PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng đường lối,
chiến lược phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành bại trong quá trình
phát triển kinh tế của một đất nước. Trong đó, việc xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp
lý là một trong những vấn đề hết sức quan trọng.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986 đến nay, rõ nhất là từ
năm 1990 cơ cấu kinh tế nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực phù hợp
với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch
vụ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn. Những chuyển biến đó đã góp phần tạo đà cho
nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định.
Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó cũng mới chỉ là
bước đầu và nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu còn chậm. Cho đến nay, nước ta vẫn
là nước nông nghiệp, dân cư sống ở nông thôn và lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ
trọng lớn. Để đạt được mục tiêu đến năm 2020: "Đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế ngành hợp lý
với tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm dưới 10%, công nghiệp 35 - 40%, dịch vụ
chiếm 50 - 60% trong tổng GDP" mà Đại hội VIII đã đề ra thì còn nhiều vấn đề phải
được tiếp tục nghiên cứu và có giải pháp sát thực.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, em đã chọn đề tài “Sự chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” nhằm nghiên cứu tình hình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta trong thời gian qua và những giải pháp
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời gian tới.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
2.1 Mục tiêu chung:
Tìm hiểu thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, từ
đó đề ra những giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời gian qua
1
- Phân tích những nhân tố thuận lợi và bất lợi ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ
bao gồm ba nhóm ngành chính: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, còn trong phạm
vi từng nhóm ngành có thể phân chia thành các ngành chuyên môn hóa ở những mức
độ khác nhau. Cụ thể, nhóm ngành nông nghiệp có thể phân chia thành các ngành
nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; nhóm ngành công nghiệp chia thành các ngành
công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, công nghiệp sửa chữa xây dựng; nhóm
ngành dịch vụ có thể chia thành các ngành thương mại, bưu chính viễn thông, giao
thông vận tải, du lịch, tài chính, ngân hàng. Cơ cấu kinh tế theo ngành là tiêu chuẩn
cơ bản phản ánh trình độ phát triển kinh tế cơ bản của một quốc gia. Vì vậy, trong quá
trình phát triển các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm đến xây dựng chiến lược
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, coi đó là điều kiện tiền đề, cơ bản để tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này
sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với môi trường và điều
kiện phát triển của nền kinh tế. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mỗi quốc
gia, hay mỗi một ngành kinh tế, hay mỗi vùng, địa phương có thể đưa vào cơ cấu kinh
3
tế những ngành mới (sản phẩm, dịch vụ mới) hay có thể loại ra khỏi cơ cấu kinh tế
những ngành (những sản phẩm) không còn phù hợp, hoặc có thể chuyển dịch theo
hướng tăng hay giảm tỷ trọng của một ngành một (sản phẩm) nào đó. Đó là quá trình
chuyển từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, bất hợp lý sang cơ cấu kinh tế hợp lý; hoàn thện và
bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu kinh tế mới hiện đại và phù hợp
hơn. Sự thay đổi như vậy không đơn giản chỉ là sự thay đổi số lượng các ngành và tỷ
trọng của mỗi ngành, mà còn bao gồm sự thay đội vị trí, tính chất mối quan hệ trong
nội bộ cơ cấu ngành.
Nội dung của cơ cấu kinh tế ngành được thể hiện là:
-Đó là số lượng các ngành được hình thành. Số lượng này luôn luôn phát triển theo
phân công lao động xã hội
-Mối quan hệ về số lượng thể hiện ở tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể.
-Mối quan hệ về chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng từng ngành, các mối liên
kết kinh tế - kỹ thuật, kinh tế xã hội và tính chất tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng.
cũng như sức tưởng tượng và hình dung của con người dựa vào những kinh nghiệm
trong quá khứ. Nền kinh tế thế giới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế
tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí
tuệ.
Một nước có thể được gọi là nền kinh tế tri thức khi :
- Có hơn 70% GDP đóng góp do ngành kinh tế tri thức
- Cơ cấu giá trị gia tăng có trên 70% giá trị do lao động trí óc mang lại.
- Cơ cấu lao động có hơn 70% là công nhân trí thức
- Cơ cấu tư bản trên 70% là tư bản con người.
1.2.2 Đặc điểm mới của toàn cầu hóa kinh tế
Ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế là đặc trưng và xu hướng phát triển phổ biến
của nền kinh tế thế giới, bất luận đó là nền kinh tế có quy mô và trình độ phát triển ra
sao và thuộc chế độ chính trị - xã hội thế nào. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế
khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước
phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều
5
mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh,
vừa tạo ra những cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng vừa có những thách thức đối
với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang ở trình độ kém phát triển
Tác động tích cực của toàn cầu hóa:
- Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất
- Mở rộng và phát triển thị trường ra khu vực và toàn cầu
- Bổ sung và phân bổ lại nguồn lực
- Thúc đẩy cải cách kinh tế và hợp tác phát triển
- Tiền đề cho sự phát triển bền vững
- Nâng cao đời sống nhân dân thông qua tăng trưởng kinh tế và tiếp cận của
người dân với các sản phẩm và dịch vụ cao cấp quốc tế, cơ hội học tập và du
lịch nước ngoài.
Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa:
- Chịu hiệu ứng “lây lan” của những bất ổn khu vực và toàn cầu.
phát triển, hệ thống thị trường tài chính tiền tệ đã phát triển và đạt được kết quả khả
quan.
Các yếu tố ngoại lực (vốn, kỹ thuật – công nghệ, tri thức, thị trường) đã trở
thành lực lượng quan trọng và được kết hợp với yếu tố nội lực đã tạo thành sức mạnh
tổng hợp thúc đẫy nền kinh tế phát triển. Những động lực phát triển mới đã xuất hiện:
cạnh tranh theo nguyên tắc thị trường, các nhu cầu được mở rộng làm mở rộng các cơ
hội phát triển, do đó, đã tạo nhiều khả năng lựa chọn các cơ hội phát triển cho xã hội
Tóm lại, bước vào thời kỳ phát triển mới, nền kinh tế nước ta đã có sự thay đổi
về thế và lực: cấu trúc kinh tế mới, tiềm lực mới, thế path triển mới, động lực mới và
lực lượng chủ thể mới.
7
CHƯƠNG 2
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
2.1 Thực trạng cơ cấu kinh tế tại Việt Nam
Sang thế kỷ XXI, thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về đẩy nhanh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ,cơ cấu kinh tế quốc dân chuyển dịch nhanh theo
hướng tích cực nhưng tốc độ vẫn còn chậm. Năm 2000 - 2005, GDP bình quân mỗi
năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành, đạt
838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640
USD. Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực,
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước ta đứng
thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt
điều, thứ nhất về hạt tiêu. Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm
dần, năm 1988 là 46,3%, năm 2005 còn 20,9%. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ
cấu trồng trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản
phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu. Trong
kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm,
giá trị tăng thêm bằng khoảng 3,89%/năm. Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày
càng tăng, có chỗ đứng trong những thị trường lớn, giá trị sản xuất công nghiệp và
chiếm 38, 10% GDP. Như vậy, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế chỉ có 2 chỉ
tiêu đạt được là nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng theo nghĩa rộng, còn dịch
vụ không đạt được.
Từ năm 2007 trở lại đây, chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu làm cho tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó
lường, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức, tuy nhiên cơ cấu
kinh tế ngành và nội bộ ngành đã chuyển dịch tích cực. Tổng sản phẩm trong nước
(GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007, trong
đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây
dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%. Năm 2009, GDP tăng 5,32%, bao gồm:
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng
tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%.
Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế thời kỳ 2007-2009
Đơn vị tính: %
2007 2008 2009
Nông nghiệp 3,40 3,79 1,83
Công nghiệp 10,60 6,33 5,52
Dịch vụ 8,69 7,20 6,63
Tổng 8,48 6,23 5,32
Nguồn: Tổng cục thống kê
Hình 1: Cơ cấu GDP Việt Nam phân theo nhóm ngành thời kỳ 1991-2008
10