MỤC LỤC
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 1 TÀI CHÍNH HỌC HÀNH VI VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
1.1. LÝ THUYẾT HÀNH VI:
Trang 1
1
1.1.1. Định nghĩa:
1
1.1.2. Phương pháp luận:
1
1.1.2.1. Những nguyên lý cơ bản của tài chính hành vi:
2
- Hành vi không hợp lí:
- Hành vi không hợp lí mang tính hệ thống:
- Giới hạn khả năng kinh doanh chên lệch giá trên thị trường tài chính:
1.1.2.2. Các ứng dụng của lý thuyết hành vi:
6
1.2. LÝ THUYẾT HÀNH VI VÀ LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ:
7
*****
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ
CÁC CÂU CHUYỆN CỦA THẾ GIỚI
13
2.1. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM:
13
2.1.1. Tổng kết thị trường chứng khoán năm 2006:
13
2.1.2. Tổng kết thị trường chứng khoán năm 2007:
15
2.1.3. SCIC - Giải pháp kích cầu của chính phủ năm 2008:
17
2.1.3.1. Những lợi ích từ hoạt động của SCIC:
17
2.1.3.2. Những tác hại từ hoạt động của SCIC:
20
ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT HÀNH VI ĐỂ QUẢN TRỊ RỦI RO TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
31
3.1. GIẢI PHÁP CHUNG CHO THỊ TRƯỜNG TRONG DÀI HẠN:
31
3.1.1. Chứng khoán phái sinh - giải pháp cho tương lai:
31
3.1.1.1. Áp dụng các sản phẩm phái sinh vào thị trường chứng khoán có giải quyết
được tình trạng xấu do “tâm lí bầy đàn” gây nên không?
31
3.1.1.2. Sử dụng công cụ phái sinh để quản trị rủi ro:
31
3.1.1.3. Thời điểm nào thích hợp để áp dụng chứng khoán phái sinh:
32
● Viễn cảnh của TTCK sẽ ra sao nếu áp dụng chứng khoán phái sinh vào thời
điểm hiện nay:
● Thời điểm nào là phù hợp:
40
3.1.3.5.Hoàn thiện hệ thống pháp lý và cơ sở hạ tầng cho TTCK:
3.1.4. Các giải pháp vĩ mô :
41
42
3.1.4.1. Duy trì một nền kinh tế ổn định:
42
3.1.4.2. Ổn định chính sách tiền tệ quốc gia:
43
3.1.4.3. Duy trì một chính sách tài chính phù hợp:
44
3.1.4.4. Phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ và chính sách tài chính:
44
3.2. GIẢI PHÁP CHO NHÀ ĐẦU TƯ:
44
PHỤ LỤC 2 - Bảng 1:Các trường phái tâm lý và ứng dụng trong tài chính hành vi
PHỤ LỤC 3 – Các sự kiện nổi bật trên TTCK trong năm qua theo bình chọn của
Vnexpress.
PHỤ LỤC 4 - Bảng 2: Phân tích báo cáo tài chính FPT so với các đại gia công nghệ của
thế giới như Microsoft, Google, Yahoo, Oracle, và bình quân ngành.
PHỤ LỤC 5 – Bong bóng là gì, sự hình thành bong bóng và khái niệm về sự sụp đổ.
PHỤ LỤC 6 - Chứng khoán phái sinh.
PHỤ LỤC 7 - Bảng Câu Hỏi khảo sát.
PHỤ LỤC 8 - Giá 15 chứng khoán trong 40 tháng từ 1/2004 – 12/2007.
PHỤ LỤC 9 - Cổ tức.
PHỤ LỤC 10 - Dữ liệu TSSL 15 chứng khoán.
PHỤ LỤC 11 - Ma trận phương sai - hiệp phương sai.
PHỤ LỤC 12 - Chạy solver với hằng số c để tìm ra tỷ trọng đầu tư vào danh mục.
CHƯƠNG 1 TÀI CHÍNH HỌC HÀNH VI VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
1.1. LÝ THUYẾT HÀNH VI:
1.1.1. Định nghĩa:
- Tài chính hành vi học là lĩnh vực liên quan gần gũi, ứng dụng những nghiên cứu khoa
học về nhận thức & xu hướng cảm xúc trên con người nhằm hiểu rõ hơn về các quyết
định kinh tế, và làm cách nào mà con người gây ảnh hưởng lên thị trường giá cả, lợi
nhuận & sự cấp phát các nguồn tài nguyên. Phạm vi chủ yếu được đề cập bao gồm sự
hợp lý hoặc thiếu hụt của các nhân tố kinh tế. Các mô hình hành vi đặc trưng được nhận
biết qua tích hợp tâm lý học & học thuyết kinh tế tân cổ điển. Tài chính theo hành vi đã
trở thành cơ sở lý thuyết cho các phân tích kỹ thuật. Các phân tích hành vi phần lớn đề
cập đến ảnh hưởng của các quyết định thị trường, cũng như những lựa chọn chung, khởi
điểm của các quyết định thuộc về kinh tế học & các xu hướng tương tự nhau.
- Tài chính học hành vi là một phân ngành kinh tế học nghiên cứu xem những hành vi
(hành động có nhận thức) của các chủ thể kinh tế (người tiêu dùng, người phân phối, bán
hàng hay người sản xuất) có thể ảnh hưởng đến việc ra các quyết định kinh tế cũng như
+ Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống.
+ Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính.
1.1.2.1. Những nguyên lý cơ bản của tài chính hành vi:
- Hành vi không hợp lý:
Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý “đúng”
những thông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc
về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào. Ngoài ra, trong một số trường hợp, dựa trên
kinh nghiệm hay nhận thức sẵn có, họ cũng mắc phải những “lệch lạc trong nhận thức”
(cognitive biases). Những nghiên cứu về các hành vi không hợp lý tiêu biểu trong thị
trường tài chính là kết hợp giữa tâm lý học, mà chủ yếu là trường phái tâm lý nhận thức
(cognitive psychology) với trường phái tâm lý hành vi (behavioral psychology). Có một
số dạng lệch lạc trong nhận thức tiêu biểu trong thị trường chứng khoán như sau:
* Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán (Heuristics). Các kinh nghiệm, hay
quy tắc học được thường giúp chúng ta ra quyết định nhanh chóng và dễ dàng hơn nhiều
(chính các trường dạy về kinh tế về mặt nào đó cũng chỉ ra một số các quy tắc quyết định
cho một số trường hợp kia mà). Nhưng trong một số trường hợp, dựa dẫm quá nhiều vào
các quy tắc đôi khi sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài thay đổi.
Và đặc biệt là người ta thường đề cao hiệu quả của những quy tắc đơn giản, gần gũi và dễ
nhớ, kiểu hiệu ứng mà Tversky và Kahneman (1979) gọi là hiệu ứng quy tắc có sẵn
(availability heuristic). Shiller (2000) đã đưa ra một ví dụ là khi nhiều người đều dùng
internet thì họ dễ dàng nghĩ đến những điển hình thành công và những đổi mới hấp dẫn
đang diễn ra trên mạng, thế là họ nghĩ ngành kinh doanh này sẽ thành công, rốt cuộc đã
dẫn đến vụ bùng nổ giá cổ phiếu các Công ty công nghệ cao, dot.com vào cuối những
năm 1990. Một ví dụ khác gây bất ngờ là của Benartzi và Thaler (2001) khi họ ghi nhận
qua thí nghiệm cho một số người N lựa chọn cho việc đầu tư tiền tiết kiệm, nhiều người
nhanh chóng áp dụng quy tắc 1/N (đa dạng hoá đầu tư kiểu đơn giản nhất, đầu tư 1/N số
tiền vào mỗi loại hình đầu tư), trong khi nếu phân tích kỹ, họ sẽ đầu tư theo những quy
tắc khác (như chia phần nào vào cổ phiếu, phần nào vào chứng khoán thu nhập cố định,
Hiệu ứng này (gắn với kinh nghiệm dài hạn) là ngược lại với hiệu ứng lệch lạc do
tình huống điển hình (đặt nặng vào các tình huống điển hình ngắn hạn). Phối hợp 2 hiệu
ứng này có thể giúp giải thích hiện tượng phản ứng chậm (undrrreaction) trên thị trường
chứng khoán. Ví dụ, khi ban đầu tin tức công bố của một Công ty cho thấy lợi nhuận
giảm, người ta vẫn tin rằng đây chỉ là giảm tạm thời, và phản ứng chậm với thông tin này,
nên giá cổ phiếu Công ty có tin xấu vẫn giảm chậm. Đến khi liên tục vài quý sau, tình
hình vẫn xấu, thì người ta đã “phát hiện” ra một tình huống điển hình mới: Công ty này
quý trước cũng kinh doanh kém, quý này cũng kinh doanh kém, vậy nên bán tống cổ
phiếu Công ty này đi tránh lỗ. Thế là mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu. Kết quả, lại dẫn
đến phản ứng thái quá.
* Quá tự tin (overconfidence) Có nhiều nghiên cứu tâm lý học trên thị trường tài
chính cho thấy các nhà đầu tư tỏ ra quá tự tin (một số bằng chứng thí nghiệm đã được
trình bày trong các tác phẩm “Irrational Exuberance” (2000) của Shiller, một số khác
trình bày trong “A survey of behavioral finane” (2003) của Barberis và Thaler). Bằng
chứng gần đây nhất là việc nhiều nhà đầu tư ít đa dạng hoá danh mục của mình và đầu tư
nhiều vào những Công ty mà mình quen thuộc (một số nghiên cứu tranh cãi rằng có thể
vì họ có thông tin nội bộ về những Công ty đó, nhưng những nghiên cứu gần đây trong
lĩnh vực quản trị Công ty đã bác bỏ luận cứ này). Như vậy, một cách giải thích khả dĩ là
các nhà đầu tư ít đa dạng hoá này tự tin quá mức vào tầm hiểu biết của mình đối với
Công ty. Barber và Odean (2001) còn công bố một kết quả thú vị là những nhà kinh
doanh chứng khoán là nam thì quá tự tin nhiều hơn nữ, và nam càng thực hiện nhiều giao
dịch thì… kết quả càng tệ hại hơn nữ.
* Định nghĩa hẹp (narow framing) cô lập một khái niệm hay phân tích một vấn đề
trong một khuôn khổ hạn hẹp, tách biệt, và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu cho khuôn
khổ hạn hẹp ấy, thay vì cho toàn cục. Phương pháp này có thể hữu ích trong một số
trường hợp giới hạn về nguồn lực, hay không đủ thời gian phân tích nhiều. Tuy nhiên, nó
cũng có thể đưa đến sai lầm.
* Tính toán bất hợp lý (mental accounting). Đây là một dạng của định nghĩa hẹp.
lệch lạc của nhà đầu tư, có thể được tổng hợp trong bảng 1.( Phụ lục 2)
- Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống:
Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng của giao dịch
của nhà đầu tư này lên giá cổ phiếu trên thị trường là không đáng kể (cho dù là một tổ
chức đầu tư lớn thì ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình). Chỉ khi hành
vi không hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư cùng có một
hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và có thể bắt đầu
kéo dài. Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là
khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư, và do đó, nó tạo thành một dạng như chúng ta
thường gọi là “hiệu ứng bầy đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị
“thực” (hay “hợp lý”) của chúng. Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị
trường trong trường hợp chúng ta xem hiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một
mẫu hình hành vi lệch lạc, không hợp lý, thấy ai làm sao thì làm vậy.
- Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính:
Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội để
kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ
điều chỉnh giá trên thị trường về cân bằng. Nhưng nếu tồn tại định giá sai, mà lại không
thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế
nào? Và tại sao lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai ?
Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là có 2
dạng định giá sai:
+ Một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được.
+ Một dạng là không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch
giá được (nói một cách khác, khó mà xác định được khi nào mức định giá sai đã đạt tới
giới hạn trên hay dưới và điều chỉnh lại).
Nếu tham gia “chỉnh sửa” kiểu định giá sai dạng 2 thì rất dễ rơi vào trạng thái “tiền
mất, tật mang”, mà điển hình là bài học nổi tiếng của LTCM kinh doanh chênh lệch giá
của Royal Duch và Shell bị thua lỗ, nhưng ngay sau khi họ thua lỗ không bao lâu thì giá
2 cổ phiếu này điều chỉnh lại đúng như dự đoán của họ ! Đây là ví dụ cho thấy thực tế
quản trị Công ty (corporate governance) hay cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp,
lẫn giải thích tính tương tác giữa các thị trường khác nhau.
1.2. LÝ THUYẾT HÀNH VI VÀ LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ:
- Lý thuyết tài chính hành vi (behaviroal finance) với nền tảng cơ bản là “thị trường
không luôn luôn đúng”, đã đặt ra một đối trọng lớn đối với lý thuyết “thị trường hiệu
quả”, cơ sở của các lý thuyết tài chính cơ bản trong suốt 4, 5 thập kỷ gần đây.
- Lý thuyết thị trường hiệu quả dựa trên niềm tin rằng luôn tồn tại một cơ chế điều chỉnh
thị trường về trạng thái hiệu quả, đó là cơ chế kinh doanh chênh lệch giá. Một khi tồn tại
hiện tượng định giá sai trên thị trường, nghĩa là giá của các công cụ (cổ phiếu, trái phiếu,
sản phẩm phái sinh, v.v…) trên thị trường tài chính không phản ánh một cách chính xác
giá trị hợp lý (dựa trên những nhân tố cơ bản), thì sẽ tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch
giá, và “những nhà đầu tư hợp lý” khi tận dụng những cơ hội này (mua tài sản bị định giá
thấp, bán tài sản bị định giá quá cao chẳng hạn), sẽ góp phần điều chỉnh thị trường về
trạng thái hợp lý hay cân bằng. Ý tưởng về cơ chế điều chỉnh kinh doanh chênh lệch giá
sẽ tạo lập trạng thái “thị trường hợp lý” trở thành nền tảng cho rất nhiều lý thuyết định
giá, từ đường cong thị trường hiệu quả, CAPM, Black Scholes, đến các lý thuyết tài
chính quốc tế như PPP, backwardation, v.v…
- Điều gì đặt cơ sở cho giả thuyết về thị trường vốn hiệu quả?
Giả thuyết tiền đề, và cũng rất quan trọng, của một thị trường hiệu quả rằng nó đòi
hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường với mục tiêu tối đa hoá
lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và định giá các loại chứng khoán một cách hoàn toàn
độc lập với nhau.
Giả thuyết thứ hai là những thông tin mới về chứng khoán được công bố trên thị
trường một cách ngẫu nhiên và tự động, và việc quyết định về thời điểm công bố thông
tin cũng độc lập lẫn nhau.
Giả thuyết thứ ba, đặc biệt quan trọng, là các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh
giá chứng khoán thật nhanh nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin. Mặc dù
phản ánh rủi ro của nó.
- Lý thuyết thị trường hiệu quả được trình bày thành ba giả thuyết thành phần với các dấu
hiệu tương ứng.
Giả thuyết thị trường thể yếu: Giả thuyết thị trường kém hiệu quả giả định rằng giá
chứng khoán hiện tại là sự phản ánh đầy đủ mọi thông tin của thị trường chứng khoán,
bao gồm các chuyển dịch liên tục của giá, tỷ suất thu nhập, khối lượng giao dịch và các
thông tin chung khác như: mua bán lô lẻ, giao dịch lô lớn và các thương vụ của các
chuyên gia ngoại hối hay của các nhóm độc quyền khác. Vì nó giả định rằng mức giá thị
trường hiện tại này đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên
thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là tỷ suất thu nhập trong quá khứ cũng như các
thông tin khác không có mối liên hệ với tỷ suất thu nhập trong tương lai (các tỷ suất thu
nhập độc lập với nhau). Bởi vậy, các bạn có thể thu được thêm chút thu nhập khi ra quyết
định mua hoặc bán chứng khoán dựa trên các thông tin về tỷ suất thu nhập hay các thông
tin khác của thị trường trong quá khứ.
Giả thuyết thị trường bán hiệu quả (hiệu quả trung bình) cho rằng giá chứng khoán sẽ
điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là, mức giá hiện tại
phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai. Giả thuyết bán hiệu quả bao trùm lên giả thuyết
kém hiệu quả vì tất cả các thông tin trên thị trường đều phải được xem xét công khai dựa
trên giả thuyết kém hiệu quả như là giá cổ phiếu, tỷ suất thu nhập, và khối lượng giao
dịch. Thông tin công khai cũng bao gồm tất cả các thông tin phi thị trường như: các thông
báo về thu nhập và cổ tức, tỷ lệ P/E, tỷ lệ D/P, tỷ lệ thư giá/ thị giá, chia cổ phần, các
thông tin về kinh tế cũng như chính trị. Giả thuyết này có ý nghĩa rằng các nhà đầu tư khi
ra quyết định dựa trên các thông tin mới sau khi nó được công bố sẽ không thu được lợi
nhuận cao hơn mức trung bình bởi mức giá chứng khoán này đã phản ánh mọi thông tin
công khai đó.
Giả thuyết thị trường thể mạnh: Giả thuyết thị trường hiệu quả thực nói rằng giá
chứng khoán là sự phản ánh tất cả các thông tin từ công khai đến nội bộ. Nghĩa là sẽ
không có một nhóm đầu tư nào độc quyền tiếp cận được các thông tin liên quan đến việc
1.3. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO:
- Các nhà đầu tư, khi ra quyết định đầu tư, họ đều xem xét đến khả năng sinh lời và mức
độ rủi ro mà họ gặp phải. Có rất nhiều định nghĩa về rủi ro, nhưng tổng quát hơn, ta có
thể định nghĩa rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong trương lai
hay là những khả năng của kết quả bất lợi, và tỷ suất sinh lợi của một chứng khoán được
đo lường như là tổng các khoản thu nhập hoặc lỗ của chủ sở hữu trong một thời kỳ. Nói
chung nó chính là sự thay đổi trong giá trị của đầu tư cộng thêm với tất cả thu nhập bằng
tiền.
r
Pt P0 Ct
P0
Trong đó:
rt : tỷ suất sinh lợi trong suốt thời kỳ t.
Pt : Giá của chứng khoán trong thời kỳ t.
P0 : Giá của chứng khoán trong thời kỳ 0.
Ct : Lưu lượng tiền mặt nhận được của chứng khoán từ t0 đến t1
1.3.1. Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán:
1.3.1.1. Rủi ro hệ thống: là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các CK. Sự bấp
bênh của môi trường kinh tế nói chung như sự sụt giảm GDP, biến động lãi suất, tốc độ
lạm phát thay đổi... là những minh chứng cho rủi ro hệ thống, những biến đổi này tác
động đến sự dao động giá cả của các CK trên thị trường.
Trong rủi ro hệ thống trước hết phải kể đến rủi ro thị trường. Rủi ro thị trường
Rủi ro kinh doanh được cấu thành bởi yếu tố bên ngoài và yếu tố nội tại trong
công ty. Rủi ro nội tại phát sinh trong quá trình công ty hoạt động. Rủi ro bên ngoài bao
gồm những tác động nằm ngoài sự kiểm soát của công ty làm ảnh hưởng đến tình trạng
hoại động của công ty như chi phí tiền vay, thuế, chu kỳ kinh doanh...
Rủi ro tài chính cũng là một loại rủi ro không hệ thống. Rủi ro tài chính liên quan
đến đòn bẩy tài chính, hay nói cách khác liên quan đến cơ cấu nợ của công ty. Sự xuất
hiện các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra nghĩa vụ trả nợ trả lãi của công ty. Công ty
phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ (gồm trả nợ ngân hàng và trả nợ trái phiếu) trước việc
thanh toán cổ tức cho cổ đông. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến giá cả CP công ty.
Rủi ro tài chính có thể tránh được nếu công ty không vay nợ chút nào.
1.3.2. Xác định mức bù rủi ro:
Một trong những phương pháp định lượng rủi ro và xác định doanh lợi yêu cầu là sử
dụng mức lãi suất không rủi ro cộng với mức bù của từng loại rủi ro. Đầu tiên, chúng ta
xác định mức lãi suất không rủi ro (thông thường lãi suất tín phiếu Kho bạc được coi là
lãi suất không rủi ro), sau đó xác định mức bù rủi ro cho mỗi thị trường. Tổng số rủi ro
liên quan đến CK bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống. Trong đó, rủi ro
không hệ thống có thể được loại trừ thông qua việc đa dạng hoá đầu tư, còn rủi ro hệ
thống thì không thể loại trừ bằng cách đa dạng hoá.
1.3.3. Quy trình quản trị rủi ro:
● Nhận dạng rủi ro:
● Phân biệt giữa quản trị rủi ro và đầu cơ:
● Đánh giá chi phí của hoạt động quản trị rủi ro trên phương diện chi phí phát sinh do
không thực hiện hoạt động quản trị rủi ro:
bóng khổng lồ đã được tạo ra trên thị trường chứng khoán và không ai biết được rằng khi
nào thì quả bóng ấy sẽ nổ. Lúc này, việc quản trị rủi ro là vô cùng cần thiết giúp các nhà
đầu tư có thể tránh được các sai lầm làm cho họ trở nên nghèo hơn.
Kết luận chương 1:
- Tài chính học hành vi là lĩnh vực tài chính sử dụng các lý thuyết cơ bản dựa trên tâm lý
con người để giải thích những bất thường trên thị trường chứng khoán. Khi những mô
hình không còn khả năng giải thích được những biến động của thị trường thì khi đó tài
chính học hành vi là một lối thoát duy nhất cho sự giải thích hợp lý.
- Kết hợp việc nghiên cứu tâm lý hành vi và những rủi ro của thị trường ta tìm ra cách để
có thể giảm thiểu rủi ro, hay nói cách khác là ta có thể quản trị rủi ro nhằm mục đích đem
lại lợi nhuận tối đa và giảm thiểu rủi ro, đồng thời thị trường cũng đạt được sự phát triển
một cách an toàn và ổn định.
- Chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam đã và đang diễn biến
như thế nào, những tâm lý bày đàn, những đợt biến động mạnh của thị trường sẽ được
giải thích thông qua việc sử dụng lý thuyết hành vi.
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ
CÁC CÂU CHUYỆN CỦA THẾ GIỚI
2.1. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM:
2.1.1. Tổng kết thị trường chứng khoán năm 2006:
- Năm 2006, một năm đánh dấu rất nhiều thành công của Việt Nam, nằm trong nhóm dẫn
đầu về những thành công này không thể không kể đến sự bùng nổ của thị trường chứng
khoán.
- TTCK tập trung của VN đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong năm 2006 kể cả về
quy mô và chất lượng. Có khoảng 170 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ của các công ty và quỹ
đầu tư được niêm yết và đăng ký giao dịch trên hai trung tâm giao dịch CK ở TP.HCM và
Hà Nội với tổng giá trị vốn hóa trên 10 tỷ đô-la, bằng 17% GDP năm 2006, có thể nói
chu kỳ phát triển rực rỡ chưa từng có trong hơn 6 năm phát triển của TTCK đã "tụ lại"
hữu ích, nhất là vốn dài hạn cho các doanh nghiệp. Nhưng trong 170 công ty hiện có, chủ
yếu mới đưa chứng khoán đã phát hành ra niêm yết là chính chứ chưa có nhiều doanh
nghiệp phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn vậy mà giá chào sàn của các cổ phiếu
trên là khá cao do các nhà đầu tư đã quá “hưng phấn” với sự tăng trưởng ngoạn mục của
TTCK Việt Nam dẫn đến thái độ tin tưởng một cách “ngây thơ” vào các tin đồn. Điển
hình là việc tin tưởng thái quá vào đánh giá lạc quan về thị trường chứng khoán Việt
Nam của Merrill Lynch, một trong những tổ chức kinh doanh chứng khoán hàng đầu thế
giới, và tin đồn rằng sau tháng sáu các nhà đầu tư nước ngoài sẽ ồ ạt đổ vào Việt Nam đã
tạo ra cơn sốt vào thời gian giữa tháng tư. Tiếp đến, việc trở thành thành viên thứ 150 của
WTO và tổ chức thành công hội nghị APEC vào tháng 11 cộng với dự báo về khả năng
có một làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam có thể là nguyên nhân chính tạo ra cơn sốt cuối
năm. Những đánh giá, những tin tức nêu trên là tốt và có thực, nhưng bản thân chúng đã
bị thổi phồng tạo ra sự kỳ vọng quá mức.
- Chỉ số P/E bình quân của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam lúc đó là 38,18 lần. So sánh với mức trung bình của các thị trường khác, P/E chỉ dao
động từ 10 đến 17 lần. Khi giá cổ phiếu phản ánh đúng giá trị thực của doanh nghiệp, nền
kinh tế tăng trưởng ổn định thì nhìn chung, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
sẽ có lợi nhuận, lúc đó hầu như tất cả các nhà đầu tư “đều thắng” vì trò chơi có tổng lớn
hơn không. Ngược lại, khi giá bị đẩy lên quá cao, phần chênh lệch ảo sẽ tạo ra trò chơi có
tổng bằng không (giống như một ván bài), lúc đó, có người thắng ắt có kẻ thua. Thêm
vào đó nguồn tiền khổng lồ từ bán đất, từ tiết kiệm, từ kiều hối, từ vay mượn, cầm cố tài
sản đang ùn ùn chảy vào TTCK trong giấc mơ làm giàu chính đáng. Nguồn tiền này đã
tạo nên những cơn sốt thực sự trên sàn giao dịch, khi giá CP cứ liên tục được đẩy lên mức
trần.
- Nền kinh tế đang bị đe dọa bởi nguy cơ bong bóng đang ngày càng hiện rõ. Một thị
trường phát triển nhanh là điều đáng mong đợi, nhưng việc tăng trưởng quá nóng tạo ra
những biến động bất ổn trên sẽ là điều không mong đợi của cả cơ quan quản lý và hầu hết
các nhà đầu tư.
55% so với phiên cuối cùng của năm 2006 và là mức kỷ lục cho tới thời điểm hiện nay.
Với cách khởi động đầy hào hứng và phấn khích này, hầu hết các nhà đầu tư đều kỳ vọng
thị trường chứng khoán sẽ thực sự "đẻ ra vàng" như mùa bội thu năm 2006. Nhưng thực
tế lại đi ngược lại với kỳ vọng này. Ngay sau khi lên tới đỉnh vào giữa tháng 3.2007, thị
trường niêm yết rơi vào tình trạng lình xình, thị trường OTC đóng băng tới thời điểm này
vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục. Cận cuối năm, khi hàng loạt các công ty công bố doanh
thu và lợi nhuận để tăng mức hấp dẫn cho CP của mình thì chứng khoán tụt một mạch,
phá vỡ ngưỡng kháng cự 900 điểm, 850 điểm... Bên lề các sàn giao dịch, các nhà đầu tư
thở dài kết luận, chứng khoán năm 2007 đã phát triển theo kiểu "đầu heo vàng, đuôi
chuột nhắt".
- Tuy nhiên theo nhận xét của các chuyên gia thì năm 2007 là một năm phát triển vượt
bậc của thị trường chứng khoán. Điều này thể hiện trước hết ở quy mô của thị trường.
Mục tiêu của Nhà nước là tới năm 2010, vốn hóa của thị trường chứng khoán chiếm 35%
GDP. Nhưng riêng năm nay, tổng giá trị vốn hóa của thị trường (cả hai sàn HOSE và
HASTC, chưa tính trái phiếu) đã đạt trên 43% GDP.
- Nếu như năm ngoái, thị trường tăng trưởng nóng, giá các cổ phiếu tăng nhanh, chỉ số
P/E quá cao thì năm nay, mặt bằng giá cổ phiếu đã trở về mức hợp lý. Điều này vô cùng
quan trọng bởi nếu giá cứ tăng nóng, thị trường dễ rơi vào hiện tượng tăng trưởng bong
bóng.
- Sự tăng trưởng vượt bậc của thị trường còn thể hiện ở con số hơn 330.000 tài khoản so
với con số chỉ hơn 100.000 tài khoản năm ngoái. Điều này cho thấy sự quan tâm của
công chúng đầu tư tới thị trường ngày càng lớn. Cuối năm 2006, chỉ có khoảng 1.000 tài
khoản của nhà đầu tư nước ngoài thì cả năm nay con số đã lên tới 7.000. Tổng số tiền mà
khối ngoại bỏ vào thị trường là 3 tỷ USD, nhưng nếu tính cả một lượng tiền để dành cho
các IPO "hàng khủng" thì vào khoảng 7-10 tỷ USD. Các nhà đầu tư ngoại gọi Việt Nam
là "second China" ở châu Á và được đánh giá là một điểm sáng về đầu tư.
- Đặc biệt năm 2007, nhà đầu tư không còn tình trạng chạy theo phong trào, hay theo kiểu
lướt sóng kiếm lợi nhanh chóng. Thay vào đó, họ đã có tính toán, xem xét năng lực tài
487.956.835,000
2.389.522.805,000
212.429,454
50.624,570
263.054,025
(nguồn www.vse.org.vn)
2.1.3. SCIC - Giải pháp kích cầu của chính phủ năm 2008:
- VNindex từ đỉnh cao 1100 điểm đổ sụp xuống chỉ còn xung quanh 600 điểm sau bốn
tháng ngắn ngủi kể từ 11/2007. Trong bốn tháng ấy, đã có sức ép ghê gớm từ nhiều bên
có lợi ích liên quan đòi hỏi chính phủ phải can thiệp “cứu” TTCK, bằng cách “giảm
cung” (thông qua việc hoãn tiến độ IPO các doanh nghiệp nhà nước) và sau khi quyết
định của Uỷ ban chứng khoán nhà nước trong buổi họp báo ngày 5/3 đã được thực hiện
thì nó lập tức phát huy hiệu quả, mới đây nhất là quyết định “tăng cầu” (thông qua việc
cho Tổng công ty Quản lí vốn Nhà nước SCIC mua lại cổ phiếu trên thị trường), đã khiến
cho cả hai sàn giao dịch TP.HCM và Hà Nội "hồi sinh" mạnh mẽ, thị trường sôi động đến
nỗi khối lượng và giá trị giao dịch đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Những sức ép này
đang thắng thế (IPO của nhiều doanh nghiệp lớn đã bị trì hoãn), và mới đây Thủ tướng đã
ra Quyết định 319/TTg mở đường cho SCIC mua cổ phiếu để “kích cầu”.
- Có thể nói sự can thiệp của SCIC trong thời gian được coi là cần thiết với các nền kinh
tế mới chưa có nội lực chịu đựng với các luồng vốn quốc tế lớn và cũng một phần hỗ trợ
tăng trưởng nhờ ngoại lực.
- Với các nền kinh tế phát triền, chính Mỹ, nền kinh tế hàng đầu thế giới vừa mới đây
cũng đã phải viện đến sự can thiệp của Cục Dự Trữ Liên Bang (FED), mua lại 200 tỷ
như ở giai đoạn trước suy thoái) thì chắc chắn rằng số lợi ích của các nhóm này tăng lên.
Chúng ta hãy so sánh lợi ích mất đi một cách đơn giản như sau: giả sử rằng cổ phiếu Đạm
Phú Mỹ được IPO trong thời điểm thị trường chứng khoán suy thoái (hoặc ngay tại thời
điểm thị trường như hiện nay).
Trong thời điểm vừa qua có khi giá của cổ phiếu DPM dưới giá IPO bình quân. Mức
chênh lệch khoảng 5 nghìn đồng. Rõ ràng, việc IPO trong thời điểm hiện tại thì giá sẽ
thấp hơn mức giá trung bình trước đây và thặng dư chênh lệch sẽ là hàng trăm tỷ đồng.
Mặc dù theo các phương pháp định giá chuẩn tắc của thế giới thì mức giá của DPM có
thể ở mức trên 60 nghìn (tất nhiên còn do cung cầu quyết định).
Thặng dư “đáng phải có” là lớn hơn nhiều nếu thị trường chứng khoán vận hành ở
mức trước suy thoái. Thị trường chứng khoán có vai trò to lớn như vậy trong việc tạo ra
lợi ích tái phân phối lớn nhờ các khoản thặng dư thu về “hợp lý” hơn được đầu tư cho các
nhóm lợi ích khác như giáo dục, y tế, miền núi, đường bộ,… .
Việc IPO trong hoàn cảnh như vậy là có kết quả cuối cùng, nhưng chưa phải là kết
quả mong muốn. Chúng ta có thể cho rằng lợi ích tái phân phối từ thặng dư là ít đi nữa thì
cũng là sự bừ trừ các thành phần trong nước. Nhưng đó là thời kỳ đầu của Trung Quốc và
của Việt Nam những năm 90-91 và 97-98. Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam có các
nhà đầu tư nước ngoài tham gia, thì việc bán rẻ tài sản là khó có thể chấp nhận được.
Trong điều kiện suy thoái và lịch sử của hồi phục sau suy thoái với các nền kinh tế
mới nổi và chuyển đổi, nếu Việt Nam dừng quá trình IPO các doanh nghiệp như kế hoạch
đề ra, thì có thể sức cạnh tranh của cả nền kinh tế yếu đi trong điều kiện thực hiện các
cam kết W.T.O càng đến gần (và thực tế đã đến).
Sức cạnh tranh và tăng trưởng sẽ không được duy trì. Chi phí và thiệt hại do hoãn
IPO là lớn và khó đánh giá hết được mức độ. Do vậy rõ ràng cổ phần hoá là cần thiết và
phải thực hiện trong một điều kiện có thị trường định giá “hợp lý” trong tương quan với
các công ty ở các nền kinh tế khác.
Kịch bản 2: Thị trường ổn định và Việt Nam duy trì kế hoạch IPO.
Với những phân tích ở kịch bản 1, có thể thấy rằng để quá trình IPO của Việt Nam