PHẦN 1: HC VÀ HCNN:
Vấn đề 1: Quan niệm về HCNN:
Câu 1: Anh (chị) hãy chứng minh QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt?
- Quản lý là: Là hoạt động nhằm tác động 1 cách có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đ/chỉnh qúa trình xhội và hành vi con người để đạt
được mục tiêu đã đặt ra.
- Quản lý nhà nước: QLNN xuất hiện của với sự ra đời của Nhà nước, đó là quản lý toàn
xã hội. Nội hàm của QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử và đặc điểm
văn hoá, trình độ phát triển KT-XH của mỗi một quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. Xét về
mặt chức năng, QLNN bao gồm 3 chức năng: chức năng LP (hay chấp hành và điều hành)
do các cơ quan LP thực hiện; chức năng HP do các cơ quan HP thực hiện và chức năng TP
do các cơ quan TP thực hiện.
- Trong hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham gia QLXH như NN, tổ chức ct, tổ chức ctxh, tổ chức kinh tế, các hiệp hội… Tuy nhiên, nếu so với các tổ chức khác thì hoạt động
QLNN có những sự khác biệt thể hiện ở 5 điểm cơ bản sau:
+ Chủ thể QLNN là CB,CC và các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Trong đó:
Cán bộ trong BMNN: là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm
giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức trong BMNN: là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp
huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc QĐND mà ko phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghịêp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc CAND mà ko phải là sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên nghịêp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công
lập, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đ/v công chức trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan trong BMNN gồm: Các cơ quan lập pháp (QH và cctc của QH); Các
cơ quan tư pháp (TAND và cctc của TAND; VKSND và cctc của VKSND) và các cơ quan
hành pháp (hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước và HĐND các cấp).
+ Đối tượng QLNN là toàn dân, bao gồm tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và
thứ bậc chặt chẽ. Tổ chức nói ở đây là tổ chức hành chính nhà nước, là sự thiết lập các mối
quan hệ xã hội giữa con người, giữa các tập thể để thực hiện quản lý hành chính nhà nước.
Trong quản lý hành chính nhà nước, chức năng tổ chức là quan trọng nhất, vì không có tổ
chức thì không thể quản lý được. Nhà nước phải tổ chức như thế nào để hàng triệu con
người của đất nước, mỗi người đều có vị trí tích cực đ/v xã hội, đóng góp phần mình tạo ra
lợi ích cho xã hội.
Điều chỉnh là sự quy định về mặt pháp lý thể hiện bằng các quyết định quản lý về
quy tắc, tiêu chuẩn, biện pháp… nhằm tạo sự phù hợp giữa chủ thể và khách thể quản lý,
tạo sự cân bằng, cân đối các mặt hoạt động và hành vi hoạt động của con người.
Bên cạnh đó, HCNN được sử dụng quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước mang
tính mệnh lệnh đơn phương và tính tổ chức cao. Ngoài ra, HCNN sử dụng pháp luật làm
công cụ quản lý chủ yếu (được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp,
Luật và Bộ Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Quyết định), Pháp luật phải được chấp
hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không cho phép bất cứ ai
dựa vào quyền để làm trái pháp luật, phải nghiêm trị mọi sự vi phạm pháp luật.
Thứ ba, QLHCNN do các chủ thể QLHCNN tiến hành. Các chủ thể này bao gồm: hệ thống
các cơ quan HCNN, CB, CC trong các cơ quan HCNN và các cá nhân, tổ chức được nhà
nước trao quyền.
+ Hệ thống các cơ quan HCNN theo sơ đồ sau đây:
Chính phủ
UBND cấp tỉnh
UBND cấp huyện
Các Bộ,
cơ quan ngang Bộ
thống chính trị, là công cụ để thực hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp
đối kháng và thực hiện ý chí của nhân dân trong xã hội dân chủ dưới sự lãnh đạo của đảng
cầm quyền. Vì vậy, HCNN mang bản chất chính trị, là hoạt động thực thi nhiệm vụ chính
trị, phải phục tùng và phục vụ chính trị. Ở Việt Nam, HCNN phải chấp hành các quyết
định của các cơ quan quyền lực nhà nước, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN.
Tuy nhiên HCNN cũng có tính độc lập tương đối nhất định, thể hiện ở tính chuyên
môn, kỹ thuật; CBCC HCNN vận dụng hệ thống tri thức khoa học vào việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình như: quản trị học, khoa học quản trị nhân sự, kinh tế học, luật
học, chính trị học, tâm lý học, xã hội học, …
Thứ hai, Tính pháp quyền: Trong một xã hội dân chủ, để bảo vệ quyền tự do, dân
chủ của người dân, cần phải xây dựng một NN pháp quyền hay còn gọi là một nền pháp
trị. Trong nhà nước pháp quyền thì hệ thống pháp luật là tối cao, mọi chủ thể xã hội đều
phải hoạt động trên cơ sở pháp luật và tuân thủ pháp luật. Với tư cách là chủ thể quản lý xã
hội, HCNN càng phải hoạt động trên cơ sở pháp luật và có trách nhiệm thi hành pháp luật.
Tính pháp quyền đòi hỏi các chủ thể HCNN sử dụng đúng đắn quyền lực, thực hiện
đúng chức năng và quyền hạn được trao khi thi hành công vụ. Đồng thời, luôn chú trọng
đến việc nâng cao uy tín chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ. Phải kết hợp chặt
chẽ yếu tố thẩm quyền và uy quyền để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của một nền hành chính
phục vụ nhân dân.
Thứ ba, Tính liên tục, ổn định tương đối và thích ứng: Nền HCNN có nghĩa vụ
phục vụ dân, lấy phục vụ công vụ và nhân dân là công việc hàng ngày, thường xuyên cho
nên HCNN phải bảo đảm tính liên tục để thoả mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân, của
xã hội và phải ổn định tương đối trong tổ chức và hoạt động để bảo đảm hoạt động không
bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống chính trị- xã hội nào. Đồng thời cũng cần được thay
đổi để thích ứng với sự thay đổi của môi trường, của xã hội.
Thứ tư, Tính chuyên nghịêp: HCNN có tính chuyên môn hoá và nghề nghịêp cao.
HCNN không chỉ được coi là một nghề mà còn được coi là một nghề tổng hợp, phức tạp
nhất trong các nghề. Nhà hành chính không chỉ có chuyên môn sâu mà còn phải có kiến
số đơn vị, địa phương triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông chất lượng chưa tốt,
thời gian giải quyết hồ sơ có lúc, có nơi còn kéo dài, gây phiền hà bức xúc cho người dân;
+ Bốn là, việc phối hợp hoạt động giữa các CQHCNN còn thiếu đồng bộ và chưa
chặt chẽ. Chẳng hạn: Ngành BHXH là cơ quan thực hiện chức năng thu, giải quyết chế độ
chính sách đối với người lao động, trong khi đó, ngành lđ-tb&xh là CQ QLNN về việc
đăng ký thang, bảng lương, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể, thanh kiểm tra về
lao động, sử dụng lao động... của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động.
Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp giữa cơ quan BHXH và ngành LĐTB&XH ở nhiều
tỉnh, thành phố còn chưa chặt chẽ. Chính vì vậy, trên thực tế, nhiều DN, cá nhân có sử
dụng lao động, nhất là các DN FDI, tìm cách trốn tránh việc nộp BHXH cho NLĐ, nhiều
NLĐ ko được DN đóng BHXH, làm thất thu NSNN cũng như thiệt hại đến quyền lợi của
NLĐ.
+ Năm là, Pháp luật vẫn còn nhiều kẽ hở tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tìm
cách “lách luật”: (chẳng hạn: nhiều năm qua, các doanh nghiệp FDI sử dụng thủ đoạn
chuyển giá nhằm chuyển phần lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài, tạo khoản lỗ giả đ/v
công ty con ở Việt Nam, dẫn đến tình trạng các công ty này thường xuyên báo cáo lỗ trong
khi vẫn mở rộng hoạt động đầu tư, kinh doanh. Điều này đã làm thất thoát đáng kể nguồn
thu thuế cho ngân sách nhà nước).
Thứ hai, Đặc trưng về tính chuyên nghịêp:
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong 10 năm qua đã đảm bảo số
lượng cần thiết đồng thời nâng cao đáng kể chất lượng, đáp ứng yêu cầu của quản lý nhà
nước với nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Có thể thấy cải
cách vừa qua đã tập trung vào xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và
kỹ năng hành chính đáp ứng vai trò mới của Nhà nước.
Tuy nhiên, đội ngũ CBCC còn nhiều mặt hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu đổi
mới, phát triển đất nước:
+ Một là, trình độ và năng lực của đội ngũ CBCC chưa ngang tầm với yêu cầu,
nhiệm vụ: Một bộ phận không nhỏ công chức được đào tạo và trưởng thành trong cơ chế
một đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam- lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
ĐCSVN là Đảng cầm quyền, giữ vai trò lãnh đạo toàn dân, toàn diện bao gồm chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, AN-QP, ngoại giao.
Sự lãnh đạo của Đảng đ/v HCNN được thể hiện trên 4 nội dung sau:
• Đảng đề ra đường lối, chủ trương định hướng cho quá trình tổ chức và
hoạt động của HCNN.
• Đảng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những người có phẩm chất, năng lực
và giới thiệu vào đảm nhận các chức vụ trong BMNN thông qua con
đường bầu cử dân chủ.
• Đảng kiểm tra hoạt động của các CQNN trong việc thực hiện đường lối,
chủ trương của Đảng.
• Các cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng gương mẫu trong việc thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong tổ chức và hoạt động QLNN nói chung và HCNN nói
riêng, phải thừa nhận và chịu sự lãnh đạo của Đảng. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng,
HCNN có trách nhiệm đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào thực tiễn đời sống xã hội
và đảm bảo sự kiểm tra của tổ chức Đảng đ/v HCNN.
Đánh giá:
* Được: Đảm bảo sự thống nhất, ổn định nhất định trong quản lý ở tất cả các mặt,
các lĩnh vực, các hoạt động.
* Chưa được: Can thiệp quá sâu vào hoạt động của cơ quan nhà nước. Trong cuốn
sách “cải cách nền hành chính VN: thực trạng và giải pháp”- một tài liệu nghiên cứu quan
trọng mà Chương trình Phát triển LHP UNDP vừa công bố, các tác giả Martin Painter, Hà
Hoàng Hợp và Chu Quang Khởi đã chỉ ra rằng: “Trên thực tế, sự can thịêp của Đảng đã
lan toả vào mọi công việc quản lý hàng ngày của nhà nước”. Họ đưa ra nhận định rằng:
“Cán bộ đảng từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở vừa đưa ra các chỉ thị về chính sách tổng thể
để từng nhánh của NN tuân theo, vừa thường xuyên can thiệp trực tiếp vào công tác quản
lý và ra quyết định của các CQNN này”.
• Tổ chức Bộ máy HCNN và Cơ quan HCNN theo hệ thống thứ bậc.
• Thống nhất chủ trương, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch ptriển
• Thống nhất các quy chế quản lý
• Thực hiện chế độ một Thủ trưởng hoặc trách nhiệm cá nhân người đứng
đầu ở tất cả các cấp, các đơn vị.
Dân chủ trong HCNN là sự phát huy trí tuệ của các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị và
các cá nhân tổ chức và hoạt động hành chính. Tính dân chủ được thể hiện cụ thể ở: (1) cấp
dưới được tham gia thảo luận, góp ý kiến về những vấn đề trong quản lý; (2) cấp dưới được
chủ động, linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trước cấp
trên về việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
Hai nội dung tập trung và dân chủ có liên quan hữu cơ với nhau, tác động bổ trợ cho
nhau: Tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ trong khuôn khổ tập trung. Thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ ở bất kỳ cấp nào cũng đòi hỏi sự kết hợp hài hoà hai nội dung đó để tạo
ra sự nhất trí giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, giữa người chỉ huy và người thừa hành.
Đánh giá:
* Được:
Bộ máy HCNN và hệ thống các CQNN được tổ chức chặt chẽ, theo hệ thống thứ
bậc; các chủ trương, chính sách, chiến lược, kế hoạch, quy chế quản lý … thống nhất với
nhau; chế độ một thủ trưởng hoặc trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu được thực hiện
ở tất cả các cấp, các đơn vị.
Trong thực hiện nhiệm vụ, cấp dưới được trao quyền chủ động, linh hoạt cũng như
thường xuyên được lấy ý kiến đóng góp, thảo luận.
* Chưa được:
Bộ máy HCNN và hệ thống các CQNN được tổ chức chặt chẽ, theo hệ thống thứ
bậc nhưng vẫn còn sự chồng chéo trong quản lý nhà nước ở một số cơ quan, ngành.
Trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan, người đứng đầu các tổ chức trên thực tế vẫn
chưa được thực hiện một cách triệt để, nhất là khi xảy ra sai phạm.
Vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức trong việc trao quyền cho cấp dưới, lấy ý kiến
* Chưa được: Còn nhiều chồng chéo.
+ Năm là, Nguyên tắc phân định giữa QLNN về kinh tế và QL KD của DNNN:
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các DNNN được trao quyền tự chủ kinh
doanh theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN có sự quản lý của NN. Nên vai trò chủ
yếu của NN là định hướng, dẫn dắt, hỗ trợ và điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp,
không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của DNNN như trước đây. Vì vậy, cần phải
phân định và kết hợp tốt chức năng QLNN về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh
của DNNN.
Nguyên tắc này đòi hỏi các CQHCNN không can thiệp vào nghiệp vụ kinh doanh,
phải tôn trọng tính độc lập và tự chủ của các đơn vị kinh doanh. Còn các đơn vị kinh
doanh trong việc thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, chấp nhận cạnh tranh, mở cửa, … phải tuân theo
pháp luật và chịu sự điều chỉnh bằng pháp luật của các CQHCNN.
Tuy cần phân biệt giữa QLNN về kinh tế và quản lý kinh doanh song cũng cần thấy
hai mặt đó không tách rời nhau một cách máy móc, mà kết hợp với nhau, thống nhất với
nhau trong hệ thống kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước XHCN.
Đánh giá:
* Được:
* Chưa được:
+ Sáu là, Nguyên tắc pháp chế XHCN:
Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức và hoạt động HCNN phải dựa trên cơ sở pháp luật
của Nhà nước. Nguyên tắc này không cho phép các CQNN thực hiện QLNN một cách chủ
quan, tuỳ tiện mà phải dựa vào pháp luật, làm đúng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành
nguyên tắc pháp chế, cụ thể:
* Được:
* Chưa được:
PHẦN II: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NỀN HCNN:
Vấn đề 4*: Các yếu tố cấu thành nền HCNN và mối quan hệ giữa các yếu tố đó:
Câu 5: Nền HCNN được cấu thành bởi những yếu tố nào. Phân tích mối quan hệ giữa
các yếu tố đó. Trong các yếu tố đó, yếu tố nào anh (chị) cho là quan trọng nhất?
- Nền HCNN là một khái niệm dùng để chỉ tập hợp các yếu tố: Hệ thống thể chế
HCNN, hệ thống các CQHCNN, đội ngũ nhân sự làm việc trong các CQHCNN và các
nguồn lực vật chất cần thiết bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ QLHCNN của các
CQNN. Các yếu tố này chính là các yếu tố cấu thành nền HCNN.
a. Thể chế HCNN:
-Khái niệm: Theo nghĩa rộng, TC HCNN bao gồm trong đó cả hệ thống các CQNN
và cơ chế hoạt động của các cơ quan đó. Theo nghĩa hẹp, TC HCNN là toàn bộ các quy
định, quy tắc do nhà nước ban hành để điều chỉnh các hoạt động QLHCNN, tạo nên hành
lang pháp lý cho tất cả các hoạt động của các CQNN và các CBCC có thẩm quyền. Ở đây,
chúng ta hiểu TC HCNN theo nghĩa hẹp này.
- Các yếu tố cấu thành: TCHCNN bao gồm: (1) Thể chế quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và CCTC của BM HCNN (Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức HĐND,
UBND; các Nghị định quy định cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, CQ
ngang Bộ …); (2) Thể chế quy định chế độ công vụ công chức (Luật Cán bộ, Công chức
năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định, Thông tư); (3) Thể chế để QL
HCNN trên các lĩnh vực (Luật Giáo dục, Luật Báo chí, …); (4) Thể chế quy định mối
quan.hệ giữa CQHCNN với cá nhân, tổ chức (thủ tục hành chính) và (5) Thể chế quy định
về chế độ tài phán hành chính (Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành).
- Vai trò của TC HCNN: TC HCNN có vai trò quan trọng trong sự hình thành và
phát triển hệ thống HCNN: Là căn cứ để xác lập mức độ và phạm vi can thịêp của NN đ/v
hoạt động của các đối tượng trong XH; là căn cứ để thiết lập nên tổ chức BM HCNN (xác
+ CQHCNN ở địa phương có nhiệm vụ thực hiện chức năng QLHCNN trên phạm
vi một địa bàn hành chính nhất định. Tuỳ thuộc vào lịch sử hình thành quốc gia và quan
điểm về mối quan hệ giữa trung ương và địa phương mà mỗi quốc gia có cách thức tổ chức
chính quyền địa phương không giống nhau. Ở nước ta, CQHCNN ở địa phương gồm ba
cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
**Căn cứ vào tính chất thẩm quyền, CQHCNN được chia thành: CQHCNN thẩm
quyền chung và CQHCNN thẩm quyền riêng.
+ CQHCNN thẩm quyền chung là những CQHCNN quản lý tổng hợp tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội trên phạm vi toàn quốc hay một địa bàn hành chính nhất định.
Những cơ quan này hoạt động theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số. Ở nước ta,
CQHCNN thẩm quyền chung gồm: CP và UBND các cấp.
+ CQHCNN thẩm quyền riêng là những CQHCNN quản lý trong từng lĩnh vực (hay
một số lĩnh vực nhất định) trên phạm vi toàn quốc hay từng địa bàn hành chính. Những cơ
quan này hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Ở nước ta, CQHCNN thẩm quyền riêng gồm:
Các Bộ, CQ ngang Bộ, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp
huyện …
- Vai trò của hệ thống CQHCNN: Hệ thống các CQHCNN là bộ phận ko thể tách
rời của nền HCNN, giữa vai trò quan trọng, là điều kiện thiết yếu để tiến hành các hoạt
động hành chính công. Tất cả các chức năng, nhiệm vụ của NN được thực hiện qua
BMHCNN. Mỗi cơ quan trong hệ thống này lại có những nhiệm vụ riêng biệt, một thẩm
quyền nhất định được pháp luật xác định cụ thể. Việc thiết kế BMHC gọn nhẹ, ít tầng nấc,
rõ ràng, minh bạch sẽ làm cho hoạt động HCNN diễn ra linh hoạt, đầy đủ, tránh tính trạng
chồng chéo cũng như bỏ sót nhiệm vụ giữa các CQNN.
+ Yếu tố thứ ba: Nhân sự HCNN:
- K/n: Để vận hành BMHC, thực hiện các hoạt động công vụ, cần có những con
người làm việc. Đội ngũ nhân sự làm việc trong BMHC là nguồn lực ko thể thiếu để tiến
hành các hoạt động HCNN. Hiểu theo nghĩa rộng nhất, đội ngũ nhân sự là việc trong
BMHCNN là tất cả những NLĐ làm việc để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
sách nhà nước. Công chức trong BMNN: là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc QĐND mà ko phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghịêp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc CAND mà ko phải là
sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghịêp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đ/v công chức trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương
của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Đội ngũ nhân sự HCNN có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm hiệu lực và hiệu
quả của hoạt động công vụ. Chỉ có thông qua những hoạt động cụ thể của đội ngũ nhân sự
HCNN thì hệ thống pháp luật mới được đưa vào quản lý xã hội. Chính vì vậy, xây dựng
đội ngũ CB, CC có đủ năng lực và phẩm chất để phục vụ cho BMNN nói chung và BM
HCNN nói riêng là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình CCHC ở nước ta.
+ Yếu tố thứ tư: Các nguồn lực vật chất cần thiết để đảm bảo cho việc thực
hiện nhiệm vụ QLHCNN của các CQNN:
- K/n: Nguồn lực vật chất cho các hoạt động hành chính công là tất cả những trang
thiết bị vật chất gồm: công sở, trang thiết bị làm việc và các nguồn tài chính công khác cần
thiết để tiến hành hoạt động QLHCNN. Trong đó:
+ Công sở của CQHCNN là trụ sở làm việc của CQHCNN, có tên gọi riêng, có
địa chỉ cụ thể;
+ Trang thiết bị làm việc gồm những p/tiện, trang thiết bị cần thiết (ví dụ máy vi
tính, bàn ghế làm việc, …;
+ Tài chính công là các hoạt động thu và chi bằng tiền của NN, phản ánh các
mqh kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của
NN nhằm thực hiện các chức năng vốn có của NN đ/v XH.
Tài chính công có các đặc điểm cơ bản là (5): TCC Được sử dụng ko vì mục tiêu lợi
nhuận mà chủ yếu là phục vụ cộng đồng; TCC phục vụ mục đích chính trị của NN; TCC
tạo lập môi trường bình đẳng của mọi công dân trong việc hưởng thụ các dịch vụ công do
sự tác động ấy ở mức độ ntn lại phụ thuộc vào tính khoa học, hợp lý của thể chế HCNN.
Thể chế HCNN càng khoa học, hợp lý thì nền HCNN vận hành càng hiệu quả.
Thực tế quá trình CCHC ở VN cũng cho thấy, công cuộc CCHC gắn liền với việc
CC 4 yếu tố cấu thành nền HCNN, trong đó, CCTTHC- một bộ phận cấu thành Thể chế
HCNN- được xác định là khâu đột phá của toàn bộ quá trình CCHC và CP đã ban hành đề
án 30 năm 2007 để chỉ đoạ quyết liệt công tác này. Điều đó cho thấy, CCTTHC nói riêng
va CC Thể chế nói chung/.
Vấn đề 5: Khái niệm thể chế và thể chế HCNN:
Câu 6: Anh (chị) cho biết các yếu tố cấu thành thể chế HCNN?
- Khái niệm thể chế và thể chế HCNN:
Thể chế là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến hiện nay nhưng với các cách
hiểu rất khác nhau, chưa có sự thống nhất.
Hiểu theo nghĩa rộng: Thể chế là một cấu trúc tổng thể các yếu tố để tiến hành hoạt
động của một tổ chức bao gồm cả tổ chức bộ máy với những quy định cụ thể về nhiệm vụ,
quyền hạn, quy tắc hoạt động buộc các thành viên trong tổ chức đó phải chấp hành, thậm
chí quy định cả hoạt động của các thành viên trong tổ chức đó. Khi hiểu như vậy, TC
HCNN bao gồm trong đó cả hệ thống các CQNN và cơ chế hoạt động của các cơ quan đó.
Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, thể chế chỉ bao gồm hệ thống các quy định, chế tài tạo
nên hành lang pháp lý cho hoạt động của một tổ chức nào đó. Ở đây, chúng ta hiểu TC
HCNN theo nghĩa hẹp này. Theo đó, hệ thống TC HCNN là toàn bộ các quy định, quy tắc
do nhà nước ban hành để điều chỉnh các hoạt động QLHCNN, tạo nên hành lang pháp lý
cho tất cả các hoạt động của các CQNN và các CBCC có thẩm quyền.
- Các yếu tố cấu thành thể chế HCNN: TCHCNN bao gồm:
(1) Thể chế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và CCTC của BM HCNN (Luật Tổ
chức Chính phủ; Luật Tổ chức HĐND, UBND; các Nghị định quy định cơ cấu, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, CQ ngang Bộ …);
(2) Thể chế quy định chế độ công vụ công chức (Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 và
+ Các quy định, quy tắc do NN ban hành bao gồm Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và
các văn bản dưới luật. Ví dụ: Hiến pháp nước CHXHCN VN năm 1992; Luật Giáo dục
năm 2005, Nghị định 75/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Giáo dục; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2008, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2008…
+ Các quy định, quy tắc này tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả các hoạt động của
các cơ quan nhà nước cũng như CBCC có thẩm quyền. Đ/v các cơ quan HCNN: quy định
vấn đề thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan đó
(Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức HĐND và UBND, …), quy định hoạt động quản
lý nhà nước đối với tất cả các ngành, lĩnh vực cụ thể (Luật Giáo dục, Luật Thuế thu nhập
cá nhân, Luật Đấu thầu, Luật Thi đua- Khen thưởng …) Đối với CBCC: quy định việc
tuyển dụng, sử dụng, quy định quyền và nghĩa vụ, … (Luật Cán bộ, công chức …)
Vấn đề 6: Vai trò của thể chế HCNN:
Câu 8: Anh (chị) hãy phân tích vai trò của Thể chế HCNN. Theo anh (chị) để làm tốt
những vai trò đó, cần quan tâm hoàn thiện những vấn đề gì đ/v Thể chế HCNN ở VN
hiện nay.
- Khái niệm Thể chế HCNN:
Theo nghĩa rộng, TC HCNN bao gồm trong đó cả hệ thống các CQNN và cơ chế
hoạt động của các cơ quan đó.
Theo nghĩa hẹp, TC HCNN là toàn bộ các quy định, quy tắc do nhà nước ban hành
để điều chỉnh các hoạt động QLHCNN, tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả các hoạt động
của các CQNN và các CBCC có thẩm quyền.
- Phân tích các vai trò của Thể chế HCNN:
TC HCNN có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển hệ thống HCNN:
(1) Là căn cứ để xác lập mức độ và phạm vi can thịêp của NN đ/v hoạt động của các đối
tượng trong XH:
+ Quy định mọi hoạt động của các CQHCNN, CB,CC HCNN đều phải tuân thủ
pháp luật (Luật trên các lĩnh vực).
tiếp tục hoàn thiện thể chế về BMHCNN. Cần phải hướng tới mục tiêu Chính phủ và BM
HCNN làm tốt cả hai chức năng là QLHCNN và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Cải
cách thể chế về các tổ chức xã hội đảm bảo để nhà nước quản lý tốt các hội, các tổ chức
phi chính phủ, đồng thời mở rộng dân chủ, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ổn định và bền vững.
(2) Cần phải hoàn thiện thể chế quy định chế độ công vụ công chức: Các văn bản pháp lý
dần hoàn thiện (Luật CB, CC ra đời đã phân biệt rõ ràng hai đối tượng CB, CC mà trước
đây chưa phân định rõ); chế độ đãi ngộ đối với công chức từng bước được cải thiện, vấn đề
đào tạo bồi dưỡng công chức được quan tâm, việc quản lý công chức từng bước được đổi
mới. Tuy nhiên, mô hình quản lý nhân sự ở ta cơ bản vẫn là mô hình quản lý chức nghiệp,
theo đó, CB, CC được xếp theo ngạch, bậc, thăng tiến dựa trên thâm niên, do đó, năng lực
của CB, CC chưa được quan tâm, chưa được tạo điều kiện để phát huy một cách thực sự;
tiền lương công chức còn eo hẹp, không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng
làm cho đội ngũ công chức không chuyên tâm làm việc do dành thời gian để làm thêm các
công việc khác bên ngoài; tình trạng tham nhũng, lãng phí còn nhức nhối; tinh thần trách
nhiệm, đạo đức công chức vẫn còn đáng quan tâm…
Cần xây dựng và thực hiện tốt hơn cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, tạo động lực
khuyến khích công chức nâng cao trách nhiệm và hiệu quả công tác; đẩy mạnh công tác
đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn phân công, đề bạt đội ngũ cán bộ, công chức trẻ theo quy
định của Luật Cán bộ, công chức, khắc phục tình trạng hẫng hụt cán bộ quản lý, lãnh đạo
kế cận ở các cấp, các ngành; đẩy nhanh tiến độ cải cách tiền lương, tính đủ các thành phần
cấu thành nên lương để cán bộ, công chức và gia đình sống được bằng lương theo mức
trung bình của xã hội.
(3) Cần phải hoàn thiện thể chế để QL HCNN trên các lĩnh vực (Luật Giáo dục, Luật Báo
chí,…): Đã và đang thực hiện tốt việc việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới
một số Luật và Pháp lệnh; ban hành một số lượng lớn nghị định hướng dẫn thi hành luật,
pháp lệnh tạo hành lang pháp lý cho việc QL HCNN trên các lĩnh vực. Tuy nhiên, một số
quy định còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, mối quan hệ giữa nhà nước- thị trường- tổ
chức xã hội còn nhiều mặt chưa hoàn thiện.
+ Môi trường KT-XH: các quy định điều tiết hoạt động của các đối tượng
trong xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển KT-XH. Vai trò và mức độ điều tiết của
NN đ/v các qt KT-XH diễn ra ở các nước khác nhau ko giống nhau. Sự thay đổi trong môi
trường KT-XH buộc hệ thống thể chế HCNN phải thay đổi theo, thích ứng với những thay
đổi trong XH để có thể quản lý XH một cách hiệu quả nhất.
+ Lịch sử phát triển của quốc gia và truyền thống, văn hoá dân tộc: Mỗi dân
tộc trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài đều có những đặc điểm truyền thống,
văn hoá riêng, ko giống với các dân tộc khác. Do đặc tính này mà mọi quy định để điều tiết
hành vi của các đối tượng trong xã hội phải được xây dựng phù hợp với các chuẩn mực
chung được thừa nhận trong truyền thống, văn hoá. Một hệ thống thể chế chỉ tốt và được
tự nguyện áp dụng khi nó phát huy được những ưu điểm của các giá trị truyền thống nhưng
đồng thời cũng loại bỏ đi những nhược điểm của truyền thống như những hủ tục lạc hậu,
tư duy bảo thủ …
+ Các yếu tố quốc tế: Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, mỗi quốc gia
nếu muốn phát triển không thể nằm ngoài mlh với các quốc gia khác. Sự giao thoa văn
hoá, tri thức và các giá trị chung của văn minh nhân loại cũng tác động không nhỏ đến sự
hình thành và phát triển của hệ thống TC HCNN. Sự ràng buộc pháp lý đ/v một quốc gia
chấp nhận khi tham gia các cấu trúc quốc tế có ảnh hưởng to lớn đến hệ thống thể chế của
quốc gia đó. Ví dụ: Việc Việt Nam gia nhập WTO có ảnh hướng lớn đến hệ thống các quy
định về thuế xuất nhập khẩu, chúng ta phải có sự điều chỉnh thích hợp theo thông lệ, luật
pháp quốc tế.
- Việc ban hành và xây dựng Thể chế HCNN chịu sự tác động, ảnh hưởng của
những yếu tố nêu trên. Vì vậy, khi ban hành và xây dựng Thể chế HCNN cần phải quan
tâm đến tất cả các yếu tố đó. Trong bối cảnh của VN hiện nay, theo tôi, yếu tố có tác động
mạnh mẽ nhất, quan trọng nhất là yếu tố quốc tế, vì:
Trong hội nhập, bất cứ sự thay đổi nào từ bên ngoài cũng đều có ảnh hưởng nhất
định đến tình hình bên trong của các nước. Vì vậy, việc xác định chiến lược phát triển của
mỗi nước đòi hỏi phải tính đến ko chỉ các nhân tố tác động bên trong, thuộc phạm vi quốc
trong hoạt động hành chính và kết quả là, hình thành nên các chức năng hành chính. Như
vậy có thể nói cn hành chính là SP của CMH và phân công lao động.
Khái quát lại, Chức năng HCNN là những phương diện hoạt động chuyên biệt của
HCNN, là SP của quá trình phân công, chuyên môn hoá hoạt động trong lĩnh vực thực thi
quyền hành pháp.
Chức năng hành chính ở mỗi quốc gia có những đặc trưng riêng tuỳ thuộc vào địa
vị pháp lý của hệ thống hành pháp trong mối tương quan với cơ quan lập pháp và tư pháp.
Các chức năng hành chính đều được quy định chặt chẽ bằng hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật và được phân cấp cho các CQHCNN từ TW đến cơ sở.
2. Phân loại chức năng HCNN: Có nhiều cách phân loại chức năng HCNN khác nhau, sau
đây là một số cách phân loại cơ bản:
+ Phân theo phạm vi t/h cn: có cn đối nội và cn đối ngoại.
+ Phân theo tính chất hoạt động: có cn lập quy và cn điều hành hành chính.
+ Phân theo lĩnh vực chủ yếu có: cn ctrị, cn ktế, cn vhoá, cn xhội.
+ Phân theo cấp hành chính có: cn hành chính TW (cn của CP, các Bộ, cq ngang
Bộ, cq thuộc CP) và cn hành chính địa phương (cn của UBND và cq chuyên môn các cấp).
+ Phân theo nhóm cn bên trong và bên ngoài đ/v hệ thống hành chính có: cn bên
trong (nội bộ) gồm các cn vận hành nội bộ nền HC hoặc CQHC và cn bên ngoài gồm có
nhóm cn QLHCNN đ/v các lĩnh vực và cn cung ứng DVC.
3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu CN HCNN:
- (1) thể hiện nội dung hoạt động của HCNN. Do vậy thông qua việc xem xét CN
HCNN có thể xác định được các nội dung của HCNN.
- (2) là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thiết lập các CQHCNN và cũng
là lý do chính đáng cho sự tồ tại của chủ thể hành chính nhất định.