Lời mở đầu
Toàn cầu hóa là một xu hướng trong tất cả mọi lĩnh vực của thế giới ngày nay
văn hóa, ngôn ngữ mà đặc biệt là kinh tế. Giống như một xu hướng khách quan khi
mà một nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu lưu thông vốn càng vươn lên một
mức cao hơn, chính vì nguyên nhân đó dẫn đến một hệ quả là càng ngày sẽ càng có
nhiều tổ chức tín dụng ra đời. Hệ quả này có mặt tốt là nó sẽ giúp đáp ứng được
những nhu cầu về tài chính mà đặc biệt là vốn của các thành phần trong nền kinh tế,
thế nhưng mặt xấu sẽ xảy ra một khi chúng ta không thể quản lý được những hoạt
động tài chính ngày càng phức tạp hơn đang diễn ra như hiện nay. Tài chính có thể
được xem như “mạch máu” của một nền kinh tế, khi “mạch máu” vỡ chắc hẳn các bạn
cũng biết nó sẽ để lại những hậu quả cũng như những di chứng gì, một bài học mới
nhất cho chúng ta vẫn còn được nhắc đến cho đến ngày hôm nay – Khủng hoảng tài
chính Mỹ 2007-2008. Hoạt động tài chính ngày nay, mà đặc biệt là hoạt động tín
dụng vô cùng đa dạng và phức tạp, cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều những tổ
chức tín dụng thì việc quản lý là vô cũng khó khăn và nhiều thách thức. Đa số các
quốc gia đều cố gắng tạo ra những khung pháp lý hoàn chỉnh nhất để tạo điều kiện
cho sự phát triển của hoạt động tín dụng nhưng đồng thời cũng có thể quản lý, kiểm
soát nó. Vậy thì Việt Nam ta đã có những biện pháp, những hành động gì để đưa hoạt
động tín dụng phát triển một cách lành mạnh và hoạt động có hiệu quả?
Ngày 01/01/2011, sẽ là ngày mà Luật các tổ chức tín dụng 2010 chính thức có
hiệu lực. Vậy với những quy định mới, những điều được sửa đổi, bổ sung so với Luật
các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung 2004) thì nó sẽ có tác động như thế nào
đến hoạt động tín dụng trong thực tế? Và nó đã thật sự khắc phục được những bất
cập của Luật các tổ chức tún dụng 1997 hay chưa? Đó là những câu hỏi mà nhóm
chúng tôi sẽ trả lời trong bài tiểu luận “ So sánh, phân tích, đánh giá Luật các tổ chức
tín dụng 1997 và 2010 về hợp đồng tín dụng cho vay”. Bài tiểu luận sẽ cho các bạn
những cái nhìn tổng quan về một vấn đề rất thời sự khi mà cái mốc ngày 01/01/2011
đang đến rất gần, đồng thời nó sẽ giúp các bạn hiểu và nhận biết được những điểm
mới, những tiến bộ cũng như những bất cập còn tồn tại trong Luật các tổ chức tín
dụng 2010.
Với những ý kiến chủ quan, kiến thức cũng như tài liệu tham khảo còn có
..............................................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................................................
2
Phụ lục viết tắt
TCTD Tổ chức tín dụng
BLDS Bộ Luật dân sự 2005
BLTTDS Bộ Luật tố tụng dân sự
NHNN Ngân hàng nhà nước
LDN Luật doanh nghiệp
HĐTD Hợp đồng tín dụng
DN Doanh nghiệp
NHTM Ngân hàng thương mại
HĐDS Hợp đồng dân sự
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
HĐBĐ Hợp đồng bảo đảm
3
Mục lục
4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1 Khái niệm
Quan hệ tín dụng vay mượn giữa TCTD (bên cho vay) và các chủ thể khác
trong nền kinh tế (bên đi vay) là quan hệ kinh tế nhằm chuyển giao và sử dụng tạm
hiện bản chất của quan hệ pháp luật dân sự. Quy luật giá trị đòi hỏi các bên chủ thể
khi tham gia các quan hệ tín dụng phải bình đẳng với nhau, không ai được viện lý do
khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xã hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để
tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ tín dụng. Hơn nữa, ý chí tự nguyện của các bên
chủ thể tham gia hợp đồng chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên
mọi phương diện. Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận những HĐTD được giao
kết thiếu sự bình đẳng và ý chí tự nguyện của một trong các bên đi vay hoặc bên cho
vay. Tuy nhiên, trên thực tế thì việc đánh giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm
ý chí tự nguyện của các bên hay chưa, trong một số trường hợp lại là một công việc
5
hoàn toàn không đơn giản và khá phức tạp bởi nhiều nguyên do chủ quan và khách
quan khác nhau, đòi hỏi sự dung hòa lợi ích giữa các bên.
Ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ quan bên trong và sự bày tỏ ý
chí ra bên ngoài của chủ thể. Chính vì vậy, sự thống nhất ý chí của chủ thể giao kết
hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trong nội dung hợp đồng mà chủ thể này đã giao kết
chính là cơ sở quan trọng để xác định một hợp đồng đã đảm bảo nguyên tắc tự
nguyện hay chưa. Hay nói cách khác, việc giao kết hợp đồng chỉ được coi là tự nguyện
khi hình thức của hợp đồng phản ánh một cách khách quan, trung thực mong muốn,
nguyện vọng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng. Do đó, theo quy định của pháp
luật thì tất cả những hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe doạ
đều không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện khi giao kết và do đó bị vô hiệu.
1.3 Hình thức của hợp đồng tín dụng
Có thể nói hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản nhất của các TCTD vì nó
mang lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các tổ chức này. Thế nhưng việc cho vay luôn
luôn tồn tại rủi ro dù thấp hay cao, chính vì vậy các TCTD luôn đặt ra một mục tiêu
hàng đầu đó là bảo toàn nguồn vốn tín dụng của mình. Để thực hiện được điều này
thì quyền và nghĩa vụ của các bên (TCTD và bên đi vay) phải cụ thể.
HĐTD bản chất là một hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các pháp nhân hay
cá nhân để thỏa mãn nhu cầu về vốn. Do đó, pháp luật quy định các chủ thể khi tham
gia vào quan hệ tín dụng phải thỏa thuận bằng văn bản gồm cả văn bản viết và văn
thể thay thế cho một bản HĐTD. Tương tự, khế ước nhận nợ cũng thường liệt kê lại
một cách đầy đủ những điểm chủ yếu của HĐTD, nên trong nhiều trường hợp cũng
đồng nghĩa với một HĐTD. Do HĐTD được làm kỹ như vậy, nên rất ít khi xảy ra tranh
chấp về chính HĐTD, mà thường là tranh chấp liên quan đến việc xử lý tài sản bảo
đảm để trả nợ.
Đi cùng với các HĐTD thường có các hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
bằng tài sản. Hiện nay theo quy định thì các HĐBĐ tiền vay là các hợp đồng cầm cố,
thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản phải được lập thành văn bản; có thể lập thành văn
bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính
2
.
1.4 Phân loại hợp đồng tín dụng
1.4.1 Căn cứ vào tính chất có đảm bảo của khoản vay
HĐTD có đảm bảo bằng tài sản: là hợp đồng có sự thoả thuận để cho khách
hàng vay được sử dụng một số tiền của mình trong một thời hạn nhất định với điều
kiện có hoàn trả trên cơ sở đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp của bên vay hoặc
có sự bảo lãnh của người thứ ba.
HĐTD không có đảm bảo bằng tài sản: là sự thỏa thuận cho khách hàng vay
vốn không kèm theo điều kiện bên vay phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc được bảo
lãnh bằng tài sản mà chỉ dựa vào uy tín của khách hàng.
Theo Điều 52 luật các TCTD quy định “các TCTD nhà nước được cho vay không
có bảo đảm theo chỉ thị của chính phủ”; bên cạnh đó theo nghị định 178/1999/NĐ-CP
quy định tại Điều 20 và 21 rằng “TCTD được lựa chọn khách hàng để cho vay không
có bảo đảm bằng tài sản khi cho vay vốn ngắn hạn, dài hạn để thực hiện các dự án
đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống đối với
khách hàng vay”.
Như vậy sự khác biệt giữa HĐTD không có đảm bảo và HĐTD có đảm bảo
bằng tài sản đó là điều kiện bắt buộc về tài sản đảm bảo tiền vay.Trong thực tiễn kí
kết và thực hiện HĐTD, ta có thể linh hoạt chuyển hóa từ quan hệ HĐTD không có
đảm bảo bằng tài sản thành quan hệ HĐTD có bảo đảm bằng tài sản.
sinh hoạt, tiêu dùng như mua sắm nhà ở, phương tiện đi lại.
Việc phân loại các HĐTD như trên có ý nghĩa thực tiễn như sau:
• Xác định đúng bản chất quan hệ tranh chấp là tranh chấp từ quan hệ vay
vốn hay quan hệ bảo đảm tiền vay, quan hệ hợp đồng kinh tế hay quan hệ
hợp đồng dân sự.
• Xác định đúng thẩm quyền của tòa án và luật áp dụng để giải quyết tranh
chấp.
8
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ NHỮNG BỔ SUNG, SỬA ĐỔI CỦA LUẬT CÁC TCTD 2010
VỀ NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG SO VỚI LUẬT CÁC TCTD 1997 SỬA
ĐỔI, BỔ SUNG 2004
2.1 Các chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng
2.1.1 Các chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng
Các chủ thể tham gia vào HĐTD thông thường là chính phủ, cơ quan nhà nước,
ngân hàng, tổ chức quốc tế, DN, cá nhân,… tùy thuộc vào các quan hệ tín dụng, cụ thể
như sau:
2.1.1.1 Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các
TCTD với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm DN, cá nhân, tổ chức
xã hội, cơ quan nhà nước.
2.1.1.2 Tín dụng nhà nước
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với DN, các tổ chức
kinh tế - xã hội và các cá nhân. Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn những
nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp
ứng; nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi
nhọn và khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản
lý, điều hành vĩ mô.
2.1.1.3 Tín dụng tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa dân cư với DN, ngân hàng và các
công ty cho thuê tài chính. Trong đó dân cư là người đi vay; ngân hàng, công ty cho
4
Thông thường, để cho một đối tượng vay, các TCTD phải thực hiện thẩm tra
những người đi vay theo nhiều tiêu chí nhất định như về tài sản đảm bảo, về khả
năng trả nợ trong tương lai,… Các đối tượng như thành viên hội đồng quản trị, tổng
giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc), ban kiểm soát của các TCTD
có thể là chủ sở hữu của TCTD hoặc là những người trực tiếp quản lý, điều hành,
kiểm tra giám sát hoạt động của TCTD. Như thế, nếu cho các đối tượng này hoặc
những người thân của họ vay có thể dẫn đến tình trạng những người thẩm định, xét
duyệt cho vay không thực hiện đúng quy trình thẩm tra người đi vay, và đồng ý cho
vay mặc dù không đảm bảo những điều kiện cần thiết, từ đó có thể tạo ra nhiều rủi ro
hơn cho các TCTD.Vì vậy, để hạn chế các hoạt động cho vay trong nội bộ một TCTD,
không cho phép một hoặc một số cá nhân, tổ chức có thể thao túng hoạt động của
TCTD, tạo ra một môi trường bình đẳng trên thị trường tiền tệ để các tổ chức tín
dụng phát triển, hạn chế được việc khép kín trong ngành, bảo đảm nguyên tắc cạnh
tranh bình đẳng trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo an toàn trong hoạt động cho
vay, tránh tình trạng lạm quyền trong các TCTD, luật các TCTD 1997 cấm cho vay đối
với các đối tượng trên.
Ngoài việc không cho phép các đối tượng trên vay, luật các TCTD năm 1997
còn không cho vay đối với những khách hàng được các đối tượng trên bảo lãnh
5
.
Ngoài ra, điều này không áp dụng đối với các TCTD là hợp tác vì loại hình các TCTD
này là tương trợ vốn giữa các thành viên
6
. Do đó, đã là thành viên của TCTD hợp tác
đều có thể vay tại TCTD đó.
Tuy nhiên, việc quy định như vậy, có nhiều điểm là chưa rõ ràng, gây khó khăn
khi áp dụng. Thứ nhất, do việc xác định các loại hình TCTD
7
còn thiếu nên dẫn đến
không cho vay đối với những người có quyền điều hành, quản lý trong các TCTD, và
đồng thời cũng quy định rõ ràng việc cấm cho vay với các tổ chức góp vốn có người
đại diện là thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, thành viên góp vốn, chủ sở
hữu của TCTD là công ty cổ phần hay là công ty TNHH và những người có quan hệ
gia đình (Cha, mẹ, vợ, chồng, con) với các đối tượng trên. Hơn nữa, luật cũng đã bỏ
đối tượng người thẩm định, xét duyệt cho vay ra khỏi các đối tượng bị cấm cho vay
8
.
Việc quy định như vậy, rõ ràng là cụ thể, chặt chẽ, phù hợp hơn với tình hình thực tế.
Ngoài ra đối với các loại hình quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô, luật các
TCTD năm 2010 không áp dụng việc cấm cho vay với các đối tượng đã nêu
9
thay cho
TCTD là hợp tác ở luật các TCTD năm 1997.
Bên cạnh những điểm sửa đổi, luật các TCTD năm 2010 cũng bổ sung một số
điểm mới rất chặt chẽ nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của các TCTD.
Ngoài việc không chấp nhận cho vay đối với những khách hàng được đảm bảo bởi
các đối tượng không được phép cho vay như luật các TCTD năm 1997, luật các TCTD
năm 2010 còn không cho phép các TCTD đảm bảo cho các đối tượng này đi vay tại
các TCTD khác.
Trên tinh thần bảo đảm hoạt động của các TCTD, luật các TCTD năm 2010 còn
bổ sung thêm một số đối tượng không được phép cho vay mà hoàn toàn không được
8 Điều 126, khoản 1, Luật các TCTD năm 2010
9 Điều 126, khoản 2, Luật các TCTD năm 2010
11
nhắc đến trong luật các TCTD năm 1997. Cụ thể, điều 126, khoản 4, khoản 5, khoản 6
quy định như sau:
4. TCTD không được cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà TCTD nắm quyền kiểm soát.
5. TCTD không được cấp tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ
Từ sự bất cập này, tại khoản 1 Điều 127 luật các TCTD 2010 đã quy định cụ thể
hơn và bổ sung thêm về các đối tượng hạn chế cấp tín dụng:
- Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại TCTD, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài; Thanh tra viên đang thanh tra tại TCTD, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Kế toán trưởng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng;
12
- Các công ty con, công ty liên kết của TCTD hoặc doanh nghiệp mà TCTD
nắm quyền kiểm soát.
Bên cạnh đó, luật quy định việc cấp tín dụng đối với những đối tượng hạn chế
cấp tín dụng phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng
thông qua và công khai trong TCTD. Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với “một” công
ty con, công ty liên kết của TCTD hoặc doanh nghiệp mà TCTD nắm quyền kiểm soát
không được vượt quá 10% vốn tự có của TCTD; đối với “tất cả” các đối tượng này
không được vượt quá 20% vốn tự có của TCTD.
Như vậy điều 127 luật các TCTD 2010 đã quy định rõ ràng hơn so với Điều 78
luật các TCTD 1997 (sửa đổi bổ sung 2004) nhưng vẫn tồn tại một số bất cập như tại
điểm c khoản 1 của điều này, quy định về các cổ đông vẫn chưa được cụ thể. Một vấn
đề khác luật 2010 đã bổ sung thêm nhưng vẫn chưa rõ ràng đó là ở điểm đ khoản 1
“người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng”. Ở đây, luật các TCTD năm 2010 đã đưa
“người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng” từ đối tượng cấm cho vay trở thành đối
tượng hạn chế cho vay, tuy nhiên vẫn chưa giải thích rõ ràng về đối tượng này.
Một vấn đề mới phát sinh ở đây là theo luật các TCTD 2010, việc xác định lãi
suất cho vay là theo thoả thuận với rất nhiều mức khác nhau chứ không chỉ có một
mức lãi suất cứng nhắc như trước đây. Vậy nếu cho các đối tượng nói trên vay với
mức lãi suất thuộc loại thấp thì khó có thể kết luận là đã ưu đãi hay không ưu đãi về
lãi suất. Do đó, cần quy định cụ thể hơn về lãi suất cấp tín dụng cho những đối tượng
này.
2.1.2.3 Giới hạn cấp tín dụng
tài chính vi mô. Quy định này nhằm tránh trường hợp một khách hàng
sử dụng tên của nhiều người để vay vốn.
- Một quy định mới khác so với luật các TCTD 1997 có sửa đổi 2004 được
nêu tại khoản 2 điều 128 là “Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một
khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng
phi ngân hàng; tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và
người có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín
dụng phi ngân hàng”. Điều này cho thấy tổng mức dư nợ cấp tín dụng
đối với một khách hàng và tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một
khách hàng và người có liên quan áp dụng đối với tổ chức tín dụng phi
ngân hàng được quy định cao hơn so với các mức áp dụng đối với ngân
hàng thương mại. Quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế và thực
tiễn hoạt động của các TCTD vì các TCTD phi ngân hàng không nhận
tiền gửi của cá nhân và cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản của
khách hàng nên mức độ rủi ro ảnh hưởng đến hệ thống TCTD thấp hơn
nhiều so với các ngân hàng thương mại. Quy định này sẽ tạo điều kiện
cho các TCTD phi ngân hàng phát triển và hoạt động hiệu quả hơn.
- Ngoài ra, theo khoản 4, mức dư nợ cấp tín dụng quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này bao gồm cả tổng mức đầu tư vào trái phiếu do khách
hàng phát hành.
- Và theo khoản 8, tổng các khoản cấp tín dụng của một tổ TCTD, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài trong các trường hợp đặc biệt do Thủ
tướng Chính phủ quyết định mức cấp tín dụng không được vượt quá
bốn lần vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài.
Luật các TCTD 2010 đã nới lỏng hơn về hạn mức cấp tín dụng của các công ty
tài chính so với các NHTM (quy định cụ thể trong khoản 1,2). Việc nới lỏng này sẽ
giúp các công ty tài chính có điều kiện phát triển hơn, phù hợp với thực tế hiện nay.
Quy định này cũng nhằm hướng đến mục tiêu xây dựng các công ty tài chính thành
định chế tài chính mạnh hơn, với vai trò chủ yếu là môi giới tiền tệ, làm đầu mối để
Bà Đô Thị Thanh Thủy, đại diện cho Ngân hàng Ngoại hối Hàn Quốc (Korea Exchange
bank) - chi nhánh Hà Nội nói rằng hiện có ba ngân hàng Hàn Quốc hoạt động tại Việt
Nam với tổng vốn pháp định là 60 triệu đô la Mỹ. Trên thực tế, 15% của số vốn này
không đủ giải ngân cho một khách hàng của họ, hiện đã được giải ngân tới 20 triệu
đô la Mỹ vào một dự án ở Dung Quất. “60% khách hàng của ngân hàng chúng tôi có
dư nợ trên 4 triệu đô la Mỹ/khách. Do đó, điều khoản trên gần như không thể thực
hiện”
10
.
Thứ ba: Nếu xét ở góc độ pháp lý chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam
không phải là một pháp nhân độc lập mà là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng chính
quốc, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam
kết của chi nhánh tại Việt Nam, song lại bị giới hạn mức cấp tín dụng trong phạm vi
vốn được cấp, đồng thời lại phải có cam kết về bảo lãnh và bảo đảm trách nhiệm của
ngân hàng mẹ tại chính quốc. Những điều này có thể gây ra mâu thuẫn về mặt pháp
10 />15
lý và không khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Từ những hạn chế nêu trên nhóm có kiến nghị về quy định lại khoản 1, điều
128:
- Thứ nhất: Giữ nguyên quy định của Luật hiện hành, theo đó tổng mức
dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng của chi nhánh ngân hàng
nước ngoài không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng chính quốc.
- Thứ hai: Quy định tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng
của chi nhánh ngân hàng nước ngoài không vượt quá 15% vốn tự có
của chi nhánh ngân hàng nước ngoài cộng với vốn vay từ ngân hàng
chính quốc hoặc không vượt quá 25% vốn tự có của chi nhánh ngân
hàng nước ngoài. Hiện nay có một số nước trong khu vực cũng có quy
định về giới hạn cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài như ý
kiến chẳng hạn Singapore, Thái Lan, Philipin quy định là 25% vốn được
cấp của chi nhánh cộng vốn vay từ ngân hàng chính quốc; Hàn Quốc
chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏa mãn thì HĐTD mới có hiệu lực. Một số điều kiện
vay vốn thường gặp nhất trong các HĐTD, chẳng hạn:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy định của Pháp luật.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ (gốc và lãi) cho TCTD trong thời
hạn cam kết.
- Thực hiện đảm bảo tiền vay theo đúng quy định của Chính phủ, hướng
dẫn của NHNN Việt Nam và của bên cho vay.
- Đặc biệt đối với các khách hàng là DN bên cho vay có thể yêu cầu
khách hàng phải có mức vốn nhất định để tham gia vào phương
án/dự án xin vay vốn của mình.
Tùy từng hợp đồng mà tiêu chuẩn cụ thể khác nhau, tuy nhiên điều kiện về năng
lực chủ thể là điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ HĐTD nào.
2.2.2 Cấp tín dụng, phương thức cho vay
2.2.2.1 Cấp tín dụng
Theo Luật các TCTD 1997 ( sửa đổi năm 2004) quy định:
Điều 20 Khoản 10 giải thích: “ Cấp tín dụng việc TCTD thoả thuận để khách
hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay,
chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
Điều 49 quy định: “TCTD được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình
thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài
chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN”.
Nhận thấy rằng về vấn đề này luật TCTD 1997 (sửa đổi 2004) không bao quát
được loại hình cấp tín dụng bởi vì:
- Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho
thuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác trên cơ
sở hợp đồng cho thuê giữa các TCTD và khách hàng, qua đó khách hàng có thể
sử dụng tài sản thuê và thanh toán dần tiền thuê trong suốt thời hạn đã được
thoả thuận. Vì vậy, ta thấy TCTD chỉ thỏa thuận để khách hành sử dụng tài sản
4. Cho vay hợp vốn: Một nhóm TCTD cùng cho vay với một dự án vay vốn
hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một TCTD làm đầu mối
dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác.
5. Cho vay trả góp: khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định và thỏa
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo
nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
6. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sãn
sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
TCTD và khách hàng thỏa thuận về thời hạn hiệu lực của hạn mức tính dụng
dự phòng, mức phí chi trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
7. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sự dụng thẻ tín dụng: TCTD
chấp thuận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín
dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút
tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt đại là lý của TCTD. Khi cho vay phát
hành và sử dụng thẻ, TCTD và khách hàng phải tuân theo quy định của chính
phủ và NHNN việt nam vế phát hành và sử sụng thẻ tín dụng.
8. Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận
bằng văn bản chi vượt quá số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách
hàng phù hợp với quy định của chính phủ và NHNN Việt Nam về hoạt động
thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
9. Các phương thức cho vay khác: những phương thức mà pháp luật không
cấm, phù hợp với điều kiện hoạt động kinh doanh của TCTD và đặc điểm
khách hàng.
18
Qua đó ta thấy các tiện ích, sản phẩm của các TCTD rất đa dạng, không còn là
một nền kinh tế chỉ dựa vào tiền mặt mà rất nhiều các phương thức cho vay ra đời
nhằm khuyến khích quá trình cạnh tranh bình đẳng của các TCTD, phù hợp với sự
phát triển của thế giới.
Về cơ bản thì luật các TCTD năm 1997 (sửa đổi 2004) và 2010 đều thể hiện sự
đa dạng hóa các hình thức cấp tín dụng đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu kinh tế, nâng
sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho bản thân chủ đầu tư nói
riêng. Kết quả mang lại phải cụ thể, có thể định lượng, được tạo ra từ các hoạt động
khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án.
Đồng thời chứng minh tài chính cũng là một yếu tố quan trọng để TCTD quyết
định có nên cho vay hay không đối với khách hàng đó. DN chứng minh tài chính thông
qua báo cáo tài chính. Ngoài ra DN cũng phải cung cấp cho các TCTD những tài liệu
19
liên quan đến DN để các nhân viên của TCTD chấm điểm tín dụng, song song với việc
thẩm định tính khả thi của dự án đầu tư nhằm giảm rủi ro cho các TCTD.
Nếu thực sự khách hàng có thể đáp ứng được yêu cầu trên thì mới xét xem có
nên cho vay hay không.
Sau khi quá trình xét duyệt cho vay được hoàn tất thì khách hàng có thể sử
dụng vốn vay vào việc kinh doanh của mình nhưng phải đúng với mục đích kinh
doanh đã cam kết với TCTD.
Đối với vay vốn dân sự hoặc thương mại thông thường, thì hầu như bên cho
vay không quan tâm đến mục đích sử dụng vốn vay, trong khi đối với HĐTD thì lại là
một trong điều kiện quan trọng nhất.
Để bảo đảm được việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và việc trả nợ đúng
hạn, ngân hàng có trách nhiệm và có quyền kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn
vay và trả nợ. Đây cũng là điều hầu như không xuất hiện trong các hợp đồng vay vốn
trong các quan hệ giữa cá nhân và các DN. Điều này được quy định tại khoản 3 của
điều 53 luật TCTD 1997 (sửa đổi bổ sung năm 2004): “TCTD có trách nhiệm và có
quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách
hàng”.
Tại điều 94 luật TCTD 2010 cũng có những thay đổi nhỏ so với điều 53 luật
TCTD 1997(sửa đổi bổ sung 2004) đó là : “TCTD có quyền, nghĩa vụ kiểm tra, giám
sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng”. Tuy nhiên chỉ là thay đổi về cách
sử dụng từ thay cụm từ “trách nhiệm và quyền” thành “quyền, nghĩa vụ”, nội dung
hoàn toàn không thay đổi.
Về bản chất, quá trình sử dụng vốn vay và sử dụng vốn tự có của DN đều được
tình trạng vỡ nợ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng. Tuy nhiên không
phải ban kiểm tra giám sát nào cũng làm việc có hiệu quả, trung thực. Yếu tố kiểm tra
giám sát ở đây còn chịu tác động của một số yếu tố ảnh hưởng khác...
Lấy thí dụ như việc cho vay của các TCTD đối với Vinashin. Chính việc giám sát
vốn vay không chặt chẽ dẫn đến việc Vinashin sử dụng vốn vay không đúng mục đích
vay. Như chúng ta đã biết Vinashin vốn là tập đoàn kinh tế với chức năng chính là
chuyên đóng tàu, vận tải biển, tuy nhiên họ lại sử dụng vốn vay đầu tư vào lĩnh vực
không đúng ngành nghề kinh doanh như đầu tư vào bất động sản, đầu tư sang các
lĩnh vực khác, nhất là những lĩnh vực đầu tư dàn trải như bia, xi măng…Mặt khác
lãnh đạo Vinashin có năng lực quản trị DN yếu kém, báo cáo không đúng thực trạng
về sử dụng vốn, về đầu tư, về phát triển thêm DN, ngành nghề kinh doanh và tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi lần báo cáo số liệu khác nhau,kinh doanh lỗ thì
họ lại báo có lãi…Điều này dẫn đến Vinashin vẫn chưa thể trả số tiền nợ quá hạn vay
tại các TCTD, khiến cho tổng số tiền vay và lãi tiếp tục tăng lên, theo ước tính số tiền
nợ các tổ chức có thể lên tới hơn 80000 tỷ đồng, không chỉ nợ các tổ chức Vinashin
còn đang nợ chồng chất lương và thu nhập của cán bộ, nhân viên tại hàng loạt nhà
máy, công ty con, công ty thành viên. Việc Vinashin vẫn còn thuộc sở hữu của nhà
nước, theo đó chính phủ vẫn bảo lãnh các khoản nợ cho Vinashin không chỉ các
khoản nợ thuộc vốn nhà nước mà còn những khoản nợ liên quan đã phát sinh và sẽ
phát sinh đối với mọi chủ nợ khác. Một số lãnh đạo trong Vinashin cứ quan niệm đầu
tư thì cứ đầu tư lỗ thì đã có nhà nước bảo lãnh. Việc Vinashin hưởng quá nhiêu đặc
quyền, vô hình trung đã tách rời trách nhiệm lãnh đạo tập đoànvà nghĩa vụ trả nợ .
Chính điều này làm cho các TCTD thu hồi nợ và lãi gặp nhiều khó khăn.
12
Ngoài ra điểm khác biệt của điều 94 của luật TCTD 2010 là có thêm khoản thứ
4 :“TCTD có quyền yêu cầu khách hàng vay báo cáo việc sử dụng vốn vay và chứng
minh vốn vay được sử dụng đúng mục đích vay vốn” hoàn toàn không có trong luật
TCTD 1997 (sửa đổi bổ sung năm 2004). Sự thay đổi này làm tăng thêm quyền lực
cho các TCTD, các TCTD có thêm sự linh hoạt trong hoạt động kiểm tra giám sát
nguồn vốn cho vay của chính mình, có thể thông qua việc báo cáo về tình hình sử
nhuận của ngân hàng sẽ giảm xuống theo. Khách hàng được áp dụng hình thức đảo
nợ này thường là những khách hàng tốt (khách hàng có giao dịch lớn, có đóng góp
cao, trả nợ đều đặn và là khách hàng tiềm năng lớn …), nên ngân hàng không muốn
liệt những khách hàng này vào danh sách nợ xấu vì sẽ ảnh hưởng đến những giao
dịch của khách hàng này và ngân hàng sau này. Nói chung, về nguyên tắc thì cách này
không tốt và cực kì nguy hiểm, bởi khách hàng làm ăn không hiệu quả mà “tái vay”
thì lại càng nguy hiểm.
Thứ hai, khách hàng đang làm ăn tốt, khi món nợ đáo hạn nhưng khách hàng
chưa thu tiền về kịp khi đó họ sẽ vay ở những nguồn vốn bên ngoài trước, sau đó trả
nợ và xin vay lại vì đang làm ăn tốt. Khi tiền về họ trả và tiếp tục tái kinh doanh.
Cuối cùng là việc Chính phủ đưa ra chính sách hỗ trợ lãi suất 4%, áp dụng cho
các khoản vay mới kể từ ngày 1/2/2009
13
đã tạo lý do cho các đề xuất đảo nợ. Khi
đảo nợ thì khách hàng qua đó trả được những khoản vay cũ với lãi suất cao, gánh
nặng nợ nần sẽ giảm đi, mặt khác tình trạng và khả năng xảy ra nợ xấu với các ngân
hàng cũng sẽ giảm.
Một nền kinh tế chấp nhận cho vay đảo nợ tức là chấp nhận cách làm ăn
không mang lại hiệu quả, đồng thời gây thất thoát tài sản và gây rối ren cho công tác
quản lý. Nhưng thực sự đối với nền kinh tế hiện nay của nước ta thì việc không có
13 Điều 3, khoản 3 quyết định số 131/QD-TTG do Thống đốc NHNN ban hành về việc hỗ trợ lãi suất 4% cho
các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất – kinh doanh.
22
đảo nợ là điều không thể bởi vì việc đảo nợ vẫn còn đem lại cho cả khách hàng và
ngân hàng một số lợi ích nhất định. Hơn nữa luật TCTD 2010 sẽ được ban hành trong
năm tới cũng chưa có bất cứ quy định cụ thể nào cấm đảo nợ.
Tóm lại, đảo nợ là một vấn đề hết sức nhạy cảm nên cần phải thận trọng trong
khi quyết định có cho phép đảo nợ hay không. Phân tích khía cạnh rủi ro đạo đức cho
thấy đảo nợ nếu không được kiểm soát tốt có thể làm xấu đi tính lành mạnh của hệ
thống tài chính. Thay vì cho phép đảo nợ thì Chính phủ nên có chính sách khuyến
được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc
và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong HĐTD giữa TCTD và khách hàng.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của HĐDS nói chung và HĐTD nói riêng là
nguyên tắc thỏa thuận. Theo pháp luật quy định, thời hạn cho vay của HĐTD được
thỏa thuận dựa vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu
23
tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của các TCTD
14
. Quy định
này là cơ sở pháp lý giúp người đi vay và cho vay xác định thời hạn cho vay một cách
chính xác nhất. Ngoài ra, việc xác định thời hạn cho vay dựa trên nguyên tắc thỏa
thuận nhằm đảm bảo lợi ích của cả hai bên, cũng như đạt được sự đồng thuận cao
nhất trong HĐTD.
Ngoài ra, để đảm bảo việc hoàn trả nợ của khách hàng, tránh rủi ro cho các
TCTD, pháp luật không cho phép thời hạn cho vay vượt quá thời hạn hoạt động còn
lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam của các tổ chức
Việt Nam và nước ngoài, cũng như không cho phép thời hạn cho vay vượt quá thời
hạn được phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam của các cá nhân là người nước
ngoài.
Một yếu tố khác cần được nhắc đến trong thời hạn cho vay là kỳ hạn trả nợ.
Theo điều 3, khoản 3, Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành theo
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN thì kỳ hạn trả nợ là các khoảng thời gian trong
thời hạn cho vay đã được thoả thuận giữa TCTD và khách hàng mà tại cuối mỗi
khoảng thời gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ vốn vay cho TCTD.
Theo khái niệm trên, nếu xét về mặt ngôn từ thì kỳ hạn trả nợ và thời hạn cho
vay có điểm giống nhau đó là đều là căn cứ để xác định thời điểm khách hàng thực
hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Nhưng về bản chất hai khái niệm này có những điểm
khác nhau. Thời hạn cho vay là một thời gian, còn kỳ hạn là các khoảng thời gian
nằm trong thời hạn cho vay đó. Cho nên, khi hết thời hạn cho vay, khách hàng phải
trả hết nợ gốc và lãi, còn đến kỳ hạn trả nợ thì khách hàng có thể chỉ phải trả một
tác động đến tỷ lệ tăng cung tiền và tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong
quá trình này, thông thường NHNN đưa ra một tín hiệu rõ ràng về mức lãi suất cho
vay mà mình mong muốn. Dựa vào đó, các NHTM đưa ra mức lãi suất cho vay thích
hợp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn cũng như đảm bảo hoạt động của chính
mình.
Luật các TCTD 2010, tại khoản 1 và điều 91, quy định về lãi suất trong hoạt
động kinh doanh của TCTD như sau:“TCTD được quyền ấn định và phải niêm yết
công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh
doanh của TCTD.”
Đây mà một điểm mới mà không có trong luật các TCTD 1997 (sửa đổi, bổ
sung năm 2004). Theo quy định này, TCTD được quyền ấn định và phải niêm yết công
khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh
doanh của TCTD. Cũng theo quy định này NHNN sẽ trao quyền cho TCTD ấn định mức
lãi suất, phí cấp tín dụng trong các hoạt động ngân hàng của TCTD, không phụ thuộc
vào quy định của BLDS vì bản chất hoạt động kinh doanh ngân hàng của TCTD khác
về bản chất với hoạt động cho vay trong quan hệ dân sự thông thường. Việc cho phép
các TCTD được tự công bố lãi suất của mình, theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, không
có nghĩa là lãi suất được tự do thả nổi trên thị trường. Lãi suất mà các TCTD đưa ra
phải nằm trong giới hạn theo quy định của pháp luật.
Trong luật các TCTD 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004), các quy định về lãi
suất cho vay được đặt chung với các điều khoản trong HĐTD, cụ thể là tại điều 51
luật các TCTD 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004) quy định về lãi suất cho vay như
sau:“Việc cho vay phải được lập thành HĐTD. HĐTD phải có nội dung về điều kiện
vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình
thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác
được các bên thoả thuận.”.
Quy định trên có nghĩa là lãi suất cho vay được các bên thỏa thuận với nhau
khi kí HĐTD. Tuy nhiên, lãi suất thỏa thuận còn phải chịu điều chỉnh bởi điều 476
BLDS cho nên lãi suất cho vay do các bên thoả thuận không được vượt quá 150% lãi
suất cơ bản do NHNN công bố. Quy định này thực ra không nhằm áp đặt chế độ trần