TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
ĐOÀN VĂN CÔNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GỐC GHÉP HỌ
BẦU BÍ DƯA ĐẾN KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH
HÉO RŨ DO NẤM Fusarium oxysporum
TRÊN DƯA LEO (Cucumis sativus L.)
VỤ ĐÔNG XUÂN 2012-2013
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Cần Thơ, 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GỐC GHÉP HỌ
BẦU BÍ DƯA ĐẾN KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH
HÉO RŨ DO NẤM Fusarium oxysporum
TRÊN DƯA LEO (Cucumis sativus L.)
VỤ ĐÔNG XUÂN 2012-2013
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Cán bộ hướng dẫn:
PGS.TS. TRẦN THỊ BA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
-oOo-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Đại học
ngành Khoa học cây trồng với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GỐC GHÉP HỌ
BẦU BÍ DƯA ĐẾN KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH
HÉO RŨ DO NẤM Fusarium oxysporum
TRÊN DƯA LEO (Cucumis sativus L.)
VỤ ĐÔNG XUÂN 2012-2013
Do sinh viên Đoàn Văn Công thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng.
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:………………………………. ..
……………………………………………………………………………………
…...……………………………………………………………………………….
Luận văn tốt nghiệp được đánh giá ở mức:
…...………………………………………………………………………………
Cần Thơ, ngày…, tháng, … năm 2014
Thành viên Hội đồng
……………………….
……………………..
Thời gian đào tạo: 2008 đến năm 2011
Trường: Trung học phổ thông Nguyễn Việt Hồng
Địa chỉ: Phường An Bình, Quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
4. Đại học
Thời gian đào tạo: 2011 đến nay
Trường: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Đường 3-2, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ
Ngày… tháng… năm 2014
Người khai
Đoàn Văn Công
iii
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng!
Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
- PGS.TS. Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm,
góp ý và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn
thành tốt luận văn này.
- ThS. Võ Thị Bích Thủy đã đóng góp những ý kiến xác thực góp phần
hoàn chỉnh luận văn.
- Cố vấn học tập cô Bùi Thị Cẩm Hường đã quan tâm và dìu dắt lớp tôi
hoàn thành tốt khóa học.
- Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học.
Xin chân thành cảm ơn!
- Anh Phan Ngọc Nhí, Chị Lý Hương Thanh lớp Cao học Trồng Trọt khóa
56,15-93,58 g/cây) cao hơn đối chứng-không ghép (19,22 g/cây).
v
MỤC LỤC
Mở đầu…………………………………………………………………………...1
Chương 1 Lược khảo tài liệu……………….…………………………...……...2
1.1 Khái quát về ngọn ghép và gốc ghép…………………………………………2
1.1.1 Ngọn ghép dưa leo......................................................................................2
1.1.1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng………...…..…………………………...2
1.1.1.2 Đặc điểm thực vât học……………...……………..……………..……….2
1.1.1.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh………...........……………..………………3
1.1.2 Gốc ghép bầu..............................................................................................4
1.1.3 Gốc ghép mướp ..........................................................................................5
1.1.4 Gốc ghép bí đỏ ...........................................................................................5
1.1.5 Gốc ghép bình bát dây ................................................................................5
1.2 Nấm Fusarium oxysporum và bệnh héo rũ do nấm trên cây họ bầu bí dưa.....6
1.2.1 Triệu chứng bệnh do nấm ...........................................................................6
1.2.2 Phân lập nấm ..............................................................................................6
1.2.3 Phòng trừ bệnh do nấm...............................................................................7
1.3 Cơ sở khoa học của việc ghép cây .................................................................7
1.3.1 Khái niệm về ghép cây ...............................................................................7
1.3.2 Cơ chế hình thành cây ghép ........................................................................7
1.3.3 Mối quan hệ giữa gốc ghép và ngọn ghép ...................................................8
1.3.4 Yêu cầu của giống làm gốc ghép ................................................................8
1.3.5 Ưu điểm và hạn chế của việc ghép cây .......................................................9
1.3.5.1 Ưu điểm…………………………………………………………..………9
1.3.5.2 Hạn chế…………………………………………………………...………9
1.4 Một số kết quả nghiên cứu về gốc ghép trên cây họ bầu bí dưa....................10
3.5.2 Trọng lượng trái trên cây ..........................................................................26
Chương 4 Kết luận và đề nghị………………...………………………………28
4.1 Kết luận.......................................................................................................28
4.2 Đề nghị........................................................................................................28
Tài liệu tham khảo………….…………………………………………………....29
vii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tựa bảng
Trang
3.1 Tỷ lệ (%) sống sau khi ghép của dưa leo ở các nghiệm thức
qua các giai đoạn khảo sát.
17
3.2 Cấp bệnh của dưa leo ghép ở các nghiệm thức khác nhau qua
các giai đoạn khảo sát.
17
3.3 Tỷ lệ (%) cây bị nhiễm bệnh của dưa leo ghép ở các nghiệm
thức khác nhau qua các giai đoạn khảo sát.
19
Hình
Tựa hình
Trang
2.1 Một số loại gốc ghép và ngọn ghép dùng trong thí
nghiệm. a) ngọn ghép dưa leo TN123 ở 4 NSKG; b) cây
dưa leo ở 7 NSKG; c) gốc bầu ở 9 NSKG; d) gốc mướp
ở 15 NSKG; e) gốc bí đỏ ở 9 NSKG; f) gốc bình bát dây
ở 30 NSKG.
13
2.2 Nuôi cấy tạo nguồn nấm bệnh chủng cho cây ghép trong
thí nghiệm. (a) Nuôi cấy nấm trong môi trường PDA; (b)
Tách bào tử nấm trong nước cất thanh trùng; (c) Lọc
dung dịch huyền phù chứa bào tử nấm để lây bệnh cho
cây ghép
14
2.3 Các bước lây bệnh. (a) Rút 10 ml dung dịch huyền phù có
mật số 5.105 bào tử nấm Fusairum oxysporum/ml; (b) (c)
Tưới đều dung dịch vào mỗi gốc cây
14
3.1 Các nghiệm thức dưa leo ghép ở giai đoạn 30 ngày sau
khi lây bệnh. (a) đối chứng không ghép; (b) dưa leo ghép
NN & SHƯD
Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng
NSKGh
Ngày sau khi ghép
NSKG
Ngày sau khi gieo
NSKLB
Ngày sau khi lây bệnh
NSKT
Ngày sau khi trồng
PDA
Potato dextrose agar
x
MỞ ĐẦU
Cây dưa leo là loại cây rau có thời gian sinh trưởng ngắn (khoảng 55-60
ngày), trồng được quanh năm, rất phù hợp với chế độ luân canh trên nền đất lúa
dưa (Cucurbitaceae). Dưa leo có nguồn gốc từ Tây Ấn Độ. Cũng có ý kiến cho
rằng dưa leo có nguồn gốc từ Nam Á và được trồng vào khoảng 3000 năm trước
(Tạ Thu Cúc, 2005). Theo Mai Thị Phương Anh và ctv. (1996) thì nguồn gốc dưa
leo có 2 nhóm: nhóm thứ nhất bắt nguồn từ Việt Nam và tồn tại ở nước ta hàng
nghìn năm nay, nhóm thứ hai bắt nguồn từ Ấn Độ hơn 2000 năm trước.
Giá trị dinh dưỡng: dưa leo chứa lượng dinh dưỡng và năng lượng thấp
nhưng có hàm lượng vitamin và chất khoáng cao nên rất được ưa chuộng ở các
nước có khẩu phần ăn giàu năng lượng (Trần Thị Ba và ctv., 1999). Các thành
phần có trong 100 g trái tươi gồm 95% nước, 16% calo, 3% gluxit, 0,8% protit,
0,7% xenlulose, 23 mg calcium, 27 mg phosphorus, 1 mg sắt, 0,03 mg vitamin
B1, 5 mg vitamin C, 0,04 mg vitamin B2 và 1 g caroten (Trần Khắc Thi và
Nguyễn Công Hoan, 2005). Rễ và lá cũng được sử dụng trị sưng đau, chữa ngộ
độc. Ngoài ra dưa leo là một sản phẩm có thể hỗ trợ giảm cân, là mỹ phẩm từ
thiên nhiên và có khả năng xuất khẩu dưới dạng dưa muối hoặc ngâm giấm
(Dương Quang Diệu, 1984).
1.1.1.2 Đặc điểm thực vật học
* Hệ rễ
Theo Tạ Thu Cúc (2005) do dưa leo có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm
ướt nên hệ rễ ưa ẩm, chịu khô hạn và ngập úng kém, bộ rễ yếu hơn rễ của các cây
bí ngô, dưa hấu và dưa thơm; rễ dưa leo chỉ phân bố ở tầng đất mặt 30-40 cm, có
thể ăn dưới tầng đất 1 m, rễ nhánh và rễ phụ phát triển tùy theo điều kiện đất đai,
kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trần Thị Ba và ctv. (1999). Do bộ rễ cây
dưa leo yếu nên đất trồng cần cày bừa kỹ, nhỏ, tơi xốp, nhặt sạch cỏ dại (Trần
Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005).
* Thân
Theo Trần Thị Ba và ctv. (1999) dưa leo có thân tròn hay góc cạnh, có
lông ít nhiều tùy giống. Theo Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi (1999) chiều
cao thân phụ thuộc chủ yếu vào giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm
sóc. Đường kính gốc thân lớn có thể hút nước và dinh dưỡng mạnh, góp phần gia
tăng năng suất và phẩm chất trái. Đối với những giống trung bình và giống muộn
Dưa leo thuộc nhóm cây ưa nhiệt, thích hợp với điều kiện khí hậu nóng
ẩm, nhiệt độ tối thích cho sự sinh trưởng là 300C vào ban ngày và 18-210C vào
ban đêm (Nguyễn Xuân Giao, 2012). Theo Trần Thị Ba và ctv. (1999) nhiệt độ
cao hơn sẽ làm cây ngừng sinh trưởng và nếu kéo dài nhiệt độ 35-400C cây sẽ
chết, ngược lại, dưa leo chịu nhiệt độ thấp rất yếu kém, nhiệt độ thấp hạt không
nảy mầm, cây con kém phát triển và có thể làm chết héo cây con do rễ cây không
hút được nước từ đất.
3
* Ánh sáng
Cây dưa leo ưa nắng, cường độ ánh sáng mạnh, bị che sẽ rụng hoa trái
nhiều, dễ bị sâu bệnh (Nguyễn Văn Thắng và ctv., 1999). Thời gian chiếu sáng từ
10-12 giờ/ngày, cường độ ánh sáng trong khoảng 15.000-17.000 lux thích hợp
cho sinh trưởng và phát dục của cây (Trần Khắc Thi, 1999).
* Nước và ẩm độ
Trái dưa leo chứa tới 95% nước nên yêu cầu về ẩm độ của cây rất lớn. Mặt
khác, do bộ lá lớn, hệ số thoát nước cao nên cây dưa leo là cây đứng đầu về nhu
cầu nước trong họ bầu bí dưa. Độ ẩm đất thích hợp cho dưa leo là 85-95%, độ ẩm
không khí 90-95%. Theo Trần Thị Ba và ctv. (1999) dưa leo chịu hạn rất yếu,
thiếu nước cây sinh trưởng kém và tích lũy lượng cucurbitaxina là chất gây đắng
trong trái.
* Đất và dinh dưỡng
Do bộ rễ kém phát triển, sức hấp thụ của rễ lại yếu nên dưa leo yêu cầu
nghiêm khắc về đất trồng hơn các cây khác trong họ bầu bí dưa. Dưa leo thích
đất đai màu mỡ, giàu chất hữu cơ, tơi xốp, độ pH từ 5,5-6,8 và tốt nhất là 6-6,5.
Dưa leo trồng trên đất thịt nhẹ, đất pha cát thường cho năng suất cao, chất lượng
quả tốt.
1.1.2 Gốc ghép bầu
dinh dưỡng, nhu cầu đạm, lân, kali nói chung đều cao.
Nhiều nông dân trồng mướp ở ĐBSCL đều nhận xét cây mướp có khả năng
chịu úng (khi trồng trên nền đất lúa trong mùa mưa) tốt hơn gốc bầu bí. Vì vậy,
gốc mướp có nhiều triển vọng để sử dụng làm gốc ghép (Nguyễn Mạnh Chinh và
Phạm Anh Cường, 2007)
1.1.4 Gốc ghép bí đỏ
Bí đỏ (Cucurbita pepo) còn gọi là bí ngô, bí rợ, thuộc họ bầu bí dưa
(Cucurbitaceae). Bí đỏ là cây thân thảo, sống hàng năm. Thân bò hoặc leo, dài 45 m, có nhiều tua cuốn, phân nhánh mạnh. Các đốt thân có khả năng ra rễ bất
định. Hệ thống rễ phát triển mạnh, rễ chính ăn sâu và rễ phụ lan rộng nên khả
năng chịu hạn tốt (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996).
Bí đỏ có thể trồng quanh năm, tuy nhiên vào mùa mưa cây dễ bị bệnh, thối
hoa và rụng. Thời vụ gieo hạt thích hợp là tháng 11-1 năm sau, thu hoạch tháng
1-3. Cũng có thể gieo tháng 5-6, thu tháng 8-9 (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm
Anh Cường, 2007). Một trái bí đỏ cho rất nhiều hạt, hạt dễ nảy mầm nên khả
năng nhân giống cao. Người ta thường lấy hạt của những trái chín già, rửa sạch
rồi phơi khô và bảo quản đến khi gieo (Đỗ Huy Bích, 2004).
1.1.5 Gốc ghép bình bát dây
Bình bát dây (Coccinia cordifolia (L.) Cogn.) thuộc họ bí
(Cucurbitaceae), tên khác là rau mảnh bát, hoa bát, dây mảnh bát, dưa dại,..
Bình bát dây có dạng dây leo đa niên, cây sinh trưởng nhanh và có thể dài
đến vài mét (Csurhes Steve, 2008). Lá mọc xen kẽ trên thân. Hoa lớn, màu trắng
có hình ngôi sao. Trái có màu đỏ, hình trứng hoặc elip, dài 25-60 mm, đường
kính từ 15-35 mm, cuống trái dài từ 10-40 mm, không có lông. Khi chín có màu
5
đỏ và chứa nhiều hạt, hạt màu vàng nâu từ 6-7 mm. Hạt không có miên trạng và
thường nảy mầm trong vòng 2-4 tuần ở 200C.
Theo Võ Văn Chi (2005), lá non và trái của bình bát dây dùng làm rau ăn,
- Cấy mẫu cấy lên môi trường phân lập WA (water agar), mỗi tảng nấm sẽ
được phát triển từ một mẫu cấy sau 2-3 ngày.
6
- Chọn một tảng nấm phát triển tốt để nuôi cấy trong môi trường PDA
(Potato dextrose agar) tạo dòng thuần và làm nguồn bệnh chủng cho thí nghiệm.
- Nuôi dòng thuần và nhân mật số nấm bệnh trong môi trương PDA. Sau
6-7 ngày thì tiến hành tách bào tử nấm trong nước cất thanh trùng để tạo dung
dịch huyền phù chứa bào tử nấm bệnh, sau đó đếm mật số bào tử dưới kính hiển
vi và tiến hành chủng bệnh.
1.2.3 Phòng trừ bệnh do nấm
Theo Burgess et al. (2009), bệnh héo do nấm Fusarium rất khó phòng trị do
hậu bào tử tồn tại qua thời gian dài trong đất. Thu gom và thiêu huỷ xác bã thực
vật trên đồng ruộng sau khi thu hoạch để hạn chế sự lưu tồn của nấm bệnh, khử
hạt giống trước khi gieo (Trần Văn Hai, 2005).
Luân canh các cây trồng có khả năng kháng bệnh ít nhất 2 năm trước khi
trồng lại các cây trồng mẫn cảm có thể giúp làm giảm nguồn bệnh (Vũ Triệu
Mẫn và Lê Lương Tề, 1998). Sử dụng gốc ghép là một trong những kỹ thuật canh
tác phổ biến hiện nay, thông qua việc sử dụng khả năng chống chịu tốt của gốc
ghép để bảo vệ cây trồng trước những điều kiện bất lợi của môi trường trong đó
có bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum (Miguel, 2002). Kỹ thuật sử dụng
gốc ghép đã được áp dụng thành công và mang lại hiệu quả cao trong việc kháng
một số mầm bệnh trong đất trên các loại rau ăn trái (Trần Thị Ba, 2010).
1.3 Cơ sở khoa học của việc ghép cây
1.3.1 Khái niệm về ghép cây
Theo Lâm Ngọc Phương và Lê Minh Lý (2012) ghép cây là sự kết hợp một
bộ phận của cây này với với một bộ phận của cây khác, tạo thành một tổ hợp
ghép, cùng sinh trưởng và phát triển như là một cây thống nhất để tạo nên một
tuổi thọ ngắn.
Theo Lâm Ngọc Phương (2006) thì gốc ghép và ngọn ghép có thể ảnh
hưởng với nhau theo nhiều cách, gốc ghép ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của
thân ghép, sự ra hoa kết trái của các cây ghép, khả năng chống chịu trước những
điều kiện bất lợi của môi trường (hạn hán, ngập úng, bệnh hại trong đất). Ngược
lại ngọn ghép cũng ảnh hưởng đến gốc ghép, ngọn ghép cung cấp dinh dưỡng
cho sự phát triển của bộ rễ của gốc ghép. Vì vậy mức độ sinh trưởng của ngọn
ghép có mối tương quan thuận đến sự phát triển của bộ rễ gốc ghép. Tuy nhiên
ảnh hưởng của ngọn ghép đến gốc ghép ít được thể hiện rõ rệt. Cây ghép có
đường kính gốc lớn hơn, hệ thống rễ lớn hơn sẽ cho năng suất cao hơn so với các
cây không ghép (Nina Kacjan Marsic and Marijana Jakse, 2010).
1.3.4 Yêu cầu của giống làm gốc ghép
Theo Trần Thế Tục (1998) mỗi giống làm gốc ghép tốt phải có khả năng
thích nghi rộng với điều kiện địa phương; chống chịu với những điều kiện ngoại
cảnh bất lợi của môi trường, sâu bệnh hại nhất là đối với những bệnh virus, vi
khuẩn; giống phải sinh trưởng nhanh, dễ gây giống, ít mọc mầm phụ ở gốc cây
con và gốc ghép phải có khả năng tiếp hợp tốt với ngọn ghép.
8
1.3.5 Ưu điểm và hạn chế của việc ghép cây
1.3.5.1 Ưu điểm
Theo Trần Thị Ba và ctv. (1999) trồng cây ghép sẽ ít bị bệnh héo rũ, đối
với cây dưa có thể trồng liên tục nhiều năm trên một nền đất, sử dụng gốc ghép
bầu có thể chống chịu được với tuyến trùng. Ghép dưa leo là biện pháp hữu hiệu
và kinh tế nhất để có thể trồng dưa liên tục mỗi năm mà cây con không bị chết
héo do nấm Fusarium tấn công (Phạm Hồng Cúc, 2002). Theo Marsic and
Osvald (2004) trường hợp trồng dưa leo trong nhà kính, cây ghép cho số trái trên
cây nhiều hơn so với cây không ghép.
Theo kết quả thí nghiệm của Lê Văn Mắc (2007) khi nghiên cứu về khả
năng kháng bệnh héo rũ trên dưa hấu do nấm Fusarium oxysporum cũng cho
thấy: dưa hấu ghép trên các loại gốc ghép bầu Nhật, bầu địa phương, bí đỏ Nhật
có tỷ lệ nhiễm bệnh (2,78-5,56%) ít hơn so với nghiệm thức đối chứng-không
ghép (25%).
Trần Thị Hồng Thơi (2007) khi nghiên cứu về khả năng chống chịu của
một số loại gốc ghép đối với bệnh héo rũ dưa hấu do nấm Fusarium oxysporum
gây ra. Kết quả thí nghiệm cho thấy ở giai đoạn 49 NSKT (35 NSKLB), tỷ lệ cây
bệnh nhiều nhất là đối chứng (dưa hấu không ghép) 30,6% có khác biệt qua phân
tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với các nghiệm thức có sử dụng gốc ghép:
bầu Nhật 1 (5,6%), bầu Nhật 2 (5,6%), bầu Nhật 3 (5,6%), bầu địa phương
(5,6%), bí đỏ Nhật (0,0%), bí đỏ địa phương (13,0%).
Kết quả nghiên cứu của Heidari et al. (2011) khi thực hiện đề tài "Ảnh
hưởng của của 5 loại gốc ghép họ dưa bầu bí đến tỷ lệ sống, năng suất và chất
lượng dưa leo trong nhà kính" cho thấy: tỷ lệ sống sau khi ghép của 5 loại gốc
ghép khác nhau (Azman, Ferro, RS841, C. maxima and C. moschata) có khác
biệt ý nghĩa thống kê, tỷ lệ sống đạt cao nhất ở nghiệm thức ghép gốc C.
maxima. Năng suất ở các nghiệm thức có sử dụng gốc ghép đều tương đương
hoặc cao hơn so với nghiệm thức đối chứng-không ghép. Nghiệm thức dưa leo
ghép trên gốc RS841 và C. moschata cho năng suất là cao nhất khác biệt thống
kê so với đối chứng-không ghép.
10
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: nhà lưới nghiên cứu rau sạch Khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng, Đại học Cần Thơ
2.2.2 Tiến hành thí nghiệm
2.2.2.1. Chuẩn bị cây con ghép
* Gốc ghép
Hạt bình bát dây: được ngâm bằng nước ấm trong 4 giờ, ủ đến khi hạt nảy
mầm (3-4 ngày sau khi ngâm hạt) sau đó đem trồng vào ly (gồm đất, tro trấu và
phân dơi). Tiến hành ghép khi cây được 30 NSKG.
Hạt giống, bầu địa phương, bầu Nhật, bí đỏ, mướp: được ngâm 2 giờ trong
nước ấm (45oC-50oC) và được ủ ấm trong khăn bàn lông 2 ngày, hạt bầu nhú
mầm thì gieo vào ly nhựa đã chuẩn bị sẵn đặt nơi có nhiều ánh nắng để cây con
lên đều và khỏe mạnh. Bầu, bí ghép 9 NSKG; mướp 15 NSKG.
* Ngọn ghép: dùng cát sạch rải lên rổ nhựa một lớp dầy khoảng 3 cm (sao
cho mặt cát bằng phẳng), phun nước cho đủ ẩm. Sau đó rải đều hột dưa leo đã
ngâm ủ lên bề mặt cát và dùng cát lấp lên hột dưa leo một lớp khoảng 1 cm. Bắt
đầu ghép khi cây dưa vừa rơi vỏ hạt (4 ngày sau khi ngâm ủ hạt).
* Kỹ thuật ghép
Gốc bầu địa phương, bầu Nhật và bí đỏ dùng phương pháp ghép ghim theo
Trần Thị Ba (2010).
- Loại bỏ lá thật (lá nhám) đầu tiên của cây bầu bằng lưỡi lam chỉ chừa hai
lá mầm.
- Dùng que ghim ghim vào đỉnh cây bầu ở vị trí gần lá mầm, xéo gốc
khoảng 30o-40o xuyên qua đỉnh cây bầu, giữ que ghim tại đỉnh.
- Dùng lưỡi lam cắt bỏ phần gốc thân dưa leo một góc 30o-40o sát dưới lá
mầm.
- Rút que ghim trên đỉnh bầu, đặt ngay ngọn dưa leo lên gốc ghép sao cho
mặt cắt áp sát vào thân và hai tử diệp của ngọn dưa leo vuông gốc với hai lá mầm
của gốc ghép, thao tác tương tự cho loại gốc ghép bí đỏ.
Bình bát dây và gốc mướp: dùng phương pháp ghép nối ống cao su theo
Trần Thị Ba (2010).
NSKG; (b) cây dưa leo ở 7 NSKG; (c) gốc bầu ở 9
NSKG; (d) gốc mướp ở 15 NSKG; (e) gốc bí đỏ ở 9
NSKG;
(f) bệnh
gốc bình bát dây ở 30 NSKG.
2.2.2.3 Chuẩn
bị mầm
Phân lập mầm bệnh theo quy trình của Burgess et al. (2009).
- Chọn mẫu thân cây bệnh dài 4 cm, cách mặt đất ít nhất 20 cm.
- Rửa thân cây trong nước sạch và khử trùng bề mặt bằng cồn 700 trong 1
phút.
- Để khô trên giấy thấm đã khử trùng.
- Dùng dụng cụ vô trùng cắt ngang thân thành từng mẫu cấy dày khoảng
1-2 mm.
- Cấy mẫu cấy lên môi trường phân lập WA (water agar), mỗi tảng nấm sẽ
được phát triển từ một mẫu cấy sau 2-3 ngày.
- Chọn một tảng nấm phát triển tốt để nuôi cấy trong môi trường PDA
(Potato dextrose agar) tạo dòng thuần và làm nguồn bệnh chủng cho thí nghiệm.
- Nuôi dòng thuần và nhân mật số nấm bệnh trong môi trương PDA. Sau
6-7 ngày thì tiến hành tách bào tử nấm trong nước cất thanh trùng để tạo dung
13