SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC và CHỦ NGHĨA LÃNG mạn TRONG PHƯƠNG THỨC PHẢN ÁNH THPT CHUYÊN bắc GIANG - Pdf 31

CHUYấN

S KHC BIT GIA CH NGHA LNG MN
V CH NGHA HIN THC TRONG PHNG THC PHN NH
Giỏo viờn: Phm Th Thanh Bỡnh
n v: Trng THPT Chuyờn Bc Giang
I. VN HC NGH THUT V VN PHN NH HIN THC
1. Nghệ thuật bao giờ cũng phản ánh và lý giải đời sống theo cách riêng. Đó có thể
đời sống của con ngời trong các quan hệ và sự kiện bên ngoài, hoặc là thế giới bên
trong của bản thân tác phẩm và tác giả ấy, hoặc cuối cùng là đời sống của tự nhiên
ít hay nhiều gắn bó với đời sống con ngời. Các tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng
nói với ngời đọc, ngời nghe, ngời xem của mình một điều gì đó, phát hiện cho họ
một cái gì, cung cấp cho họ một khả năng để nhận ra một điều gì. Có những phạm
vi của đời sống con ngời mà chỉ có nghệ thuật mới ý thức và lý giải đợc. Vì vậy ngời ta đánh giá rất cao các tác phẩm nghệ thuật, giữ gìn chúng và không ngừng tìm
đến với chúng. Nội dung phản ánh của văn học nghệ thuật là cuộc sống rộng lớn,
phong phú và phức tạp về nhiều mặt nhng điều mà văn học quan tâm nhất là cuộc
sống con ngời mà trong cuộc sống con ngời, điều văn học chú trọng nhất là cuộc
sống nội tâm, thế giới tâm hồn tình cảm của con ngời, một lĩnh vực mà bất cứ khoa
học nào cũng không tiếp cận đợc. Sự thật cuộc sống con ngời trong văn học là sự
thật cuộc sống, nhng sự thật trong văn học còn thật hơn sự thật. Muốn phản ánh đợc sự thật ấy, văn học phải có phơng thức đặc thù. Khác với các khoa học khác
phản ánh bằng khái niệm, bằng công thức, sơ đồ, thống kê. Văn học phản ánh cuộc
sống bằng hình tợng, hình tợng thẩm mỹ, đợc biểu hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật.
Bằng phơng thức phản ánh đặc thù đó, văn học không nhằm mục đích chính là sao
chép minh họa nguyên sự thật để dựng lên một bức tranh đời sống mà cái chính là
thông qua cuộc sống đợc phản ánh, nhà văn biểu hiện nỗi lòng mình nhằm truyền
đến cho bạn đọc những xúc động thẩm mỹ mãnh liệt nhất về cuộc sống, về con ngời, từ đó con ngời tự nhận thức, tự thanh lọc để sống đẹp hơn, cao thợng hơn.
2. Lý luận về sự phản ánh trong mỹ học nói chung không phải là cái gì mới mẻ, từ
lâu con ngời đã muốn tìm cách lý giải bằng mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện
thực. Trong truyền thống xa xa của mỹ học, vấn đề phản ánh nghệ thuật đã đợc đặt
ra. Bên cạnh khái niệm bắt chớc của Arixtốt, khái niệm phản ánh xuất hiện.
Thời Phục hng, khái niệm phản ánh phổ biến không phải với ý nghĩa mà thời

nh là kết quả chủ ý của chủ thể sáng tạo của nhà văn để sáng tạo ra tác phẩm là
một quá trình, nhng không phải là quá trình ngợc chiều bắt đầu từ chủ ý chủ
quan của nhà văn, mà là quá trình khởi đầu từ nhận thức, phản ánh hiện thực nhằm
tái hiện cuộc sống. Nếu nói tác phẩm là một quá trình thì phải hiểu đó là quá trình
từ nhận thức đến phản ánh cuộc sống của nhà văn để tái hiện ra tác phẩm. Tác
phẩm là kết quả của quá trình nhận thức đó chứ không phải chỉ là kết quả chủ ý của
nhà văn hớng vào đối tợng sáng tác. Vì thế mới có sự đấu tranh giữa hai khuynh hớng nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh, giữa hai quan điểm phản
ánh, phản ánh cuộc sống hiện thực hay phản ánh cái tôi chủ quan tách khỏi thế giới
hiện thực của nhà văn. Ngay trong những ngời nhân danh quân điểm mác xít cũng
có những quan điểm khác nhau về lý luận phản ánh, phản ánh cuộc sống hiện thực
khách quan nh một nguyên tắc sáng tạo nghệ thuật hay phản ánh cuộc sống thông
qua việc biểu hiện tâm trạng, tâm lý, tình cảm muôn hình muôn vẻ của nhà văn, tức
là phản ánh chính nội tâm của ngời sáng tác, nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm trớc
2


hết của ngời sáng tác và sau đó là tầng lớp mà nhà văn đại diện. Đơng nhiên, phản
ánh cái tôi của nhà văn không phải là sai, nhng không đúng nếu tách cái tôi của nhà
văn với hiện thực của cuộc sống, biến cái tôi thành một vơng quốc riêng của ngời
sáng tác.
3. Núi ti sỏng to ngh thut l phi núi nng lc sỏng to, núi ti ti nng v bỳt
phỏp ngh thut ca ngi ngh s. Theo phn ỏnh lun ca Lờ-nin, sỏng to ngh
thut chớnh l s phn ỏnh (ch khụng phi l s sao chộp, s bt chc) hin thc
ca ngi ngh s. Quỏ trỡnh phn ỏnh hin thc ca ngi ngh s cng khỏc hn
vi quỏ trỡnh phn ỏnh hin thc cỏc hỡnh thỏi ý thc xó hi khỏc. Chớnh iu ny
ó lm cho ngh thut khụng ch l mt hỡnh thỏi ý thc xó hi n thun m cũn
l mt hỡnh thỏi ý thc xó hi c thự. S c bit ca ngh thut so sỏnh vi cỏc
hỡnh thỏi ý thc xó hi khỏc c th hin trờn bn phng din sau õy:
3.1. c thự trong i tng phn ỏnh
Nu i tng phn ỏnh ca cỏc hỡnh thỏi ý thc xó hi khỏc (nh chớnh tr, o

duy hình tượng. Tư duy trừu tượng là quá trình đi từ cái riêng tới cái chung, và kết
quả cuối cùng là giữ lại cái chung (cái bản chất, cái khái quát, cái mang tính quy
luật); mọi yếu tố ngẫu nhiên, riêng lẻ, vụn vặt bị loại trừ. Tư duy hình tượng cũng
đi từ cái riêng đến cái chung, nhưng kết quả cuối cùng nghệ sĩ không giữ lại cái
chung, mà tạo ra cái riêng mới. Trong cái riêng mới này thì cái chung, cái bản chất,
cái mang tính khái quát, cái mang tính quy luật được biểu hiện ra dưới một hình
thức cụ thể, riêng biệt, độc đáo, không lặp lại. Ví dụ: để bắt tay vào viết Tắt đèn,
trước hết, Ngô Tất Tố đã phải đi quan sát ở nhiều vùng quê khác nhau (cái riêng),
để từ đó khái quát lên những cái chung. Cái chung ở đây là: ở nơi đâu cũng thấy
cảnh làng quê tiêu điều, xơ xác, ở nơi đâu cũng có những tên địa chủ tham lam, ác
độc, ở nơi đâu cũng có những người nông dân đói khổ đang oằn mình trước cảnh
sưu cao, thuế nặng… Từ đó ông đã tạo ra cái riêng mới là bức tranh hiện thực làng
Đông Xá, là vợ chồng Nghị Quế, là nhân vật chị Dậu. Trong đời sống không có
làng Đông Xá thực, không có chị Dậu thực, không có vợ chồng Nghị Quế thực,
nhưng những hình tượng nghệ thuật này lại điển hình, khái quát cho bộ mặt nông
thôn Việt Nam lúc đó mà người ta có thể bắt gặp ở bất cứ nơi nào.
3.4. Đặc thù trong hình thức phản ánh
Ở các hình thái ý thức xã hội khác người ta phản ánh hiện thực bằng các khái niệm
trừu tượng (thông qua các nhận định, đánh giá, thông qua các công thức, các định
lý, định luật, thông qua các con số thống kê…), còn trong nghệ thuật, nghệ sĩ lại
phản ánh hiện thực bằng các hình thức nghệ thuật cụ thể, sinh động, hấp dẫn. Vì
thế, khi thưởng thức nghệ thuật, chúng ta có cảm giác như đang được đối diện trực
tiếp với những hình ảnh cụ thể, sinh động của bản thân hiện thực đời sống vậy.
Do những sự khác biệt trên đây giữa nghệ thuật và các hình thái ý thức xã hội
khác, nên đòi hỏi, khi sáng tạo nghệ thuật, nghệ sĩ phải thực hiện phép hư cấu.
Hiểu theo đúng nghĩa của nó, hư cấu không phải là xuyên tạc, bóp méo hiện thực,
mà là tạo ra những hình tượng nghệ thuật mới bằng trí tưởng tượng của người nghệ
sĩ.
Trong hư cấu nghệ thuật, đòi hỏi và cho phép nghệ sĩ sử dụng những thủ pháp
nghệ thuật khác nhau: tượng trưng, ước lệ, nhân cách hoá, ví von, so sánh, cường

lương tỏ ra thiếu thuyết phục để giải quyết các mâu thuẫn xã hội. Lòng bác ái cùng
những mẫu hình con người lí tưởng dần trở nên lạc lõng giữa cuộc sống kim tiền.
Chính lúc đó, chủ nghĩa hiện thực ra đời như một phản ứng chống lại chủ nghĩa
lãng mạn bởi những tôn chỉ của chủ nghĩa hiện thực hoàn toàn đi ngược lại với tôn
chỉ của chủ nghĩa lãng mạn. Nếu như chủ nghĩa lãng mạn đề cao mộng tưởng hơn
thực tại thì chủ nghĩa hiện thực yêu cầu mô tả cuộc sống một cách lịch sử - cụ thể.
Nếu văn học lãng mạn nghiêng về tiếng nói chủ quan, tình cảm cá nhân thì chủ
nghĩa hiện thực lại đòi người nghệ sĩ luôn giữ thái độ khách quan trong phản ánh.
Nếu chủ nghĩa lãng mạn đòi hỏi sự tự do tuyệt đối trong nghệ thuật, thường xây
dựng những nhân vật khổng lồ thì chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi phải đạt được mức
5


độ điển hình trong xây dựng tính cách và hoàn cảnh, phải chân thực trong xây
dựng chi tiết nghệ thuật. Như vậy chủ nghĩa hiện thực do yêu cầu của hoàn cảnh
lịch sử xã hội và mục đích nghệ thuật đã có những nguyên tắc phản ánh riêng.
II. GIỚI THUYẾT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN
1. Chủ nghĩa lãng mạn
1.2. Chủ nghĩa lãng mạn là trào lưu văn học, vừa là phương pháp sáng tác, mang
một nội dung lịch sử xã hội-cụ thể, được hình thành ở Tây Âu sau Cách mạng tư
sản Pháp năm 1789. Chủ nghĩa lãng mạn chia làm hai khuynh hướng: lãng mạn
tích cực và lãng mạn tiêu cực, nhưng giữa chúng vẫn có mối liên hệ qua lại khá
phức tạp.
Lãng mạn được hiểu theo nghĩa chiết tự là sóng tràn bờ, chỉ một sự phóng túng, tự
do, vượt lên trên mọi ràng buộc. Xung quanh từ lãng mạn có rất nhiều thuật ngữ
khác nhau mà chủ nghĩa lãng mạn chỉ là một trong số đó như: "phương thức lãng
mạn", "hình thái lãng mạn", "tính chất lãng mạn"...
Phương thức lãng mạn là kiểu sáng tác táo tạo, là một trong hai kiểu sáng tác
chính của lịch sử văn học bên cạnh kiểu sáng tác tái hiện theo cách gọi của
Friedrich Engels.

khí u ám, buồn thảm vốn đang căng thẳng, ngột ngạt.
Trong khung cảnh đó những người trí thức ấp ủ tinh thần dân tộc mang tâm trạng
tiêu cực muốn thoát ly khỏi những vấn đề bức xúc của cuộc tranh đấu dành độc
lập. Họ có thái độ chán nản, xa lánh chính trị. Thái độ này được củng cố trên cơ sở
mối bất hòa tuyệt vọng giữa họ và hoàn cảnh xã hộiù đương thời. Sự ra đời của
trào lưu văn chương lãng mạn giải quyết được bế tắc, đáp ứng được nhu cầu cho
8


giới trí thức trong bối cảnh xã hội bi quan đó. Con đường làm văn học nghệ thuật
bằng chủ nghĩa lãng mạn là lốt thoát trong sạch, nơi trú ẩn tinh thần tương đối an
toàn có thể gửi gấm tâm sự, và cũng là phương cách bày tỏ lòng yêu nước.
Chủ nghĩa lãng mạn đề cao tự do cá nhân đã đáp ứng được khát vọng giải phóng
bản ngã, khát vọng tự do yêu đương cho hạnh phúc cá nhân, cho quyền sống cá
nhân. Điều này giải thích được quan điểm mỹ học nghệ thuật vị nghệ thuật của
những người trong trào lưu văn chương lãng mạn thuộc giai đoạn 1932-1945 của
văn học Việt Nam.
1.4. Sự phát triển của trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam
Tất nhiên để có một trào lưu văn học thì bao giờ cũng cần có một hay nhiều người
khởi xướng với sự tham gia tích cực của văn giới, và được đón nhận đông đảo của
độc giả. Từ 1932 đến 1935 đã nổ ra hàng loạt các cuộc tranh luận văn học sôi nổi
được tham gia của nhiều tờ báo và các nhà văn, nhà thơ: tranh luận về thơ mới thơ
cũ, tranh luận về bỏ cũ theo mới, tranh luận về hôn nhân và gia đình, tranh luận về
nghệ thuật phục vụ cái gì. Các cuộc tranh luận này phản ảnh cuộc đấu tranh giữa
lễ giáo phong kiến với tự do cá nhân, giữa khuôn sáo và tư tưởng gò bó với cảm
xúc cá nhân được tự do bày tỏ. Hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay do Nhất Linh và
nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương là cơ quan ngôn luận cổ võ mạnh mẽ cho sự
thay cũ đổi mới và là nơi qui tụ văn chương của các nhà văn, nhà thơ trong trào lưu
văn học lãng mạn gồm có Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Huy Cận, Thạch Lam,
Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ.

nhưng khi đã lăn vào đó thì đều thấm nhuần đạo đức và triết lí "con bê vàng"
(Banzăc). Tuy vậy không phải là không có nhân vật chính diện. Các nhân vật này
được tác giả xây dựng nhằm đối lập lại với xã hôi đang dần mất đi những điều tốt
đẹp.
2.2. Sự vận động và phát triển của chủ nghĩa hiện thực
Trước đây, trong các sách nghiên cứu lí luận, chúng ta thường bắt gặp những
nhận định về chủ nghĩa hiện thực như sau: “Trên dòng phát triển của chủ nghĩa
hiện thực trong các nền văn học dân tộc và trong văn học thế giới nói chung, chủ
nghĩa hiện thực phê phán được xem như bước cao nhất mà cũng là bước cuối cùng
trong văn học thời kỳ trước chủ nghĩa xã hội”. Đó là quan điểm được Trọng Đức
dẫn lại cách đánh giá chủ nghĩa hiện thực từ cuốn Nguyên lý mỹ học Mars - Lenin
(Viện hàn lâm khoa học Liên Xô phần IV, Nxb. Sự thật, H. 1963). Với cách đánh
giá này, chúng ta có thể hình dung điểm kết thúc của chủ nghĩa hiện thực lại chính
là điểm bắt đầu của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tương tự như vậy, trong
Vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa, Từ Đức Trịnh và Lê Văn Dương khi tổng hợp
các ý kiến về sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng cho biết,
có một số ý kiến cho rằng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ra đời gắn với sự
“kiệt sinh lực” của chủ nghĩa hiện thực phê phán.
Như vậy, một số người đã quan niệm rằng chủ nghĩa hiện thực trong giai
đoạn cuối thế kỷ XIX đã cáo chung, nhường chỗ cho chủ nghĩa hiện thực xã hội
chủ nghĩa. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã không đồng tình với quan điểm
này. Từ Đức Trịnh và Lê Văn Dương cho rằng: “Mà thực ra, cho đến nay chủ
nghĩa hiện thực phê phán chưa “dốc cạn sinh lực”… làm sao có thể phủ nhận được
một sự hiển nhiên: sang thế kỷ XX trong văn học thế giới vẫn tiếp tục phát triển và
10


có những thành tựu to lớn, vẫn có những đại diện thật kiệt xuất như Sáplisaplin,
Hêmingwây, Rômanh Rôlăng”. Quan điểm này đã gặp gỡ với quan điểm của
Phương Lựu trong cuốn Tiến trình văn học khi ông nói: “mặc dù có chiều hướng

nhiên, khi chú ý đến mối quan hệ khách thể - chủ thể trong sự phản ánh, mô hình
nắm bắt sự chuyển dịch từ hiện thực đến tác phẩm văn học, xem xét văn học trong
mối liên hệ với hiện thực, các học giả trên đều có cách suy nghĩ khác nhau. Trong
11


khi luôn trung thành với quan điểm văn học nghệ thuật không tách rời đời sống xã
hội, Plêkhanov cho rằng “muốn hiểu nghệ thuật như thế nào thì cần phải hiểu cơ
cấu của cuộc sống đó” thì G.Lukacs lại nhấn mạnh đến thế giới riêng của sáng tạo
nghệ thuật. Theo Lukacs, sự say mê của người tiếp nhận là “sự say mê hoàn toàn
vào đặc trưng của cái thế giới riêng” của tác phẩm, do tác phẩm đã “phản ánh
hiện thực trung thực hơn, hoàn thiện hơn, sinh động hơn cái mà người đọc có
được về hiện thực”. Tương tự như vậy, giữa Lukacs và Caudwell, việc lí giải vấn
đề cũng có sự khác nhau. Trong việc xác định đối tượng của phản ánh nghệ thuật,
Caudwell cho rằng đối tượng của phản ánh nghệ thuật là “hiện thực bên trong” của
con người, còn “hiện thực bên ngoài” là đối tượng của phản ánh khoa học.
Caudwell viết “nghệ thuật có thể thay đổi thế giới cảm xúc, tức là thế giới hiện
thực bên trong, còn khoa học thay đổi thế giới của các hiện tượng, tức là thế giới
hiện thực bên ngoài”. Lukacs thì lại cho rằng nghệ thuật cũng như khoa học, đều
phản ánh cùng một hiện thực. Lukacs gắn bó với yêu cầu về chủ nghĩa hiện thực,
về tính chân thực của sự phản ánh, còn Caudwell nhấn mạnh tính chân thực lịch sử
thái độ và tư tưởng của nhà văn, tức là nhấn mạnh vai trò của chủ thể sáng tạo. Đến
với L.Goldman thì mô hình phản ánh đã trở thành mô hình phát sinh. Ông cho rằng
“cần phải dựa vào cơ sở nghiên cứu các mối liên kết giữa cấu trúc tác phẩm và cấu
trúc thuộc về ý thức của các nhóm xã hội mà tác giả là thành viên” [3, tr.18]. Tóm
lại, các nhà Macxit thế kỉ XX vẫn luôn quan tâm đến mối quan hệ giữa văn học và
hiện thực, đến xuất xứ, nguyên nhân và các yếu tố khác liên quan đến sự ra đời của
tác phẩm văn học, mặc dù mỗi người đều có hướng đi riêng của mình. Điều đó cho
thấy, chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XX vẫn còn nặng nợ với các nhà nghiên cứu, vẫn
đầy sức thu hút và không ngừng được khám phá, đem lại những kết quả hết sức thú

thành một khái niệm nghệ thuật, chỉ một trào lưu tư tưởng nghệ thuật hoặc một
phong cách nghệ thuật ra đời ở phương Tây thế kỷ XIX” và “Sau khi chủ nghĩa
hiện thực truyền sang Trung Quốc, nó đã có ảnh hưởng lớn đối với văn học mới
của Trung Quốc. Nhưng các nhà văn nghệ đã không tiếp thu máy móc khái niệm
này mà trong thực tiễn văn học của mình đã truyền cho nó kinh nghiệm thực tiễn
nghệ thuật và tư tưởng nghệ thuật chân chính của mình, vì thế mà hình thành nên
truyền thống hiện thực chủ nghĩa trong văn học mới. Theo tôi, chủ nghĩa hiện thực
phát triển ở Trung Quốc có đặc trưng nổi bật nhất là đã được làm cho sâu sắc hơn
bằng cách chuyển từ một phương pháp nghệ thuật thành một tinh thần nghệ thuật.
Đó chính là tinh thần hiện thực tha thiết với hiện thực xã hội Trung quốc, tha thiết
với số phận sinh tồn Trung Quốc, nhằm “cải lương xã hội”, “cải lương nhân sinh.
Bên cạnh việc đánh giá cao những sáng tác viết theo phương pháp hiện thực
chủ nghĩa, mang tinh thần chủ nghĩa hiện thực, giới lí luận còn đặt vấn đề xem xét,
đánh giá lại chủ nghĩa Marx và nhận thấy ở đấy một ý nghĩa tích cực. Tiếp nhận
tích cực những thành tựu lí luận từ phương Tây, nhìn lại lí luận trước mở cửa, Lý
Trạch Hậu viết: “Mỹ học của chủ nghĩa Marx chủ yếu là mối quan hệ về chức
năng, lợi ích của nghệ thuật đối với xã hội, lý luận về lợi ích xã hội chủ nghĩa của
nghệ thuật”. Trong khi đó, “mỹ học cận hiện đại phương Tây chủ yếu bàn về nghệ
thuật trên cơ sở tâm lý. Họ thường nhấn mạnh tới đặc trưng thẩm mỹ phi công lợi
xã hội của nghệ thuật”, “Quả thật, chủ nghĩa Marx là lí luận cách mạng, lí luận phê
phán, nhưng nó chỉ là thứ lí luận như thế thôi sao? Trong thời đại ngày nay, dù ở
13


phương Đông hay phương Tây, nếu chỉ kiên trì hoặc bàn về lí luận cách mạng thôi
là không đủ rồi! Đó chỉ là một phương diện của chủ nghĩa Marx, cho dù đó từng là
phương diện cơ bản, phương diện chủ yếu. Song, dù thế nào đi nữa thì giai cấp,
đấu tranh giai cấp, cách mạng đều chỉ có mối liên hệ với một giai đoạn lịch sử nhất
định. Trong lịch sử lâu dài của loài người, nó chỉ là một hiện tượng tương đối
ngắn. Không thể ngày ngày cách mạng, năm năm cách mạng…Cái gọi là “đại cách

14


hình và nhân vật điển hình và Một công thức cần phải xóa bỏ - lại bàn về hoàn
cảnh điển hình và nhân vật điển hình, Từ Tuấn Tây đã bàn lại luận điểm của
Engels. Ông cho rằng việc Engel phê phán Cô gái thành thị của Hacơnetx “là
thiếu chính xác và không công bằng” vì “không thể cho rằng tác phẩm nghệ thuật
chỉ biểu hiện lực lượng chính diện và chủ lưu của cuộc sống mới có thể phản ánh
bản chất cuộc sống xã hội, mới có ý nghĩa điển hình, còn những tác phẩm miêu tả
hiện tượng tiêu cực và chi lưu của cuộc sống không thể phản ánh bản chất cuộc
sống xã hội, từ đó kết luận tác phẩm ấy không có ý nghĩa điển hình”.
Trong khi lí luận về chủ nghĩa hiện thực đang được xem xét lại dưới những
góc độ và những mức độ nhất định thì cũng có không ít nhà văn sáng tác theo chủ
nghĩa hiện thực trước đây. Trong cuốn Tiến trình văn học, Phương Lựu đã nhận
định: “Trước hết, phải nhắc đến những tác giả hiện thực thế kỉ XX về cơ bản vẫn
viết theo chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỉ XIX. Ở Pháp có R.Rôlăng với tác
phẩm tiêu biểu Giăng Crítxtốphơ, tiểu thuyết đã mô tả cuộc đời của một nghệ sĩ có
nhân cách cao thượng không khuất phục trước chế độ đẳng cấp, không chìm ngập
trong thế tục thấp hèn. Ở Mĩ có J.D. Pátxốt với tiểu thuyết bộ ba Nước Mĩ đã vẽ
nên bộ mặt ảm đạm của Hoa Kì trong mấy mươi năm đầu thế kỉ. Ở Đức, có E.M.
Rơmác với Phương Tây không có chiến sự, kể lại những cảnh chém giết đẫm máu
trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất,.. Tất nhiên, chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XX
không chỉ có vậy mà khá đa dạng, tuỳ theo tình hình cụ thể mà mang những sắc
thái riêng, bao gồm chủ nghĩa hiện thực mới (Neorealism), chủ nghĩa hiện thực kì
ảo (Magic realism), chủ nghĩa hiện thực cấu trúc (Structural realism), chủ nghĩa
hiện thực tâm lí (Spychological realism). Mỗi sắc thái, xu hướng ấy đều nổi lên
những tên tuổi và tác phẩm tiêu biểu. Như vậy, thực tiễn sáng tác và nghiên cứu về
chủ nghĩa hiện thực xem ra vẫn chưa đi đến hồi kết, ngược lại vẫn còn khá sôi
động và có những kết quả đáng khích lệ.
b. Tình hình sáng tác và nghiên cứu tại Việt Nam

của chúng ta so sánh với công việc của các nhà tiền chiến cầm bút trước cách
mạng, gọi là các nhà văn hiện thực phê phán. Ví dụ như ông Nam Cao chẳng hạn.
Có lần ông ấy la lối, la lối ầm lên rằng thiên hạ vít hết lối của ngòi bút ông ấy. Viết
cây chuối hay con chó hoặc kẻ say rượu đều phạm húy, đều có người đe đánh, đe
đốt nhà. Bị o ép đến như vậy tưởng không viết được gì thế mà cuối cùng, cả một
đời cầm bút của Nam Cao trước cách mạng số năm có là bao nhiêu đâu vậy mà đủ
để lại khá nhiều, nhất là có thể có cái quyền viết rất thật, bao nhiêu lẽ đời, sự đời,
bao nhiêu khuôn mặt người đời thực đến thế” .
Tâm sự ấy của Nguyễn Minh Châu cho chúng ta hiểu rằng không phải cái
mới lúc nào cũng tiến bộ và hoàn hảo, cũng như không phải cái cũ nào cũng lạc
hậu và hoàn toàn bị vượt qua. Sức sống của những cái cũ nhưng tiến bộ sẽ luôn
được khôi phục và tiếp nối. Trong bài Tsêkhôp và Nam Cao – một sáng tác hiện
thực kiểu mới, Đào Tuấn Ảnh cho rằng: “Khoảng thời gian sáng tác trước Cách
mạng của Nam Cao thật ngắn ngủi (5 năm). Ông bước vào cuộc cách mạng của
dân tộc mà không thể mang theo hành trang văn chương của mình, bởi nó thật xa
lạ với chất sử thi hào hùng của một dân tộc đói nghèo lạc hậu đứng dậy chống
ngoại xâm. Có thể nói, truyền thống Nam Cao bị ngắt quãng khá lâu, giống như
truyện Tsêkhôp. Truyền thống của Tsêkhôp bắt đầu được khôi phục lại ở Liên Xô
16


bằng sáng tác của các nhà văn viết về chiến tranh vào những năm 70. Còn truyền
thống của Nam Cao được khôi phục lại cũng bằng sáng tác của nhà văn đi ra từ
chiến tranh - Nguyễn Minh Châu - những năm 80”.
Bên cạnh Nguyễn Minh Châu, những cây bút như Nguyễn Huy Thiệp, Ma
Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng,… đã góp phần khôi phục và
phát triển truyền thống của Nam Cao nói riêng và truyền thống của chủ nghĩa hiện
thực nói chung.
Phan Cự Đệ từng nói, chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam không
rơi vào chủ nghĩa tự nhiên, một bộ phận văn học hiện thực chủ nghĩa đã chuyển

thc ch ngha ca th k XX, c bit l ch ngha hin thc kỡ o ó khỏc khỏ xa
so vi ch ngha hin thc th k XIX. Nu nh ch ngha hin thc th k XIX ũi
hi chi tit phi chõn thc, phi in hỡnh thỡ ch ngha hin thc kỡ o li y p
nhng chi tit kỡ o, hoang ng. Cú iu, nhng tỏc phm hin thc ch ngha
th k XX vn cú chung hn ct ca ch ngha hin thc, v ú l iu ỏng ghi
nhn. Tỡnh hỡnh ú xem ra vn tip din trong nhng nm u th k XXI. Nh
vy, v s vn ng v phỏt trin ca ch ngha hin thc, chỳng ta cú th khng
nh rng ch ngha hin thc phờ phỏn th k XIX vn l mt chi lu bờn cnh
nhng chi lu khỏc ca ch ngha hin thc núi chung gia dũng chy ln ca vn
hc trong giai on hin nay.
III. PHNG THC PHN NH HIN THC CH NGHA V LNG
MN CH NGHA
1. Phng thc phn ỏnh lóng mn ch ngha
Chủ nghĩa lãng mạn chủ trơng giải phóng văn nghệ thoát khỏi mọi ràng
buộc quy phạm của chủ nghĩa cổ điển, mở rộng phạm vi thực tại mô tả, giải phóng
thơ ca khỏi tính trừu tợng ngột ngạt, khỏi những xiềng xích của ngôn ngữ và câu
thơ cổ điển chủ nghĩa.
ở góc độ mỹ học, chủ nghĩa lãng mạn có những đặc điểm sau: Thứ nhất là u
thế dành cho mộng tởng, các nhà văn lãng mạn (chủ yếu là lãng mạn tích cực) tuy
chống lại thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật và đề cao sứ mệnh xã hội của văn học,
những quan điểm sáng tác của họ căn bản vẫn là dựa vào sự đối lập lý tởng với hiện
thực. V. Hugo đã nói : Tâm hồn con ngời hiện nay đặt nhiều hy vọng ở lý tởng
hơn là ở thực tại. Cái lý tởng theo nhận thức của nhà lãng mạn là thuộc về một
cái gì bí mật, huyền hảo, thờng không với tới đợc; đó là thế giới của những cái sâu
thẳm của tâm hồn, là cái bản ngã tinh thần của con ngời hoặc đó là thế giới của quá
khứ xa xăm, huyền bí. Sự trốn thoát thực tại cũng là nét nổi bật của văn học lãng
mạn Việt Nam trớc cách mạng: trốn vào quá khứ, trốn vào tôn giáo, trốn vào tình
yêu, trốn vào giang hồ, phiêu lu...
Thứ hai, do u tiên mộng tởng cho nên sự nghiên cứu sâu sắc và nghiêm túc
các điều kiện khách quan của sinh hoạt xã hội bị đẩy xuống địa vị thứ yếu. Trong

ủy mị, cá nhân chủ nghĩa. Nó chủ yếu quanh quẩn trong yêu đơng, ít khi phóng
mắt đến những vấn đề lớn lao của con ngời, của dân tộc, của thời đại. Phần tích cực
còn hạn chế.
Nh bất kỳ hiện tợng văn học lớn nào, chủ nghĩa lãng mạn mong muốn đi sâu
vào bí mật của thế giới, tìm cách hiểu quy luật của cuộc sống và cải thiện đời sống
xã hội của loài ngời. Các nhà văn lãng mạn làm giầu thêm cho nhận thức nghệ
thuật về thế giới bên trong của con ngời. Chính sự đi sâu khám phá thế giới nội tâm
con ngời của chủ nghĩa lãng mạn là sự chuẩn bị cho các nhà văn chủ nghĩa hiện
thực thâm nhập sâu sắc vào tâm lý con ngời.
Các nhà lãng mạn tiến bộ khêu gợi và phát hiện trong con ngời xu hớng hành
động, ý chí, nhiệt tình, mơ tởng và cảm hứng. Điều này thể hiện trong cách mô tả
tính cách của nghệ thuật hiện thực sau này.
Nếu trong sáng tác của các nhà lãng mạn, nhân vật tích cực đợc bộc lộ chủ
yếu ở khía cạnh trữ tình chủ quan, thì trong tác phẩm hiện thực (nh của Banzắc,
Xtăngđan...) đợc biểu hiện một cách khách quan, lịch sử cụ thể, trở thành điển hình
trong sự tạo dựng ra nó, các nhà hiện thực sử dụng phong cách của chủ nghĩa lãng
mạn, nhng với mục đích hiện thực. Các nhà văn lãng mạn khi xây dựng nhân vật thờng tạo ra mâu thuẫn giữa một bên là nhân vật có tâm hồn cao quý, nhng ít hiểu
19


biết thực tế với những kẻ ti tiện, thấp hèn, vụ lợi, phi đạo đức do xã hội t sản mới
tạo nên. Những nhân vật phản diện do xã hội tiền mặt đẻ ra, đợc xem nh gần gũi
với chủ nghĩa hiện thực. Có thể nói những xung đột kiểu ấy chuẩn bị cho sự chuyển
hóa sang bình diện hiện thực sau này.
Chủ nghĩa lãng mạn nh một tổng thể tạo ra không chỉ phơng pháp nghệ thuật
của nó mà còn có cả phong cách, thi pháp, những cái này đều thâm nhập vào kho
tàng nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực. Chủ nghĩa trữ tình lãng mạn làm giàu
thêm nghệ thuật hiện thực thế kỷ XIX, có tính tha thiết và xúc động mà chủ nghĩa
hiện thực khai sáng không có đầy đủ do thấm nhuần chủ nghĩa duy lý. Chủ nghĩa
hiện thực tiếp nhận sự trộn lẫn này không phải nh ý định chủ quan của nhà văn, mà

của cuộc sống và tự nhiên. Vậy thì thế giới thiên nhiên, vật chất xung quanh con
ngời cũng là đối tợng quan trọng của nghệ thuật. Lý tởng thẩm mỹ của chủ nghĩa
hiện thực là tái tạo một cách có nghệ thuật chân lý của cuộc sống. Đối với nhà hiện
thực cái đẹp trong nghệ thuật là cuộc sống đợc phản ánh một cách trung thực.
L.Tônxtôi viết: Nhân vật trong truyện vừa của tôi, ngời mà tôi yêu với tất cả sức
mạnh của tâm hồn, ngời mà tôi cố gắng tái tạo với tất cả vẻ đẹp của nó, ngời luôn
đã đang và sẽ đẹp - đó là sự thật thiếu sự thật sẽ không có cái gì đẹp trong nghệ
thuật. Cái gì đẹp trong cuộc sống khi đi vào trong nghệ thuật mà bị miêu tả một
cách sai lệch thì sẽ không còn vẻ đẹp nữa. Cái đẹp trong nghệ thuật hiện thực là
chân lý cuộc sống đợc tái tạo dới dạng nghệ thuật hoàn chỉnh, phù hợp bởi vì đối
tợng của thơ ca là chân lý cho nên vẻ đẹp vĩ đại nhất chính là ở chân lý, ở sự giản
dị, còn tính chân thực và tự nhiên tạo nên điều kiện cần thiết cho một sáng tác nghệ
thuật chân chính (Plêkhanốp).
Bản chất xã hội lịch sử, kết quả của sự phân tích và lý giả của nhà văn trải
qua sự tìm tòi nghệ thuật. Nó không thể đem lại cho nhà văn một giải pháp nào có
sẵn, vì rằng cuộc sống phức tạp và đầy mâu thuẫn không bao giờ tuân theo những
công thức sẵn có, những vận mệnh cá nhân thăng trầm luôn đợc đặt trong những
mối quan hệ ràng buộc phức tạp. Nhà văn phải trải qua sự tìm tòi, trải nghiệm mới
dần tìm ra đợc đầu mối để thâm nhập vào các ngóc ngách của đời sống, để nắm bắt
đợc những tính cách điển hình cái hoàn chỉnh độc đáo, trong cái cụ thể sinh động
nh Engel từng nhấn mạnh: Biệt tài của nhà văn là ở chỗ thể hiện đợc nổi bật cá
tính của nhân vật.
Phạm trù điển hình là phạm trù quan trọng nhất của mỹ học hiện thực.
Banzắc coi việc sáng tạo các điển hình, tính điển hình của miêu tả có ý nghĩa quyết
định. Ông cho rằng không khó khăn gì khi tái tạo một cách chính xác những chi
tiết của cuộc sống, nhng cái chính đối với nhà văn là sáng tạo ra những điển hình,
bao hàm trong đó những sức mạnh và phơng diện khác nhau của cuộc sống xã hội.
Theo Banzắc, khi viết Tấn trò đời ông đã tập hợp những trờng hợp biểu hiện
ham muốn đặc sắc nhất, lựa chọn những sự kiện chính nhất từ cuộc sống xã hội để
sáng tạo các điển hình....

khác, Banzắc đã truyền đạt một đặc điểm của xã hội t sản, đó là tình trạng con ngời
bị tách ra thành những cá thể biệt lập, đó là hậu quả không sao tránh khỏi của sự
lớn mạnh của chủ nghĩa t bản mà cơ sở là nguyên tắc t hữu.
Khi xác định đờng lối và phơng thức khắc phục những hậu quả của tiến bộ t bản
chủ nghĩa, Banzắc mắc phải chủ nghĩa không tởng bảo thủ, ông cho rằng quyền lực
của tầng lớp quyền quý, dựa vào những giá trị luận lý của tôn giáo có thể đa xã hội
tới hạnh phúc, chẳng cần thay đổi quan hệ tài sản giữa ngời và ngời, chẳng cần phá
vỡ mà chỉ cần kiềm chế nguyên tắc t hữu và một nguyên nhân nữa là Banzắc không
tính đến nhân dân nh là một nhân tố độc lập về thực chất quyết định sự vận động
của lịch sử.
Và phải đến L.Tônxtôi, độc thoại bên trong mới phơi bày. Phơng thức miêu
tả tâm lý trở thành phơng diện diễn đạt mới của nghệ thuật.
Những thủ pháp phân tích tâm lý ở Tônxtôi khá phức tạp và uyển chuyển,
bản thân phơng pháp miêu tả tâm lý ở ông không bị mất chủ nghĩa lịch sử tự phát.
Tính cách và cảm xúc của nhân vật ở Tônxtôi bao giờ cũng có tính xã hội, tức là
22


chúng mang những đặc trng rõ rệt với môi trờng cũng nh với thời đại lịch sử của
chúng. Do đó những vận động tâm hồn của các nhân vật của ông có thể phản ánh
và thực sự đã phản ánh những mâu thuẫn và vận động của đời sống xã hội, chứ
không chỉ giới hạn ở sự phản ánh diễn biến các tâm trạng, đấu tranh và xung đột
của những tình cảm và ham muốn cá nhân khép kín trong bản thân nó.
Đối với Tônxtôi, xã hội không phải là sự tĩnh tại, bất động và nhiệm vụ của
nhà văn hiện thực là phải thấy đợc sự vận động không ngừng của lịch sử. Tônxtôi
miêu tả những hiện tợng của cuộc sống trong xung đột và sự phát triển liên tục của
chúng. Do đó ngay trong những cảm xúc tâm lý của nhân vật, trong tâm trạng bên
trong của chúng Tônxtôi cố gắng truyền đạt công việc thờng xuyên liên tục của t tởng và tình cảm đang diễn ra trong ý thức con ngời.
Sự chú ý của Tônxtôi tới phân tích tâm lý không phải là ngẫu nhiên mà là do
những hiện tợng khách quan của thực tế, bởi vì đời sống xã hội của con ngời càng

anh ta muốn hiểu đúng, phản ánh trung thực cuộc sống, miêu tả một cách chính xác
những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình, nói tóm lại, tạo ra một thế
giới nghệ thuật của mình, không đồng nhất nhng phù hợp với thế giới thực. Việc
hiểu những chân lý cuộc sống ấy trong tổng thể của chúng tạo ra cơ sở vững chắc
của nhận thức nghệ thuật hiện thực, cơ sở ấy biểu hiện trong phơng pháp sáng tác
của các nhà văn hiện thực chủ nghĩa thế kỷ XIX.
III. S KHC BIT CA HAI PHNG THC PHN NH
1. Phng thc phn ỏnh lóng mn ch ngha
1.1. Nguyờn tc th nht: Chi t thc ti
Xut phỏt t thỏi nguyn ra thc ti, tuyờn b mi thõm thự vnh
vin khụng i tri chung vi thc ti (Biờlinxki), ngh s lóng mn t cho mỡnh
ng trờn hon cnh; do y, ngh thut ny thng khụng xut phỏt t nhng yờu
cu c bn ca cuc sng xõy dng hỡnh tng, m ch yu da vo ý mun
ch quan ca ngi ngh s sỏng tỏc cỏc tớnh cỏch in hỡnh. Vỡ th ngay trong
tỏc phm ca cỏc ngh s lóng mn tớch cc, cỏc chi tit c th, chõn thc, lch s
u b y xung bỡnh din th yu, ct lừi vn l vng ho quang y cht huyn
thoi c ngh s dng cụng khoỏc vo nhõn vt.
1.2. Nguyờn tc th hai: T do bay ln trong ngh thut
Tỏch mỡnh ra khi i thc nờn ngh thut lóng mn chn hỡnh thc lm cu
cỏnh ca mỡnh. Vn t do cỏ nhõn, t do sỏng tỏc l vn bc nht ca h.
H chi t n t hng ca xó hi, ch nhn n t hng ca trỏi tim.
Nghip vn chng ch l nghip ti t, ch l kip a duyờn. Ngh thut
khụng sng vi i m ch sng vi mỡnh. Vichto Huygụ núi: ch ngha lóng mn
l ch ngha t do trong vn hc (ta Hecnani 1930).
1.3. Nguyờn tc th ba: in hỡnh húa tõm trng
Vỡ ly cỏi tụi ni cm lm thc o cho muụn vt, ngh thut lóng mn
tc mt vai trũ nhn thc khỏch quan ca ngh thut. H cho rng ngh thut
khụng phi l tm gng phn chiu ng i m ch l phng tin bc l tõm
trng. Nu ch ngha c in ch trng hn ch cm hng thỡ ngh thut lóng mn
li vung tay thao tỳng cm hng n mc tựy hng. H nhn mnh tớnh khớ, ch

hiện đời sống “trong hình thức của bản thân đời sống”. Gớt khẳng định: “Đối với
người nghệ sĩ, yêu cầu cơ bản nhất luôn luôn là yêu cầu phải đứng về phía cuộc
sống, nghiên cứu nó, tái hiện và tạo dựng một cái gì giống với các hiện tượng của
nó”. Với chủ nghĩa hiện thực, mối quan hệ gắn bó giữa nghệ thuật với cuộc sống
trở nên vô cùng sâu sắc. Thế giới nghệ thuật của các nhà văn hiện thực gắn bó mật
thiết với hiện thực cuộc sống. Tất cả các chất liệu của tưởng tượng nghệ thuật đều
được rút ra từ kinh nghiệm của cái đã sống qua. Lấy chất liệu từ hiện thực đời
sống, qua bàn tay sáng tạo của các nghệ sĩ hiện thực, “nghệ thuật đã tạo ra một
thiên nhiên thứ hai” (Gớt). Và “thiên nhiên thứ hai” phải biết ơn hiện thực về cấu
trúc bên trong của mình.
2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính chân thực của chi tiết
Các nhà văn hiện thực có hứng thú đặc biệt trong việc nắm bắt hiện thực
trong từng chi tiết chính xác của nó. Chi tiết có ý nghĩa không nhỏ trong việc miêu
tả thực tại theo phương pháp hiện thực chủ nghĩa. Chi tiết làm nên sự sống trong
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status