viết mong muốn tích lũy được những kinh nghiệm quý báu để
phục vụ tốt cho công việc giảng dạy sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử Văn học Việt Nam, sáng tác của Nguyễn Khải luôn là đề
tài thách thức sự tìm hiểu, suy nghĩ, nghiên cứu đối với các nhà phê bình, các
nhà nghiên cứu văn học, trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều luận án Tiến sĩ,
Thạc sĩ ở các Viện nghiên cứu, các trường Đại học. Nhìn chung cho đến nay,
các công trình nghiên cứu về Nguyễn Khải đi theo hai xu hướng chính:
Thứ nhất, xu hướng tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của ngòi bút
Nguyễn Khải trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông. Tiêu biểu cho xu
hướng này có Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ,
Nguyễn Văn Hạnh, Vương Trí Nhàn, Đoàn Trọng Huy…
Thứ hai, xu hướng nghiên cứu đặc điểm ngòi bút Nguyễn Khải qua
những tác phẩm cụ thể. Tiêu biểu cho xu hướng này có Nguyễn Đăng Mạnh,
Nguyễn Huệ Chi, Lại Nguyên Ân, Vũ Tú Nam…
Trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945-1975 (tập 2) nhà nghiên cứu Phan
Cự Đệ đã chỉ ra phong cách văn xuôi hiện thực tỉnh táo trong sáng tác của
Nguyễn Khải. Theo ông, sức hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn Khải là nhờ ở
những chi tiết tâm lý sâu sắc và chi tiết sự việc sống động: "Truyện ngắn và
Tìm hiểu chung về ngôn ngữ nghệ thuật và thể loại truyện ngắn.
4
Tìm hiểu phương diện ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Khải sau 1975.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975
6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu…
7. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận khái quát một số đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Khải sau
1975.
Khóa luận nêu được những sáng tạo độc đáo trong việc sử dụng ngôn
ngữ nghệ thuật vào sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Khải.
8. Cấu trúc khóa luận
Chương 1. Những vấn đề chung về ngôn ngữ nghệ thuật và thể loại
truyện ngắn.
Chương 2. Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Khải sau 1975.
5
NỘI DUNG
từng câu, từng chữ mới cảm thụ được cái hay của tác phẩm, vì thế mà Cao
Bá Quát nói: “Sống ở đất này có thể bỏ được tiếng quốc ngữ không? Không
bỏ được. Đọc sách quốc ngữ có thể bỏ được “Hoa tiên” và “Kim Vân Kiều”
không? Không bỏ được. Kim Vân Kiều là tiếng nói hiểu đời. “Hoa tiên” là
tiếng nói răn đời vậy”.
Bởi vậy, khi nói đến văn học nghệ thuật là nói tới nghệ thuật ngôn từ.
Nói đến ngôn ngữ nghệ thuật tức là nói đến ngôn ngữ trong các tác phẩm
nghệ thuật, dùng để sáng tạo hình tượng nghệ thuật. Xét về chất liệu, khi sáng
tác văn học, nhà văn bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ như một chất liệu, biện
pháp. Nhà văn thông qua lăng kính ngôn ngữ mà cảm nhận cảm xúc của
mình, thể nghiệm sức sống phong phú đa dạng của muôn loài. Ngôn ngữ
trong văn học nghệ thuật thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và phong cách
nghệ thuật của nhà văn, vừa có tính trực giác vừa có tính cá thể, M. Gorki coi
“ ngôn ngữ là công cụ chủ yếu của văn học” (Bàn về văn học).
Các ý kiến trên đều mang ý nghĩa khẳng định ngôn ngữ là là công cụ
thứ yếu của văn học nghệ thuật, là công cụ giao tiếp trong đời sống xã hội góp
phần trực tiếp vào việc giao lưu và phát triển xã hội. Đặc biệt là ý kiến của
Cao Bá Quát đi sâu nhấn mạnh tầm quan trọng của ngôn ngữ dân tộc, vai trò
hàng đầu của ngôn ngữ văn học trong nền văn học nước nhà bởi ngôn ngữ
nghệ thuật chính là ngôn ngữ nhân dân, ngôn ngữ dân tộc được tác giả vận
dụng tổ chức trong tác phẩm để tạo ra hiệu quả và giá trị thẩm mĩ.
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.2.1. Tính chính xác
Đây là yêu cầu đầu tiên của việc sử dụng ngôn ngữ văn học. Muốn
miêu tả một mảng hiện thực nào đó hay biểu hiện những cảm nghĩ của bản
thân về một sự vật và hiện tượng nào đấy, nhà văn nói theo Maiacôpxki:
7
1.1.2.3. Tính biểu cảm
Tính biểu cảm của ngôn ngữ văn học gắn liền với chức năng biểu hiện
cảm xúc. Văn học trực tiếp bộc lộ cảm xúc của nhà văn qua ngôn ngữ văn
học. Người nghệ sĩ giàu cảm xúc nên ngôn ngữ văn học giàu tính biểu cảm,
bên cạnh đó bản chất của người nghệ sĩ cũng rất giàu cảm xúc, vì vậy mà tính
biểu cảm biểu hiện qua tác phẩm bằng hình tượng được bao quát ngay trong
những từ ngữ cụ thể, đặc biệt rõ khi nhà văn muốn nhấn mạnh đến cảm xúc
nội tâm. Tất nhiên, tính biểu cảm trong văn học có thể được biểu đạt dưới
nhiều dạng thức: trực tiếp, gián tiếp, có hình ảnh hoặc là ngôn từ thuần túy.
Chẳng hạn khi Nguyễn Trãi viết:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”
(Bình Ngô đại cáo)
thì từ “nướng” và “vùi” đã chất chứa cả tinh thần phẫn nộ của ông đối với
giặc Minh.
Tóm lại, nói đến đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật thì sẽ làm nảy ra “chỗ
mạnh”, “chỗ yếu”, song đây không hề là những ưu khuyết của chủ thể để có
thể phấn đấu khắc phục, mà là những thuộc tính tất yếu khách quan, nghĩa là
chúng có mối liên hệ biện chứng hữu cơ – chính vì nhờ chỗ yếu đó mới có
chỗ mạnh kia và ngược lại cũng vậy. Mặt khác, nói đặc trưng đặc điểm, chỗ
mạnh, chỗ yếu của hình thái, loại hình, và cả loại thể nữa là nói trên khả năng,
còn có biến thành hiện thực trong sản phẩm hay không thì lại phụ thuộc vào
vai trò chủ thể.
1.2. Thể loại truyện ngắn
1.2.1. Khái niệm truyện ngắn
Trong tiếng Việt thuật ngữ truyện chỉ các tác phẩm văn học là một bản
kể có miêu tả nhân vật, diễn biến sự kiện thú vị, như truyện cổ tích, truyện
9
Các nhà lí luận nước ngoài thì cho rằng việc xác định chính xác ranh
giới giữa truyện ngắn và truyện dài là một vấn đề phức tạp. Hiện nay thì
người ta cho rằng truyện ngắn được dùng cho các tác phẩm không dài quá
20,000 từ và không ngắn hơn 1000 từ. Các truyện ngắn hơn 1000 từ được gọi
là “tiểu thuyết cực ngắn” hay “truyện cực ngắn”. Thực tế sáng tác, ý kiến của
Lê Huy Bắc cho rằng: “dung lượng truyện ngắn kéo dài từ vài chục chữ đến
20,000 chữ”.
Tính ngắn gọn, cô đúc trong truyện ngắn yêu cầu nhà văn cần nắm chắc
kĩ thuật của thể loại qua những đặc trưng nghệ thuật biểu hiện riêng biệt như:
cốt truyện, kết cấu, chi tiết nghệ thuật, lời văn nghệ thuật…
Đặc trưng thứ hai của truyện ngắn là tính nhất quán ở các phương
thức biểu đạt
Cốt truyện là thành phần quan trọng, cốt yếu trong truyện ngắn. So với
tiểu thuyết, cốt truyện trong truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian,
không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu
sắc về cuộc đời, về tình người”. Nếu tiểu thuyết là tác phẩm dài hơi, cấu trúc
phức tạp, đan xen nhiều chủ đề, cốt truyện, nhân vật, thì truyện ngắn chỉ là
một “lát cắt đời sống”. Vì thế khi sáng tác truyện ngắn, nhà văn phải tính đến
việc tìm, huy động và bố trí hợp lí chi tiết. Nhà văn Nguyên Ngọc nhấn mạnh:
“Truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt truyện li kì, gay cấn, kể được.
Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được nhưng
truyện ngắn không thể nghèo nàn chi tiết. Nó sẽ như nước lã” [5, tr.33]. Do
đó việc sáng tạo truyện ngắn yêu cầu nhà văn phải tìm ra được một tình
huống truyện.
Tình huống truyện là thời điểm một sự việc, một sự kiện xảy ra đối với
nhân vậ, đưa nhân vật vào tình thế phải đối đầu, phải bộc lộ tính cách à hành
động, tức là vấn đề chính của câu truyện được mở ra. Hegel trong công trình
12
dựng bằn chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu,
dùng tiếng có cân nhắc…Muốn truyện ấy là truyện ngắn, chỉ nên lấy một
trong ngần ấy ý làm chính, làm chủ đề cho truyện… Những chi tiết trong
truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi” [8, tr.303 – 306].
Ngôn ngữ cũng chính là một công trình sáng tạo độc đáo của nhà văn
để tạo nên tác phẩm. Ngôn ngữ nghệ thuật bắt nguồn từ ngôn ngữ toàn dân.
Nhưng cách sử dụng nó thì phụ thuộc vào nhãn quan ngôn ngữ của mỗi thời
đại, mỗi trào lưu văn học, gắn liền với bối cảnh văn hóa khu vực, dân tộc và
bị chi phối bởi đặc trưng thể loại.
Cả thơ và văn xuôi đều dùng ngôn ngữ nghệ thuật làm chất liệu chính
để xây dựng tác phẩm. Đối với thơ, thơ luôn đi sâu khai thác thế giới nội tâm
của con người, không miêu tả các biến cố, các hành động, các cách ứng xử,
các quan hệ qua lại. Thể loại này chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị
ngôn ngữ để biểu đạt cái vô hạn của cuộc sống, bao gồm cả những sự kiện tự
nhiên – xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm hồn con người.
Nói về đặc điểm ngôn ngữ thơ, bên cạnh những đặc trưng chung của
ngôn ngữ văn học là tính chính xác, tính hình tượng và tính biểu cảm thì ngôn
ngữ thơ còn là ngôn ngữ giàu nhạc tính, có tính hàm súc và tính truyền cảm.
Ngôn ngữ thơ không bao giờ chú trọng miêu tả cái khách quan như ngôn ngữ
trong tác phẩm tự sự. Nếu nhà văn dùng ngôn ngữ để thuyết minh, miêu tả,
nhắn nhủ, giải thích,… thì nhà thơ dùng ngôn ngữ để truyền cảm. Chẳng thế
mà khi Quang Dũng viết:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
trở lại với văn hóa đọc. Bên cạnh sự thay đổi về giọng điệu, từ giọng khẳng
định đến giọng điệu nước đôi, tự vấn đó là sự thay đổi về ngôn ngữ, từ ngôn
14
ngữ đơn thanh đến ngôn ngữ đa thanh, từ ngôn ngữ trang trọng, chuẩn mực
sang ngôn ngữ đời thường, đậm tính khẩu ngữ, thông tục. Cùng với đó, ngôn
ngữ truyện ngắn giai đoạn này cũng tăng cường tính tốc độ, thông tin và triết
luận giúp cho văn xuôi giai đoạn sau 1975 trở nên phong phú, có chiều sâu và
ám ảnh lòng người đọc.
Nhìn tổng thể, sự vận động của truyện ngắn sau 1975 đã diễn ra giống
như một cuộc nhận đường toàn diện và sâu sắc: từ ý thức nghệ thuật đến hành
vi sáng tạo, từ tư tưởng đến thi pháp. Sự vận động ấy hướng mạnh mẽ đến
những nỗ lực cách tân nhằm đổi mới thể loại. Về mặt hình thức, truyện ngắn
Việt Nam sau 1975 đổi mới rõ rệt nhất ở ba phương diện: dạng thức cấu trúc
cốt truyện, trần thuật và ngôn ngữ truyện. Những cách tân ở ba phương diện
ấy đã góp phần tạo nên diện mạo mới cho truyện ngắn Việt Nam, thể loại vốn
được xem là thể loại “cái” của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam.Từ đó thấy rõ
ràng truyện ngắn đem lại hiệu quả thẩm mĩ cao cho người thưởng thức và cả
người sáng tác, phù hợp nhất trong việc biểu hiện cuộc sống, ngày càng hấp
dẫn người đọc và thu hút người viết vì khả năng co giãn và thay đổi không
ngừng của thể loại.
1.2.3. Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – Vị trí và thành tựu
Sau 1975, thơ ca không tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn như giai đoạn
trước mà phải nhường bước phát triển cho văn xuôi. Tuy nhiên, so với tiểu
thuyết, truyện ngắn đã thực sự khởi sắc, các nhà văn đã có những tìm tòi nghệ
thuật làm cho thể loại “nhỏ” có sức nén, hay nói cách khác là nó có khả năng
khái quát hóa nghệ thuật đời sống theo chiều sâu. Đáng nói hơn cả là cũng
chính giai đoạn này đã khẳng định được nhiều phong cách truyện ngắn, tiêu
vào những tác phẩm văn học có giá trị cho kho tàng văn hóa văn học có
truyện ngắn.
1.3. Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975
1.3.1. Vài nét về tác giả và quá trình sáng tác
1.3.1.1. Vài nét về tác giả
16
Nguyễn Khải tên đầy đủ là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 -12 -1930
tại Hà Nội. Nguyễn Khải là con của vợ lẽ, sớm chịu thân phận bị “khinh miệt,
rẻ rúng” do quan niệm “vợ lẽ con thêm” và do tính cách lạnh lùng của người
cha. Suốt thời tuổi nhỏ Nguyễn Khải sống trong cảnh buồn tủi, lúc ở với mẹ
đẻ, khi ở với mẹ già, khi sống đậu nhà anh cả cùng cha khác mẹ. Nhiều lần bị
lăng nhục, bị đổ oan là ăn cắp tiền bạc.
Năm mười hai tuổi, Nguyễn Khải từ Hải Phòng lên Hà Nội trú trong
căn gác chật hẹp. Ba mẹ con sống chật vật, đã có lúc người mẹ nghĩ đến cái
chết với hai con cho thoát khổ. Mãi về sau này ông vẫn không sao quên được
cảm giác bị thương tổn và nỗi hờn giận đã gặm nhấm tâm hồn ông những năm
tháng đó: “Tưởng là con ông cháu cha hóa ra không phải, chỉ là con thêm
con thừa. Bao nhiêu mộng mơ của một thủa ngây thơ, phút chốc mất sạch.
Cái sự thật về thân phận qua mỗi tháng ngày lại tuột ra một lớp vỏ, rút lại cái
lõi của nó không đáng một xu. Chẳng là cái gì ở cõi đời này. Là một thằng ăn
cắp! Lại ghẻ lở, bẩn thỉu, bị căm ghét còn khá, bị khinh rẻ mới thật nhục”
[15, tr.200]. Nhưng chính hoàn cảnh cay đắng ấy đã làm bừng dậy ở ông ý
thức về nhân phẩm và ý chí sống để khẳng định mình: “Vậy thì phải sống.
Sống bằng cái nhẫn nhục, cái chịu thương chịu khó, không giây phút nào
được buông lơi, không giây phút nào được tự huyễn hoặc. Sống cho hết cái có
thể có của mình rồi đời sẽ giúp mình sau” [15, tr.201].
Cách mạng tháng Tám đến, ông tìm được niềm hạnh phúc lớn nhất của
nhân, cốt cách tự do – những cái làm nên nét văn hóa đặc thù của đất đế đô
[15, tr.201-202]. Có lẽ cũng bởi thế mà thế giới ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn
Khải sau 1975 cũng rất đặc trưng.
1.3.1.2. Quá trình sáng tác của Nguyễn Khải
Nguyễn Khải là một nhà văn có quá trình vận động và biến đổi trong
quan niệm nghệ thuật cũng như phong cách sáng tạo. Trong một lần trả lời
phỏng vấn, ông thừa nhận: “Từ 1955 đến 1978 tôi sáng tác theo một cách, từ
1978 đến nay theo một cách khác” [15, tr.203]. Hành trình sáng tác của
18
Nguyễn Khải tiêu biểu cho quá trình vận động của văn học dân tộc hơn nửa
thế kỉ qua. Là nhà văn xông xáo, luôn bám sát thời sự, ông nổi bật ở khả năng
phát hiện vấn đề, phân tích tâm lí sắc sảo.
Giai đoạn trước 1978
Nguyễn Khải từ viết báo, sau đó viết văn, qua quãng thời gian khá dài
loay hoay thử bút, năm 1957 tên tuổi Nguyễn Khải thực sự được công chúng
biết tới qua phần đầu của tiểu thuyết Xung đột. Tác giả thừa nhận: “Với Xung
đột, tôi bắt đầu ý thức về chức năng người cầm bút và thực sự bước vào con
đường viết truyện”. Mối quan tâm chung của nghệ thuật thời điểm này là các
vấn đề thời sự - chính trị. Và Nguyễn Khải đã hăm hở nhập cuộc trong tư
cách nhà văn – nhà hoạt động xã hội, dùng sáng tác để tham dự vào cuộc đấu
tranh xã hội. Các trang viết ông tập trung vào hai mảng đề tài: đề tài nông
thôn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đề tài chiến tranh cách mạng.
- Thứ nhất, mảng đề tài nông thôn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc
Ngay từ buổi đầu cầm bút, Nguyễn Khải đã thể hiện rõ một bản lĩnh
nghệ thuật với một tinh thần chiến đấu bằng một tiếng nói sắc sảo. Điều này
thể hiện ngay từ Xung đột ra mắt lần đầu tiên trên Văn nghệ quân đội. Tác
Nguyên (1976), Ra đảo (1970), Đường trong mây (1970), Chiến sĩ (1973).
Đây là những tác phẩm nóng hổi tính thời sự, bám sát các sự kiện lớn trong
cuộc sống chiến đấu của dân tộc. Hiện thực khốc liệt được nhà văn dùng làm
phông nền để khắc họa nổi bật vẻ đẹp của con người việt Nam: lòng yêu
nước, tinh thần kỉ luật, niềm khát khao khẳng định phẩm giá trước kẻ thù, tỉnh
táo trong nhận thức, thông minh trong hành đọng và đúc kết tính kiên nhẫn,
khiêm nhường. Nhiệt hứng ngợi ca, khẳng định rõ ràng làm cho các trang viết
chiến tranh của Nguyễn Khải thiếu đi cái chân thực góc cạnh, cái dữ dội khốc
liệt của các số phận làm nên chiều sâu hiện thực đời sống. Chính yếu tố này
tạo cho nhân vật một vẻ đẹp sắc sảo, hấp dẫn vì nó giúp soi chiếu chân thực
20