Phân tích đầy đủ bài đất nước Nguyễn Khoa Điềm - Pdf 31

Từ đầu đến ... làm nên đất nước muôn đời"
Hoàn cảnh ra đời: (Trường ca MĐKV)
- Được hoàn thành năm 1971 tại chiến khu Trị Thiên, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi
trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình trong cuộc chiến
chống đế quốc Mỹ xâm lược.
- Trường ca MĐKV gồm 9 chương, trong đó nhà thơ dành riêng một chương V để nói về "Đất nước".
Đoạn trích "Đất nước" trong SGK là trích trong phần đầu chương V, là đoạn thơ hay về đề tài đất nước
trong thơ Việt Nam hiện đại.
+ Khác với nhiều tác giả đi trước và một số cây bút cùng thế hệ, thường lấy yếu tố lịch sử của các triều
đại để chiêm ngưỡng hình ảnh của Tổ quốc và hay dùng những hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ, mang tính biểu
tượng để thể hiện cảm nhận của mình về đất nước. Nguyễn Khoa Điềm thì khác, ông lại lại bắt đầu từ
những yếu tố văn hóa gần gũi, giản dị. thân thiết để dựng nên hình ảnh đất nước Việt Nam.
Chín câu thơ đầu mở ra một không gian thời gian không hạn định nhưng đậm đà văn hóa dân tộc.
Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xua... Mẹ thường hay kể.
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng
Đất nước có từ ngày đó...
Bằng giọng thơ ngọt ngào, thủ thỉ như lời bà lời mẹ tâm tình, cùng với sự am hiểu vốn văn hóa dân gian
sâu sắc cùng với việc sử dụng chất liệu dân gian như mượn thành ngữ, ca dao, tục ngữ dân gian để lí giải
nguồn gốc đất nước bằng chính những gì bình dị và gần gũi nhất. Đây là một kiểu lí giải đặc biệt làm nên
cái hay của chương thơ Đất Nước. NKĐ nhẹ nhàng ghi vào lòng ta đưa ta trở về với một miền ấu thơ để
được nghe bà nghe mẹ kể những câu chuyện cổ tích, thần thoại mà câu chuyện nào cũng đẹp, cũng giàu
chất thơ. Không chỉ thế nhà thơ còn đưa ta về với những phong tục văn hóa đẹp tươi như tục nhuộm răng
đen, tục ăn trầu của người Việt cổ mà bây giờ ta lại bắt gặp qua miếng trầu dung dị bà ăn hằng ngày, đó là
tục bới tóc sau đầu tạo nên nét duyên Việt thuần hậu, chất phác giàu nữ tính của người phụ nữ, tục làm
nhà kèo cột để chống đỡ thiên tai. Và đâu chỉ có phong tục, đất nước còn đẹp hơn bởi truyền thống, đó là

tình yêu ngọt ngào, sống trong "nỗi nhớ thầm" của anh và em.
Đất nước là rừng vàng biển bạc, bao la từ Bắc chí Nam, là "nơi dân mình đoàn tụ", ĐN ngọt ngào như câu
hò điệu hát:
Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
Về lịch sử, Đất Nước được cảm nhận bằng chiều sâu của "Thời gian đằng đẵng". NKĐ đưa ta trở về với
khởi thủy cội nguồn dân tộc, dòng giống con người VN bằng truyền thuyết "Lạc Long Quân và Âu Cơ /
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng" lập ra triều đại đầu tiên của dân tộc đó là Vua Hùng (tục truyền tới 18
đời). Bởi vậy nhà thơ luôn nhắc nhở mọi người phải nhớ về cội nguồn dân tộc, phải biết gánh vác sứ
mệnh đất nước " Gánh vác phần người đi trước để lại", duy trì giống nòi dân tộc " Yêu nhau và sinh con
đẻ cái" và nhất là phải nhớ đến ngày giỗ Tổ vào ngày 10.3 âm lịch hằng năm " Hằng năm ăn đâu làm đâu/
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ". Đó chính là truyền thống uống nước nhớ nguồn, một đạo lí bất di bất
dịch của dân tộc.
ĐN hiện diện và kết tinh trong mỗi con người, trong anh và em:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước


Khi hai đứa cầm tay
Đất nước trong ta hài hòa nồng thắm
Khi hai đứa cầm tay mọi người
Đất nước trong ta vẹn tròn to lớn
Đất nước là của anh và em và cũng là của tất cả mọi người. Anh và em là hai tế bào trong hàng triệu triệu
tế bào góp mình dựng xây đất nước. Đất nước không ở đâu xa mà kết tinh, hóa thân trong cuộc sống của
mỗi con người. Sự sống mỗi cá nhân không chỉ là riêng của cá nhân mà còn là của Đất nước, bởi mỗi
cuộc đời đều được thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc, của nhân dân, mỗi
cá nhân phải có trách nhiệm gìn giữ, phát triển nó, truyền lại cho các thế hệ tiếp theo.
Cầm tay là một biểu tượng của tình yêu, của tình đoàn kết dân tộc. Khi hai đứa cầm tay, tình yêu trong
anh và em làm cho đất nước bỗng hài hòa nồng thắm. Nhưng khi hai đứa hòa mình vào mọi người, hòa
cái riêng vào cái chung của cộng đồng thì đất nước vẹn tròn to lớn. Tinh thần đoàn kết của khối đại đoàn

thần dân tộc của tuổi trẻ đô thị miền Nam, giúp thanh niên vùng địch tạm chiếm nhận rõ bộ mặt xâm lược
của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu
tranh hòa nhập với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc.
Đất nước là chủ đề được quan tâm hàng đầu của nền Văn học Việt Nam - nền văn học của một dân tộc
4000 năm dựng nước , giữ nước. Từ trong lịch sử xa xưa... những nhà tư tưởng lớn, những nhà văn lớn
của dân tộc ta đã từng nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân trong lịch sử”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên
dân” (Nguyễn Trãi).
Các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ đã phát biểu một cách thấm thía cảm nhận mới mẻ về đất nước. Song tư
tưởng Đất nước là của nhân dân có lẽ được kết tinh hơn cả trong trích đoạn “Đất nước” của Nguyễn Khoa
Điềm trong Trường ca Mặt đường khát vọng”.
Nguyễn Khoa Điềm đã kết hợp giữa chính luận và trữ tình để trình bày những cảm nhận và suy tưởng về
Đất Nước dưới hình thức lời trò chuyện tâm tình giữa đôi lứa yêu nhau. Đất Nước được cảm nhận toàn
vẹn từ nhiều bình diện: Trong chiều dài của thời gian lịch sử, trong bề rộng của không gian địa lý, trong
tầm cao của đời sống văn hóa, phong tục, tâm hồn tính cách cha ông... Ba phương diện đó gắn bó với
nhau làm nổi bật tư tưởng cơ bản: Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân.
Cảm nhận mới mẻ về Đất Nước
Đất nước là sự thống nhất giữa riêng và chung, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa thế hệ này với thế hệ
khác.
Hai chữ Đất nước trong toàn chương và trong đoạn trích được viết như một mĩ từ thể hiện tình cảm thiêng
liêng sâu sắc của nhà thơ với đất. Sự vỡ tách và nhập ghép 2 âm tiết: đất nước tạo nên một phát hiện
đượm phong vị triết học:
“Đất là nơi anh đến trường... nồng thắm”
Anh là đất - phù hợp với khí chất vững vàng kiên định, em là nước thật dịu dàng nữ tính. Khi nói về anh,
về em thì Đất - nước tách riêng, khi anh em hò hẹn đại từ nhân xưng chuyển hóa thành “Ta” thì đất nước
gắn liền bên nhau hài hòa nồng thắm. Khi tách riêng ra thì “Đất là hòn núi bạc”, Nước là “Biển khơi”, khi
hợp nhất lại “Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ”. Khi tách riêng ra “Đất là nơi chim về”, “Nước là nơi
rồng ở” khi hợp nhất lại “Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”. Nguyễn Khoa Điềm thể hiện đầy
xúc động cảm nhận mới mẻ về đất nước: Đất nước không chỉ bên ta, quanh ta mà cả trong ta. Điệp ngữ
Đất Nước vang lên như một khúc nhạc thiêng tấu lên suốt chiều dài đoạn thơ. Đất Nước là 2 tế bào khởi
đầu cho mọi sự sinh thành.

không gian đời thường, thời gian hiện tại “Miếng trầu của bà, búi tóc của mẹ bây giờ”. Sự co giãn trong
từng câu thơ (ngắn, dài xen kẽ), cách mở rộng nghĩa trong trường liên tưởng, lối đối xứng xưa nay để
tương sinh, cái huyền ảo và đời thường đặt cạnh nhau khiến Đất nước được cảm nhận như sự thống nhất
của các phương diện văn hóa, truyền thống phong tục, cái hàng ngày và cái vĩnh hằng, trong đời sống của
mỗi cá nhân và cả cộng đồng.
Thành công của đoạn thơ ở chỗ Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng chất liệu văn hóa dân gian để làm nên các
hình ảnh thơ của mình. Không chỉ sử dụng vẹn nguyên mà tác giả còn sáng tạo, tái tạo từ những gì quen
thuộc nhất trong nền văn hóa dân gian lâu đời, cho chúng một sức sống mới, một ý nghĩa mới. Những câu
ca dao, tục ngữ, thành ngữ, truyền thuyết quen thuộc nhưng khi đi vào bài thơ đã lấp lánh ánh sáng tài
năng, tâm hồn tình cảm Nguyễn Khoa Điềm:
“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nối nhớ thầm”
Đất nước có trong tình yêu thương của mẹ cha trong khoảnh khắc bồi hồi thầm thương trộm nhớ của mỗi
người. Sự đậm đặc của yếu tố dân gian và cách nhìn cách thể hiện mới mẻ đã tạo ra một bầu khí quyển
độc đáo huyền ảo bao trùm suốt đoạn thơ với những câu thơ có khả năng ngân vang trong cõi tiềm thức
và cả vô thức của người Việt.
Ngày xưa khi định nghĩa về đất nước, Lý Thường Kiệt phải thiêng hóa qua “đế cư” “thiên thư” Nguyễn
Đình Chiểu phải mượn hình ảnh kì vĩ “Nhật nguyệt chói lòa”, “xa thư đồ sộ” để trang trọng hóa đất nước.
Còn ở đây, trong trích đoạn “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm, ngôn từ đậm chất liệu văn hóa dân gian
đã nỗ lực bình dị đất nước, Nguyễn Khoa Điềm có công đưa đất nước từ trời cao thượng đế, ngai vàng đế
vương xuống miếng trầu của bà, búi tóc của mẹ, hạt gạo một nắng hai sương nuôi dưỡng cộng đồng Việt,
cái cột cái kèo trong mái ấm thân thương của mỗi gia đình... Đất nước thân thương giản dị xiết bao. Sử
dụng chất liệu văn hóa dân gian không còn là thủ pháp nghệ thuật mà là một khám phá mới mẻ sâu xa của
tình yêu về hình tư¬ợng Đất nước. Văn hóa dân gian là của nhân dân... Chất liệu văn hóa dân gian trong
ngôn ngữ và hình ảnh thơ đã tập trung thể hiện chủ đề của toàn tác phẩm: Đất nư¬ớc này là đất nước của
nhân dân.
Tư tưởng đó đã khẳng định những thắng cảnh thiên nhiên kì thú: Núi vọng phu, hòn trống mái... có mối
liên hệ máu thịt với đời sống dân tộc. Tác giả đã khái quát sâu sắc đầy sức thuyết phục:
“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi


Trách nhiệm của mỗi cá nhân không chỉ là bổn phận bảo vệ biên cương địa giới, tiếp nối truyền thống
lịch sử, mà còn ở việc bảo lưu văn hóa phong tục, giữ gìn nét đẹp tâm hồn tính cách dân tộc. Trách nhiệm
của mỗi người đối với đất nước trong hiện tại là sự trân trọng đối với quá khứ là xây dựng nền tảng cho
tương lai, tạo sức sống trường cửu của dân tộc. Đất nước không chỉ là một khách thể ở ngoài mỗi chúng
ta mà tồn tại ngay trong cơ thể, sự sống của mỗi con người. Sự sống của mỗi cá nhân chỉ có ý nghĩa trong
sự trường tồn của đất nước.
III.Kết luận
Đất nước là đề tài, cảm hứng chủ đạo của thơ ca kháng chiến chống Mĩ. Nguyễn Khoa Điềm nhận thức
sâu sắc vai trò và sự đóng góp to lớn, những hi sinh vô vàn của nhân dân trong cuộc chiến tranh dài lâu và
cực kì ác liệt này. Tư tưởng đất nước của nhân dân từ trong văn học truyền thống đã được Nguyễn Khoa
Điềm phát triển đến đỉnh cao, mang tính dân chủ sâu sắc. Chất liệu văn hóa dân gian được nhà thơ sử
dụng nhuần nhuyễn, biến ảo đầy sáng tạo chính là nét đặc sắc thẩm mĩ thống nhất với tư tưởng “đất nước
của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” của bài thơ.
(Sưu tầm) .
Tham khảo thêm bài phân tích này nữa:


/> />



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status