ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật deltamethrin đối với tôm thẻ chân trắng (litopenaeus vannamei) - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN HỮU TRÍ

ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
DELTAMETHRIN ĐỐI VỚI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Litopenaeus vannamei)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN

2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN HỮU TRÍ

ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
DELTAMETHRIN ĐỐI VỚI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Lipopenaeus vannamei)

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
P.Gs. Ts ĐẶNG THỊ HOÀNG OANH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN

2014

bằng phương pháp mô học. Kết quả cho thấy Deltamethrin không gây ảnh hưởng đến vùng
gan tụy của tôm thẻ chân trắng khi tiếp xúc với các nồng độ deltamethrin thử nghiệm.
Từ khóa: Litopenaeus vannamei, Deltamethrin, mô bệnh học
I. GIỚI THIỆU
Trong thời kỳ phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước, ngành thủy sản đóng
vai trò hết sức quan trọng cho việc phát triển kinh tế của đất nước, đặc biệt là nghề nuôi
tôm nước lợ, đã góp phần đưa ngành thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước.

1


Năm 2011 giá trị xuất khẩu từ tôm nuôi đạt 2,15 tỷ USD, chiếm gần 35% tổng kim ngạch
xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Cao Đức Phát, 2012).
Tuy nhiên, trong những năm gần đây nghề nuôi tôm nước lợ ở nước ta đang gặp rất nhiều
rủi ro đặc biệt tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Trong năm 2011, dịch bệnh lây lan trên diện
rộng tại các vùng nuôi tôm khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, đặc biệt là hiện tượng
tôm chết hàng loạt có tên gọi là “hoại tử gan tụy” (hội chứng tôm chết sớm). Diện tích nuôi
tôm bị thiệt hại ở khu vực này lên đến 97.691ha, nghiêm trọng nhất là Sóc Trăng có hơn
25.000 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh bị mất trắng. Năm 2012, cả nước có hơn
100.000 ha diện tích nuôi tôm nước lợ bị chết do dịch bệnh, ước thiệt hại trên 4.000 tỷ
đồng (Nguyễn Hữu Quý, 2012).
Đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong
sản xuất nông nghiệp. Hóa chất sử dụng trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
không đúng cách có thể tồn lưu trong môi trường, đặt biệt là trong nguồn nước làm đe dọa
đến sự bền vững và an toàn ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm nói
riêng. Deltamethrin là thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng phổ biến để diệt giáp xác trong
ao nuôi tôm. Mức độ gây độc của hoạt chất này lên các đối tượng thủy sản, đặt biệt là tôm
sú và thẻ chân trắng vẫn còn nhiều vấn đề nghiên cứu. Vì thế đề tài “Ảnh hưởng của thuốc
bảo vệ thực vật deltamethrin đối với tôm thẻ chân trắng” được thực hiện nhằm xác định độ
độc cấp tính (LC50) và độ độc mãn tính của hoạt chất deltamerthrin ảnh hưởng lên cấu trúc

2.2.1 Thí nghiệm khảo sát sơ bộ
Thí nghiệm xác định khoảng gây độc của Deltamethrin đối với tôm thẻ chân trắng (thí
nghiệm thăm dò) được tiến hành với 7 nồng độ (0,0000014; 0,000014; 0,00014; 0,0014;
0,014; 0,14; 1,4 mg/L) nằm trong khoảng gây độc (nồng độ tham chiếu) và đối chứng được
bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong keo 5L theo phương pháp nước tĩnh trong 96 giờ. Mỗi thí
nghiệm được lặp lại 3 lần, 30 con/keo đối với tôm nhỏ PL12 và 20 con/keo đối với tôm có
độ tuổi bị chết phổ biến (sau thả tôm 25-30 ngày). Thí nghiệm được theo dõi, ghi nhận
triệu chứng và tôm chết ở 3, 6,12, 24, 48, 72 và 96 giờ sau bố khi bố trí. Khi phát hiện tôm
chết, ghi nhận số liệu rồi bắt tôm chết ra để hạn chế ảnh hưởng chất lượng nước. Thí
nghiệm này xác định nồng độ cao nhất có thể gây chết không quá 10% tôm sau 96 giờ và
nồng độ thấp nhất gây chết khoảng 90% tôm sau 1-2 giờ để làm nồng độ cho thí nghiệm
tiếp theo.
2.2.2 Thí nghiệm khẳng định
Thí nghiệm được tiến hành theo thí nghiệm khảo sát sơ bộ để xác định nồng độ có thể gây
chết trên và dưới 50% số cá thể tôm thí nghiệm và các nồng độ lận cận.
Thí nghiệm xác định giá trị LC50 được tiến hành dựa vào kết quả ở thí nghiệm sơ bộ, trong
giới hạn nồng độ gây chết tôm chia thành 6 mức nồng độ và 1 đối chứng (không có thuốc).
Mỗi thí nghiệm bố trí 30 con/keo đối với tôm P12 và 20 con/keo đối với tôm có độ tuổi bị
chết phổ biến (sau thả tôm 25-30 ngày), 3 lần nhắc lại.
Theo dõi và ghi nhận số tôm chết vào các mốc thời gian là 3, 6,12, 24, 48, 72 và 96 giờ sau
bố khi bố trí. Tôm chết được vớt ra trong suốt thời thí nghiệm.
Trường hợp các nồng độ trên chưa tiệm cận được với nồng độ gây chết 50% số cá thể tôm
thì 2 lần thí nghiệm lặp lại phải điều chỉnh nồng độ cho phù hợp với diễn biến tỷ lệ chết ở
các lần thí nghiệm trước. Trường hợp đã tiệm cận thì có thể điều chỉnh nồng độ tiệm cận
với mức gây chết 50% cá thể tôm. Thí nghiệm được theo dõi, ghi nhận triệu chứng và tôm
chết ở 3, 6,12, 24, 48, 72 và 96 giờ sau bố khi bố trí. Khi phát hiện tôm chết, ghi nhận số
liệu rồi bắt tôm chết ra để hạn chế ảnh hưởng chất lượng nước.
2.2.3. Thí nghiệm xác định độ độc mãn tính
Thí nghiệm được tiến hành trên tôm có độ tuổi bị chết phổ biến (sau thả tôm 25-30 ngày).
được bố trí trong keo 5L với 5 thức nghiệm thức (4 nghiệm thức với deltamethrin là 10%,


6h

12h

24h

48h

72h

96h

CT1

0.0000014

0

0

0

0

0

0

0


6.6

6.6

13.3

CT4

0.0014

0

0

1.1

2.2

6.6

10

10

CT5

0.014

0


CT7

1.4

100

100

100

100

100

100

100

CT8

Đ/chứng

0

0

0

0

12h

24h

48h

72h

96h

0.0000014

0

0

0

0

0

0

0

CT2

0.000014


4.4

CT4

0.0014

0

1.1

1.1

1.1

3.3

4.4

4.4

CT5

0.014

66.6

66.6

66.6


66.6

66.6

66.6

66.6

66.6

66.6

66.6

CT8

Đ/chứng

0

0

0

0

0

0



0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

CT2

0,0014

1,11

2,22

4,44

6,67

8,89

8,89

8,89


65,56

67,78

68,89

CT5

0,0112

93,33

97,78

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

CT6

0,0224

100,00

3h

6h

12h

24h

48h

72h

96h

0,000175

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00


41,67

43,33

43,33

CT4

0,0014

3,33

73,33

73,33

75,00

78,33

85,00

85,00

CT5

0,0028

95,00


Hinh 2: Biểu đồ thể tỷ lệ tôm thẻ chân trắng trưởng thành chết trong thí nghiệm khẳng
định.
Từ kết quả chạy phần mềm dựng đường Probit cho thấy với nồng độ hoạt chất
Deltamethrin là 0,001mg/l sẽ gây chết 50% số tôm thí nghiệm. Vậy trị số LC50 của
Deltamethrin đối với tôm thẻ chân trắng trưởng thành là 0,001mg/l.
Judith (2002) đã nghiên cứu LC50 của thuốc Deltamethrin trên cá mú (Epinephelus
tauvina) có khối lượng trung bình 2,3g là 3,6 µ/L, giá trị LC50 của thuốc Deltamethrin đối
với cá rô phi giống (Oreochromis niloticus) là 4,85 µ/L (Ziynet et al, 2006). Bên cạnh đó,

6


theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Del (2009) trên tôm sú thì LC50-96h của thuốc
Deltamethrin là 1,05µg/L.
Như vậy giá trị LC50-96h của tôm thẻ chân trắng PL12 thấp hơn so với cá mú, tôm sú và
cao hơn so với cá rô phi. Bên cạnh đó thì LC50-96h của tôm trưởng thành lại thấp hơn so
với cá mú, rô phi và tôm sú. Theo kết quả LC50-96h thì hoạt chất thuốc trừ sâu
Deltamethrin là rất độc so với tôm thẻ chân trắng (WHO, 1990).
3.2 Kết quả phân tích mô bệnh học gan tụy trên tôm thẻ chân trắng dưới tác dụng
của thuốc trừ sâu Deltamethrin
Các mẫu tôm sau khi kiểm tra sạch bệnh bằng phương pháp sinh học phân tử được nuôi
dưỡng trong bể. Thí nghiệm được bố trí gồm 5 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, trong đó có 4
nghiệm thức lần lượt là các nồng độ khác nhau của giá trị LC50 của hoạt chất Deltamethrin
và một nghiệm thức đối chứng. Tiến hành thu mẫu định kỳ cách 10 ngày thu mẫu 1 lần và
thu 6 lần liên tiếp. Các mẫu thu được đánh giá hội chứng hoại tử gan tụy bằng phương
pháp mô học (Bảng 5).
Bảng 5: Kết quả mô bệnh học các nghiệm thức qua các lần thu mẫu
Lần 1

Lần 2








Nghiệm thức 3

+











Nghiệm thức 4





+



Nott, 1980). Ảnh hưởng của độc chất làm thay đổi cấu trúc ống gan tụy thì đã được nghiên
cứu trên nhiều loài thủy sản khác nhau (Lightner et al., 1982).
Ở nghiệm thức đối chứng, các tiêu bản mô học được nhuộm H&E (Lightner, 1996) cho kết
quả các mẫu tôm thu được đều là mẫu tôm khỏe, vùng gan tụy không có bất kì dấu hiệu bất
thường nào. Ống gan tụy hình sao với sự hiện diện của các tế bào B, R, F và sự phân
7


nhiễm bình thường của các tế bào E (Hình 3.1). Kết quả cho thấy thí nghiệm ổn định trong
suốt quá trình thực hiện.

A

B
Hình 3.1. Mô gan tụy ở nghiệm thức đối chứng (H&E,10X, 20X)

Ở các nghiệm thức có chứa nồng độ hoạt chất Deltamethrin, ghi nhận được sự hiện diện
bất thường của các tế bào máu trên vùng gan tụy. Kết quả phân tích mô bệnh học cho thấy
tế bào máu tập trung và bao bọc các tế bào của ống gan tụy, thiếu sự hiện diện của tế bào B
ở lần thu 1 của nghiệm thức 2 với 20% nồng độ của thuốc Deltamethrin, lần thu 1 của
nghiệm thức 3 với 40% nồng độ của thuốc Deltamethrin và lần thu 3 của nghiệm thức 4
với 80% nồng độ của thuốc Deltamethrin. Nghiệm thức 1 với 10% nồng độ của thuốc
Deltamethrin không ghi nhận được dấu hiệu bất thường trên vùng gan tụy của tôm (Hình
3.2).

A

B
Hình 3.2 Kết quả phân tích mô bệnh học ở nghiệm thức 1 (H&E,10X và 20X).
(A), (B) Mô gan tụy tôm bình thường .


B

C
A

D
Hình 3.4 Kết quả phân tích mô bệnh học ở nghiệm thức 3 (H&E,10X và 20X).
(A) Mô khỏe với sự hiện diện của các tế bào B, E và cấu trúc hình sao; (B) Tế bào máu tập
trung và bao bọc ống gan tụy; (C), (D) gan tụy không có sự hiện diện của tế bào B, R).

9


B

A

C

D
Hình 3.5 Kết quả phân tích mô bệnh học ở nghiệm thức 4 (H&E,10X).
(A) Sự tập trung của tế bào máu xung quanh ống gan tụy; (B), (D) teo gan và thiếu sự

hiện diện của tế bào B); (C) Tế bào máu tập trung trên gan tụy, gan tụy mất cấu trúc, không có
sự hiện diện của tế bào B, R).
.

Từ kết quả phân tích mô học cho thấy, khi so sánh nghiệm thức đối chứng với các nghiệm
thức có các nồng độ hoạt chất khác nhau và giữa các lần thu mẫu tuy có sự khác biệt nhưng

đến mô gan tụy của tôm thẻ chân trắng. Tuy nhiên không được sử dụng thuốc để điệt giáp
xác trong môi trường ao nuôi vì nó sẽ tồn lưu trong môi trường nước sẽ gây ngộ độc cấp
tính cho tôm và các loài thủy sản khác.
Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc deltamethrin ở các môi trường khác nhau như độ
mặn, PH,…ở tôm thẻ chân trắng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cao Đức Phát, 2012. báo cáo tình hình thiệt hại trên tôm nước lợ và đề xuất chính sách hỗ
trợ. Bộ Nông nghiệp và PTNT .Số: 2017/BC-BNN-TCTS.
Đặng Thị Hoàng Oanh, 2011. Giáo trình “Những nguyên lý và kỹ thuật chuẩn đoán bệnh
thủy sản”. Nhà xuất bản Nông nghiệp. 148 trang.
Dang Thi Hoang Oanh, Tran Viet Tien, Truong Quoc Phu and Nguyen Thanh Phuong,
2013. Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome (AHPNS) on Farmed Shrimp in
The Mekong Delta, Vietnam. February 2013, .
Gibson, R.,P.L. Barker (1979) The decapod hepatopancreas. Oceanogr. Mar. Biol. 77:285346.
Hopkin, S.P., and J.A. Nott (1980) Studies on the digestive cycle of the shore crab Carcinus
maenas (L.) with special reference to the B cells in the hepatopancreas. J. Mar. Biol.
Assoc. U.K. 60.-891-907.
Irene Bastos Franceschini-Vicentini; Karina Ribeiro; Luciene Patrici Papa; Júlio Marques
Junior; Carlos Alberto Vicentini and Patrícia Maria Contente Moraes Valenti, 2009.
Histoarchitectural Features of the Hepatopancreas of the Amazon River Prawn
Macrobrachium amazonicum. Int. J. Morphol., 27 (1): 121-128., 2009.
Jen-Lee Yang, Tung-Jer-HU, Hong-Yuan LEE, 2010. Sublethal Antimony (III) Exposure
of Freshwater Swamp. Shrimp (Macrobrachium Nipponense): Effects on Oxygen
Consumption and Hepatopancreatic Histology. J. Water Resource and Protection. 2:
42-47.
11


Lighner, DV., 1996. A Handbook of shrimp pathology ang Diagnostic Procedures for
Diseases of Cultured Penaeid Shrimp. World Aquaculture Society, Baton rouge,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status