Giáo Trình Điều Dưỡng Cơ Bản 2 - Pdf 31

BỘ Y TẾ

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN 2
(DÙNG CHO ĐÀO TẠO CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG)
Mã số: Đ.34.Z.02

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
HÀ NỘI  2007

Chỉ đạo biên soạn :
VỤ KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO  BỘ Y TẾ
Chủ biên :
PGS. TS. HOÀNG NGỌC CHƯƠNG
BSCKII. TRẦN ĐỨC THÁI


Những người biên soạn :
TS. LÊ VĂN AN
ThS. HỒ DUY BÍNH
BS. LÊ THỊ LỤC HÀ
ThS. TRẦN ĐÌNH HẬU
ThS. NGUYỄN THỊ KIM HOA
ThS. VÕ THỊ DIỆU HIỀN
TS. HOÀNG VĂN NGOẠN
ThS. PHAN THỊ TỐ NHƯ
BS. DƯƠNG THỊ NGỌC LAN
BS. NGUYỄN THỊ ANH PHƯƠNG
BSCKII. TRẦN ĐỨC THÁI
BS. ĐÀO NGUYỄN DIỆU TRANG
Tham gia tổ chức bản thảo :
ThS. PHÍ VĂN THÂM

Lần đầu xuất bản, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, các bạn sinh viên
và các độc giả để lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn.
VỤ KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

Bài 1
CHĂM SÓC CÁC GIAI ĐOẠN
PHÁT TRIỂN CỦA CƠ THỂ
MỤC TIÊU
1. Trình bày được đặc điểm sinh lý và bệnh lý của từng giai đoạn phát triển của cơ thể.
2. Trình bày được kế hoạch chăm sóc điều dưỡng theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể.

1. ĐẠI CƯƠNG
Cơ thể con người có những đặc điểm riêng về giải phẫu và sinh lý. Từ lúc thụ thai đến tuổi trưởng
thành và già đi, con người phải trải qua hai hiện tượng. Trước hết là sự tăng trưởng về lượng tức là sự
tăng trưởng tế bào ở các mô, dẫn đến sự trưởng thành. Hiện tượng thứ hai là sự thay đổi về chất (phát
triển) là sự thay đổi về cấu trúc của một số bộ phận, dẫn đến thay đổi về chức năng tế bào.
Quá trình tăng trưởng và phát triển của con người có tính chất toàn diện về thể chất, tinh thần và vận
động. Mỗi giai đoạn lớn lên và phát triển của con người có những đặc điểm riêng về sinh lý và bệnh lý.
Nhưng giữa các giai đoạn không có ranh giới rõ ràng, giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau, bao


gồm:
- Thời kỳ bào thai.
- Thời kỳ sơ sinh.
- Thời kỳ bú mẹ.
- Thời kỳ răng sữa.
- Thời kỳ thiếu niên.
- Thời kỳ dậy thì.
- Thời kỳ thanh niên.
- Thời kỳ trung niên.

Hình 1.1. Trẻ bị sứt môi, hở hàm ếch

- Bảo vệ và đề phòng các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm vi rút trong 3 tháng đầu của thai kỳ.
- Thận trọng khi dùng thuốc, tránh tiếp xúc với các yếu tố độc hại.
- Khám thai định kỳ, ít nhất 3 lần trong suốt thời kỳ thai nghén.
- Tiêm chủng đầy đủ để phòng các bệnh uốn ván, viêm gan.
2.2. Thời kỳ sơ sinh
Được tính từ lúc sinh cho đến hết 4 tuần tuổi (hình 1.2).

Hình 1.2. Trẻ sơ sinh

2.2.1. Đặc điểm sinh lý
- Trẻ bắt đầu thích nghi với môi trường sống ngoài tử cung, bắt đầu thở bằng phổi. Vòng tuần hoàn
chính thức hoạt động thay cho tuần hoàn nhau thai.
- Thay huyết sắc tố bào thai thành HbA1, giảm số lượng hồng cầu.
- Bộ máy tiêu hóa hoạt động, trẻ bú, nuốt và tiêu hóa được sữa mẹ.
- Hệ thần kinh phát triển chưa hoàn chỉnh nên trẻ ngủ hầu như suốt ngày.
- Sụt cân sinh lý, bong da, rụng rốn và có thể có vàng da.
- Ngay sau sinh trẻ không thích uống chất đắng, ngược lại thích chất ngọt. Trẻ có thể ngửi mùi sữa
mẹ, nên nhận được mẹ và tìm vú mẹ để bú.
2.2.2. Đặc điểm bệnh lý
- Các bệnh lý trước sinh: rối loạn sự hình thành và phát triển thai nhi như quái thai, teo ruột, hậu
môn không thủng, tim bẩm sinh...


- Các bệnh lý do sinh: sang chấn sản khoa, ngạt...
- Các bệnh mắc phải sau sinh: cơ thể non yếu nên trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn da, đường hô
hấp, đường tiêu hóa. Diễn tiến của bệnh thường nặng và dễ đưa đến nhiễm khuẩn huyết, do đó tỷ lệ tử
vong cao.
- Trẻ có thể bị xuất huyết não - màng não, vàng da tăng bilirubin tự do...


1.3).

a)

b)
Hình 1.3. Các đặc điểm phát triển sinh lý ở tuổi bú mẹ
a) Phát triển ngồi; b) Phát triển bò, đứng.

- Tuy vậy chức năng các bộ phận còn yếu, nhất là chức năng tiêu hóa, cho nên sữa mẹ là thức ăn tốt
nhất và phù hợp nhất cho trẻ trong giai đoạn này. Tình trạng miễn dịch thụ động giảm nhanh, trong khi
đó khả năng tạo globulin miễn dịch còn yếu.
2.3.2. Đặc điểm bệnh lý
- Do mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng cao, nhưng chức năng bộ máy tiêu hóa còn yếu nên trẻ dễ
bị rối loạn tiêu hóa, ỉa chảy, suy dinh dưỡng.
- Hệ xương phát triển nhanh, nếu không cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thì trẻ dễ bị thiếu
Vitamin D và hậu quả sẽ bị còi xương.
- Trẻ dưới 6 tháng thường được bảo vệ bởi kháng thể của mẹ như IgG truyền sang cho con qua nhau


thai và IgA qua sữa nên trẻ ít bị mắc các bệnh truyền nhiễm. Sau 6 tháng, miễn dịch đó giảm dần
trong khi miễn dịch của trẻ còn yếu nên dễ bị mắc các bệnh trong diện tiêm chủng mở rộng, viêm phổi
và viêm màng não mủ.
2.3.3. Chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh
- Phải đảm bảo sữa mẹ đầy đủ cho trẻ.
- Thực hiện chế độ ăn bổ sung đúng phương pháp để phòng ngừa suy dinh dưỡng, còi xương và
thiếu máu.
- Áp dụng loại thức ăn bổ sung theo mô hình ô vuông thức ăn: Sữa mẹ là trung tâm; Nhóm thức ăn
cơ bản gồm ngũ cốc và khoai; Nhóm thức ăn cung cấp prôtêin như thịt, cá, trứng, tôm, đậu; Nhóm cung
cấp vitamin, muối khoáng gồm rau và hoa quả; Nhóm cung cấp năng lượng như dầu, mỡ, bơ, đường.

2.4.3. Chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh
* Lứa tuổi nhà trẻ:
- Phải vệ sinh thân thể hằng ngày, rửa tay trước khi ăn.
- Hướng dẫn cho trẻ đi tiêu, đi tiểu đúng chỗ.
- Giáo dục cho trẻ dần dần có ý thức vệ sinh cá nhân và
giữ vệ sinh môi trường chung quanh.
- Sớm cách ly với những trẻ bị bệnh.

Hình 1.4. Trẻ dễ bị điện giật do chưa
phân biệt được các vật dụng nguy hiểm

- Tiêm chủng đúng lịch quy định.
- Không để những đồ dùng bén nhọn, dược phẩm, ổ cắm điện và các vật dụng nguy hiểm khác... vừa
tầm tay của trẻ.
- Cho trẻ tham gia sinh hoạt tập thể.
* Lứa tuổi mẫu giáo:
- Có chế độ dinh dưỡng hằng ngày phù hợp với sự phát triển của trẻ.
- Tiêm chủng nhắc lại theo lịch quy định.
- Cho trẻ tham gia hoạt động vui chơi giải trí ngoài trời.
- Giáo dục cho trẻ tinh thần lễ phép trong gia đình và ngoài xã hội.
- Tránh không cho trẻ tiếp xúc hay chứng kiến những hành vi thiếu đạo đức hay không lành mạnh ở
môi trường xung quanh.
2.5. Thời kỳ thiếu niên
Được tính từ 7 - 15 tuổi.
2.5.1. Đặc điểm sinh lý
- Chức năng các bộ phận đã trưởng thành. Trí tuệ phát triển nhanh, trẻ tiếp thu dễ dàng các kiến
thức, biết suy nghĩ và có thể phán đoán được.
- Hệ thống cơ phát triển nhanh. Vận động khéo léo, biết chơi các môn thể thao, nhảy múa sinh hoạt
tập thể.
- Răng vĩnh viễn thay thế dần cho răng sữa.

định táo bạo, những hành vi phạm pháp hoặc những hành động không lường trước được.
- Những bệnh khác tương tự như người lớn.
2.6.3. Chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh
- Phải giáo dục cho trẻ biết yêu thích và tập luyện thể dục thể thao như bóng đá, bóng chuyền, bơi
lội, cờ tướng, cờ vua, thể dục dụng cụ...
- Giáo dục cho trẻ tham gia hoạt động đoàn thể và công ích xã hội.


- Giáo dục sự trong sáng và lành mạnh trong quan hệ nam, nữ.
- Đặc biệt chú trọng giáo dục các bệnh nguy hiểm do quan hệ tình dục, do nghiện hút ma túy gây
nên...
2.7. Thời kỳ thanh niên
Được tính từ 20 - 39 tuổi.
2.7.1. Đặc điểm sinh lý
- Giai đoạn thanh niên là giai đoạn hoàn tất việc tăng trưởng về mặt sinh lý ở tuổi 20, ngoại trừ phụ
nữ mang thai và cho con bú.
- Phát triển và hoàn thiện về mặt tư duy và ngôn ngữ, về các hành vi tâm lý và xã hội.
- Tình dục: sự phát triển đầy đủ về mặt sinh lý cơ thể giúp thanh niên có một đời sống tình dục hoàn
chỉnh cả về tâm lý và thể chất.
2.7.2. Đặc điểm bệnh lý
- Ít gặp các bệnh lý nghiêm trọng như ở những người lớn tuổi. Tuy nhiên lứa tuổi này thường có
khuynh hướng bỏ qua các triệu chứng thực thể và thường trì hoãn việc điều trị.
- Các nguy cơ về sức khoẻ ở lứa tuổi này bao gồm:
+ Do tiền sử gia đình: có thể đặt thanh niên vào mối nguy cơ phát triển bệnh lý vào thời kỳ trung
niên hay tuổi già. Một thanh niên có bố và ông bị nhồi máu cơ tim thì bản thân thanh niên đó đến thời kỳ
trung niên hoặc tuổi già cũng có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim. Sự hiện diện của một bệnh lý mạn tính nào
đó trong gia đình cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh của các thành viên trong gia đình.
+ Do thói quen vệ sinh cá nhân: cũng như đối với các nhóm tuổi khác, những thói quen vệ sinh cá
nhân không tốt có thể trở thành những yếu tố nguy cơ gây bệnh như: dùng chung dụng cụ đựng thức ăn
với những người bị bệnh truyền nhiễm; vệ sinh răng miệng kém làm tăng nguy cơ bệnh răng miệng, đặc

quả, trình độ học vấn, nghề nghiệp, các hệ thống hỗ trợ và phúc lợi xã hội, phát hiện các yếu tố nguy cơ
bạo lực và luôn phải xem xét trên bình diện từng cá thể. Cần phải lưu ý đến các yếu tố về đạo đức, giới
và giai cấp có ảnh hưởng xã hội và tâm lý lên đời sống của thanh niên.
Các bệnh lý mạn tính ít xảy ra ở những người trẻ tuổi nhưng không phải là không thể xảy ra. Tăng
huyết áp, bệnh mạch vành hoặc đái đường có thể khởi phát khi bệnh nhân còn trẻ mà bệnh nhân không
phát hiện được cho đến lúc lớn tuổi. Các bệnh lý này có thể ảnh hưởng đến sự hoàn thành các quá trình
phát triển quan trọng ở thời kỳ trưởng thành và có thể gây tàn phế cho bệnh nhân. Đây cũng là nguyên
nhân dẫn đến sự thay đổi về mục tiêu sống cá nhân, gia đình và nghề nghiệp. Can thiệp điều dưỡng là
phải giúp bệnh nhân đối mặt với thực trạng của bệnh tật, tư vấn cho bệnh nhân các nghề nghiệp, hành vi
phù hợp với sức khoẻ hiện tại.
- Cần giáo dục sức khoẻ cho lứa tuổi thanh niên về:
+ Tác hại của việc lạm dụng các chất kích thích và gây nghiện, các biện pháp cai nghiện.
+ Tầm quan trọng của thể thao đối với sức khoẻ. Hướng dẫn và tư vấn cho bệnh nhân những môn
thể thao hay các bài tập thể dục phù hợp.
+ Kiến thức về sức khoẻ sinh sản, các biện pháp thực hiện an toàn tình dục.
+ Các biện pháp phòng chống stress trong công việc, gia đình và cuộc sống.
+ Nhận thức được tầm quan trọng của các kỹ thuật và cách kết hợp các test sàng lọc thường quy, các
hoạt động tự kiểm tra vào hoạt động hằng ngày.
2.8. Thời kỳ trung niên
Thường được bắt đầu tính từ sau 40 tuổi.
2.8.1. Đặc điểm sinh lý
Các thay đổi chính về sinh lý xảy ra ở lứa tuổi 40 - 60. Thay đổi bề ngoài có thể dễ nhìn thấy nhất là
tóc bạc dần, da có nếp nhăn và tăng vòng eo. Thính lực và thị lực bắt đầu giảm. Chức năng nhận thức
của người ở tuổi trung niên hiếm khi thay đổi trừ khi bị bệnh hay chấn thương. Ở lứa tuổi này vẫn có thể
học các kỹ năng và thông tin mới.
Thay đổi lớn nhất trong thời kỳ này là mãn kinh ở phụ nữ và suy giảm khả năng tình dục ở nam.
Kinh nguyệt và quá trình rụng trứng theo chu kỳ ở phụ nữ có từ thời kỳ thanh niên đến trung niên.


Mãn kinh là sự phá vỡ chu kỳ này, thường do hệ thống hormone thần kinh mất khả năng hoạt động

các mối quan tâm về y tế và sự đau buồn có thể có do các bệnh mạn tính. Các mức độ tàn phế và nhận
thức của bệnh nhân về bệnh tật và tàn phế quyết định phạm vi ảnh hưởng đến cuộc sống.
- Các thay đổi về tâm lý hay các stress liên quan đến việc thay đổi chỗ làm ngoài ý muốn, thay đổi
tình trạng hôn nhân (ly hôn, tái hôn, sống độc thân...), các thay đổi trong gia đình như con cái ra ở riêng
là những stress tâm lý cần phải thích ứng.
- Trầm cảm: mặc dù tuổi thường mắc trầm cảm là 25 - 44 tuổi nhưng bệnh lý này cũng phổ biến ở
tuổi trung niên, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới gấp đôi nam giới (Haber và cộng sự  1997). Các nguyên nhân
gồm có: thất vọng hay mất mát trong công việc hoặc trong các mối quan hệ gia đình; hụt hẫng và trống
vắng do con cái tách riêng, tiền sử gia đình. Những bệnh nhân trầm cảm nhẹ có các triệu chứng như cảm
thấy buồn, chán nản, thất vọng, suy sụp và đầy nước mắt. Các triệu chứng khác có thể gặp là thay đổi về
giấc ngủ như khó ngủ (insomnia) hoặc ngủ nhiều (hypersomnia), cáu gắt, mất cảm giác quan tâm đến
môi trường xung quanh, giảm chú ý. Các thay đổi về mặt sinh lý như giảm cân, tăng cân, đau đầu, hoặc
cảm giác mệt không liên quan đến bệnh lý hay công việc có thể là những triệu chứng của bệnh trầm
cảm.


Thay đổi trạng thái tinh thần và trầm cảm là những hiện tượng phổ biến trong thời kỳ mãn kinh. Lạm
dụng rượu và các chất gây nghiện khác có thể làm trầm cảm nặng thêm.
2.8.3. Chăm sóc điều dưỡng
Người điều dưỡng phải nhận định các thay đổi chính trong cuộc sống có ảnh hưởng đến tình trạng
sức khoẻ của bệnh nhân. Các yếu tố tâm lý của cá nhân như khả năng đương đầu với bệnh tật và khó
khăn, các nguồn hỗ trợ và phúc lợi xã hội. Đi cùng với tình trạng sức khoẻ hiện tại của bệnh lý mạn tính
ở tuổi trung niên, người điều dưỡng phải nhận định được thông tin sức khoẻ cơ bản dựa trên cả bệnh
nhân và gia đình họ. Cần có sự kết hợp giữa phương pháp điều trị và chăm sóc, phục hồi chức năng, các
dịch vụ xã hội và cộng đồng để đưa ra biện pháp tối ưu cho bệnh nhân.
Trong quá trình đánh giá, người điều dưỡng thường phải thu thập được dữ liệu về các hành vi có lợi
hay bất lợi cho sức khoẻ từ bệnh nhân. Các ví dụ về hành vi có lợi cho sức khoẻ như tập thể dục đều
đặn, tôn trọng triệt để các thói quen tốt về ăn uống, tránh dùng quá mức các loại thức uống có cồn, tham
gia các cuộc kiểm tra sàng lọc thường quy và các test chẩn đoán cho việc dự phòng và nâng cao sức
khoẻ, các thay đổi về lối sống để làm giảm stress. Trong bước lập kế hoạch, thực hiện và lượng giá kế

- Mục tiêu: Bệnh nhân tập thể dục với hình thức đi bộ hằng tuần để giảm cân và tăng cường chức
năng hô hấp tuần hoàn.
- Các chiến lược giảng dạy:
+ Ôn lại cho bệnh nhân thời gian biểu hoạt động hằng ngày và xác định thời gian có thể tập thể dục.
+ Thông báo cho bệnh nhân về hiệu quả của tập thể dục trong việc kiểm soát cân nặng và tăng
cường chức năng tuần hoàn.
+ Kiến tập cho bệnh nhân cách xác định nhịp tim chuẩn và cách đếm mạch chính xác.
+ Cung cấp các bài tập khởi động, thư giãn và kiến tập cách thực hiện.
+ Hướng dẫn cho bệnh nhân sử dụng các loại giày hỗ trợ đi bộ.
- Lượng giá:
+ Để bệnh nhân ghi nhật ký hằng ngày về thời gian tập thể dục.
+ Để bệnh nhân trình diễn lại cách đếm mạch.
+ Để bệnh nhân trình diễn lại các bài tập khởi động và thư giãn.
+ Xem xét chân bệnh nhân để xem có chỗ đau hoặc phồng rộp nào không?
+ Các trở ngại về vấn đề thay đổi hành vi?
+ Các trở ngại từ bên ngoài? (Định kiến xã hội về các hoạt động sức khoẻ, nguồn lực cộng đồng bao
gồm không gian xanh và môi trường an toàn, thiếu sự hỗ trợ của xã hội, thiếu các nguồn nguyên liệu).
+ Các trở ngại của bản thân: Mâu thuẫn về các vấn đề ưu tiên và mục tiêu, động lực, thiếu kiến thức
và kỹ năng, các mối quan tâm thuộc tâm lý học...
2.9. Tuổi già
2.9.1. Các đặc điểm sinh lý
Có các thay đổi bình thường của lứa tuổi.
2.9.1.1. Da
- Màu sắc da: lốm đốm ở những vùng phơi ra ánh sáng, xanh xao ở những vùng thiếu máu.
- Độ ẩm: khô, có vảy.
- Nhiệt độ: giảm ở các đầu chi; giảm tiết mồ hôi.
- Bề mặt: giảm tính đàn hồi, có nếp nhăn, lõm, gấp.
- Mô mỡ: giảm ở các đầu chi, tăng ở bụng.
- Lông, tóc: tóc mỏng, bạc; rụng lông ở nách và xương mu, các chi; rụng lông, râu ở mặt đàn ông; ở
cằm và môi trên phụ nữ.

2.9.1.10. Hệ thần kinh
Giảm các phản xạ tự động và không điều kiện, giảm khả năng đáp ứng với các đa kích thích, ngủ ít
hoặc mất ngủ.


2.9.2. Đặc điểm bệnh lý
Có rất nhiều yếu tố góp phần vào việc giảm sức khoẻ theo năm tháng của những người lớn tuổi và
những yếu tố này cần được tính đến trong nhận định của điều dưỡng. Hút thuốc lá là nguy cơ lớn nhất
cho bệnh lý ở người lớn tuổi, tiếp theo là tăng huyết áp; Các nguy cơ khác bao gồm: uống rượu nhiều, ít
hoạt động, tăng cholesterol máu, ăn không đủ chất rau và trái cây...
Điều quan trọng là các yếu tố nguy cơ này không nhất thiết là nguyên nhân gây bệnh, nhưng chúng
có thể đặt một cá nhân vào nguy cơ có bệnh. Các yếu tố nguy cơ thường cùng tồn tại, vì thế không có gì
bất thường khi nhận định của điều dưỡng có liên quan đến nhiều yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, ở mọi lứa
tuổi có thể tăng cường sức khoẻ thông qua việc xử trí phù hợp các yếu tố nguy cơ cùng với sự phòng
bệnh sớm.
- Trọng lượng cơ thể: Những người thừa cân có nguy cơ tử vong và bệnh tật cao hơn nếu bị đái
đường týp 2, bệnh mạch vành, bệnh đường hô hấp, một số loại ung thư, bệnh lý bàng quang, loãng
xương, và các tai biến thiếu máu. Nhìn chung, tỷ lệ thừa cân ở người lớn tuổi cao hơn ở những người
trẻ. Giảm cân ở những người thừa cân làm giảm tỷ lệ và tính nghiêm trọng của bệnh tăng huyết áp, tăng
cholesterol máu, đái đường, loãng xương và một số loại ung thư khác.
- Tăng cholesterol máu: là yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành và một số các tai biến khác.
Các axít béo no trong chế độ ăn là yếu tố chính của việc tăng cholesterol máu.
- Tăng huyết áp: là nguyên nhân chính gây ra bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, suy tim, các
bệnh mạch máu ngoại biên, suy thận. Tỷ lệ tăng huyết áp thường gặp ở những người lớn tuổi. Theo
nghiên cứu của Viện Sức khoẻ và Trợ cấp Xã hội Úc (2002), trên 75% những người trên 75 tuổi bị tăng
huyết áp. Nguy cơ này cao hơn đối với những người không chịu vận động cơ thể, thừa cân hoặc có chế
độ ăn mặn.
- Giảm dung nạp glucose máu: thường gặp ở những người thừa cân, ít vận động cơ thể, phổ biến ở
những người lớn tuổi. Khi tuổi lớn, các tế bào tuỵ sản xuất insulin- hormone chuyển hoá glucose của cơ
thể thành năng lượng trở nên giảm hiệu quả. Một khi kèm theo với việc lười vận động sẽ đưa đến tăng tỷ

định của điều dưỡng. Bằng các ưu điểm của việc sống lâu và sống sót trong cuộc sống cho thấy các bệnh
nhân lớn tuổi đã phát triển các cơ chế thích nghi và đương đầu với bệnh tật. Giảm các chức năng sinh lý,
tăng tỷ lệ mắc bệnh, đặc biệt ở những người già, là do sự suy giảm các khả năng phản ứng với stress.
Nguyên nhân do thiếu hụt các chất giúp cho quá trình thích nghi cũng như các phản ứng có ảnh hưởng
lớn nhất lên chức năng của hệ nội tiết - thần kinh.
Tuổi tác không phải là một bệnh. Tuy nhiên, phản ứng giữa sự khoẻ mạnh theo tuổi tác và bệnh lý là
rất phức tạp. Chúng ta vẫn chưa hiểu hết những gì gọi là "bình thường" ở người lớn tuổi. Nhiều chuyên
gia tin rằng, nên xem xét và điều trị bệnh nhân trong độ tuổi này theo từng cá nhân để bù đắp cho sự
thiếu hụt về các tiêu chuẩn định nghĩa chuẩn và các giá trị cho một khoảng tuổi quá rộng. Sự khác biệt
giữa bình thường và bệnh lý ở những người lớn tuổi là một thách thức trong công việc của các bác sĩ và
người điều dưỡng. Người điều dưỡng nên so sánh tình trạng sức khoẻ và chức năng của bệnh nhân trong
quá khứ và hiện tại để quyết định kế hoạch chăm sóc sức khoẻ toàn thể.
Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lý có thể không có, bị thay đổi hoặc không điển hình ở những
người lớn tuổi (Lueckenote, 1996) và có thể rất khác so với những dấu hiệu thường gặp ở các lứa tuổi
khác (Whitehead và Finucane, 1995). Một người lớn tuổi bị viêm phổi có thể có nhịp chậm, khó thở
chậm, và lú lẫn thay vì sốt và ho có đờm, là những triệu chứng vốn được xem là phổ biến. Thay vì đau
ngực ở phần dưới xương ức và toát mồ hôi, người lớn tuổi bị nhồi máu cơ tim có thể hoàn toàn không
đau, hoặc chỉ khó chịu vùng thượng vị, kích thích, hạ huyết áp, lú lẫn. Một người lớn tuổi bị nhiễm trùng
đường tiết niệu có thể có triệu chứng lú lẫn, chán ăn, dễ bị ngã và đái không tự chủ, thay vì sốt, bí tiểu
thường xuyên hay cấp tính (Brown, 2002).
Đạt được nhận định toàn diện và sâu sắc về người lớn tuổi mất nhiều thời gian hơn so với những
người trẻ tuổi bởi vì tuổi lớn hơn và bệnh sử phức tạp hơn. Trong quá trình lập kế hoạch nên dành thêm
thời gian cho phần lượng giá. Trong suốt quá trình lượng giá, người điều dưỡng khi cần thiết phải dành
thời gian nghỉ ngơi hoặc cần phải xây dựng quá trình lượng giá theo nhiều giai đoạn để đỡ tốn năng
lượng và giới hạn việc chịu đựng của các bệnh nhân già, yếu.
Các thay đổi về giác quan có thể ảnh hưởng đến việc thu thập số liệu. Sử dụng kỹ năng giao tiếp có
thể bị ảnh hưởng bởi các suy giảm và hư hỏng về chức năng nghe, nhìn ở người lớn tuổi. Ví dụ, nếu
bệnh nhân lớn tuổi khó khăn trong khi nghe các câu hỏi của người điều dưỡng sẽ dẫn đến những câu trả
lời không chính xác làm cho người điều dưỡng hiểu nhầm là bệnh nhân bị lú lẫn.
Bảng 1.1. Các kỹ năng nhận định khi người lớn tuổi gặp các vấn đề về giác quan

các mối quan hệ vì mục đích điều trị, mà cần phải có hiểu biết và kỹ năng trong khi giao tiếp với bệnh
nhân. Nếu giao tiếp có hiệu quả, điều dưỡng sẽ được chấp nhận như là người có thể chia sẻ những mối
quan tâm của bệnh nhân.
Tiếp xúc trực tiếp: trong cuộc sống, các tiếp xúc dịu dàng, thân thiện có sức ảnh hưởng rất lớn. Một
cái nắm tay mạnh mẽ có thể đem lại cảm giác an toàn. Những người già bị cô lập, bị bỏ rơi, hoặc cảm
thấy bị phụ thuộc do bệnh tật, sợ chết, hoặc thiếu sự tự tin thường cần sự vỗ về. Người điều dưỡng phải
nhận diện được nhu cầu an ủi vỗ về của bệnh nhân lớn tuổi, những bệnh nhân này có thể biểu hiện bằng
cách tiến đến cầm tay điều dưỡng viên. Sự vỗ về phải có tính tôn trọng và nhạy cảm, không nên thực
hiện các hành động theo kiểu vỗ nhẹ lên đầu bệnh nhân. Đây là một công cụ điều trị mà người điều
dưỡng sử dụng để làm cho bệnh nhân thoải mái, thư giãn, định hướng bệnh nhân về với thực tế và sự
quan tâm đến giao tiếp.
Các định hướng thực tế cho bệnh nhân: là một kỹ năng giao tiếp dùng để giúp bệnh nhân nhận thức
về thời gian, nơi chốn và con người. Mục tiêu của việc này là khôi phục các cảm giác về thực tế, tăng
cường khả năng nhận thức, tăng cường tính hoà nhập xã hội, tăng sự độc lập, hạn chế lú lẫn, mất định
hướng và thoái hoá cơ thể.
Mặc dù người điều dưỡng có thể sử dụng kỹ năng định hướng thực tế cho bệnh nhân ở bất kỳ hình
thức chăm sóc điều dưỡng nào, nhưng tốt nhất là trong các trường hợp cấp cứu. Các bệnh nhân lớn tuổi
trải qua các thay đổi của môi trường, phẫu thuật, bệnh tật hoặc các stress về tình cảm có nguy cơ bị mất
định hướng. Thay đổi về môi trường, như quá sáng, tiếng ồn lạ, thiếu cửa sổ ở những đơn vị điều trị đặc
biệt của bệnh viện, sự vắng mặt của các điều dưỡng viên quen thuộc thường dẫn đến việc mất định
hướng và lú lẫn. Khi sử dụng các thuốc gây mê, an thần, giảm đau, các thuốc ức chế sinh lý, có khả năng
tăng sự mất định hướng. Quan trọng là phải theo dõi sự mất định hướng và lú lẫn như là những hậu quả
có thể xảy ra của việc nhập viện, chuyển chỗ, phẫu thuật, mất mát hoặc bệnh tật, để kết hợp các can
thiệp dựa trên việc định hướng thực tế cho bệnh nhân vào kế hoạch chăm sóc.
Then chốt của liệu pháp này là phải thường xuyên nhắc bệnh nhân về thời gian, nơi chốn và con
người; sử dụng các dụng cụ hỗ trợ như đồng hồ, lịch, các nhân viên. Giao tiếp luôn luôn phải có tính tôn


trọng, kiên nhẫn và bình tĩnh. Trả lời các câu hỏi của bệnh nhân một cách đơn giản và trung thực với
một thái độ chu đáo và nhạy cảm.

Giai đoạn phát triển phôi thai được giới hạn trong 3 tháng đầu của
thai kỳ.

2

Trong mô hình ô vuông thức ăn, sữa mẹ luôn ở vị trí trung tâm.

3

Trẻ dưới 6 tháng thường được bảo vệ bởi kháng thể như IgA của
mẹ truyền sang cho con qua nhau thai và IgG qua sữa.

Đúng/Sai

2. Các biện pháp nâng cao sức khỏe ở tuổi trung niên bao gồm:
- ..........................................................................................................
- ..........................................................................................................
- Giáo dục và tư vấn về sức khoẻ.
3. Câu nào sau đây là sai:
A. Nếu không cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thì trẻ dễ bị thiếu Vitamin D và hậu quả sẽ bị
còi xương.


B. Thời kỳ sơ sinh được tính từ lúc sinh cho đến hết 4 tuần tuổi.
C. Thời kỳ trung niên thường được bắt đầu tính từ sau 50 tuổi.
D. Thời kỳ răng sữa được tính bắt đầu từ 1 tuổi đến hết 6 tuổi.
E. Tăng cholesterol máu là yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành và một số các tai biến khác.
4. Trình bày cách chăm sóc điều dưỡng đối với tuổi già.

Bài 2

- Người điều dưỡng chịu trách nhiệm đo dấu hiệu sống của bệnh nhân, phân tích và diễn giải các kết
quả để cho y lệnh can thiệp điều dưỡng. Việc phân tích kết quả không được uỷ thác cho người khác.
- Các dụng cụ phải đảm bảo đúng chức năng, phù hợp về kích cỡ, tuổi tác và điều kiện của bệnh
nhân để bảo đảm cho kết quả chính xác, ví dụ: máy đo huyết áp với kích cỡ người lớn không thể đo cho
trẻ em.
- Người điều dưỡng phải biết được giới hạn bình thường về dấu hiệu sống của bệnh nhân, giới hạn
chuẩn theo tuổi và theo tình trạng sức khoẻ. Các giá trị bình thường của bệnh nhân được sử dụng như là
nền tảng để so sánh với các kết quả gần nhất. Người điều dưỡng phải phát hiện sự thay đổi theo thời
gian và sự sai lệch so với bình thường.
- Người điều dưỡng cần nắm vững bệnh sử, các phương pháp điều trị, các thuốc đã dùng của bệnh
nhân. Một số bệnh lý và thuốc có thể làm thay đổi các dấu hiệu sống vì thế người điều dưỡng cần nhận
định được sự cần thiết để đo dấu hiệu sống kịp thời. Ví dụ, chỉ định của một số thuốc tim mạch
(digoxin) phụ thuộc vào giá trị tần số mạch của bệnh nhân, đòi hỏi người điều dưỡng phải kiểm tra mạch
của bệnh nhân trước và trong thời gian dùng thuốc.
- Số lần đo dấu hiệu sống: người điều dưỡng có thể phối hợp với bác sĩ trong việc quyết định số lần
đo dấu hiệu sống. Khi theo dõi các phẫu thuật hoặc các can thiệp điều trị cần phải đo dấu hiệu sống một
cách thường xuyên để phát hiện sớm các biến chứng. Tuy nhiên, trong tất cả mọi tình huống, người điều
dưỡng phải chịu trách nhiệm cho việc phán đoán xem khi nào cần phải đo dấu hiệu sống. Ví dụ, điều
kiện của một bệnh nhân đang xấu đi, cần thiết phải theo dõi dấu hiệu sống 5 - 15 phút/lần, bình thường
đo dấu hiệu sống 2 lần/ngày.
- Tiếp xúc với bệnh nhân: cách thức tiếp xúc với bệnh nhân có thể làm thay đổi kết quả đo dấu hiệu
sống. Người điều dưỡng phải thực hiện quy trình một cách bình tĩnh, chu đáo và chứng tỏ được khả
năng sử dụng thành thạo các dụng cụ cần thiết để đo dấu hiệu sống.
- Phương pháp đo: người điều dưỡng phải hạn chế tối đa các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng
đến kết quả đo. Trước khi đo dấu hiệu sống bệnh nhân phải được nghỉ ngơi ít nhất 10 - 15 phút. Trong
khi thực hiện đo dấu hiệu sống, không được làm các thủ thuật khác như tiêm, truyền..., trừ trường hợp
bệnh quá nặng hay cấp cứu. Mỗi quy trình kỹ thuật đòi hỏi phải tuân theo thứ tự các bước để bảo đảm
tính chính xác. Cần phải tổ chức việc kết hợp đo các dấu hiệu sống sao cho đạt hiệu quả nhất.
- Phân tích kết quả: không nên tách riêng các giá trị dấu hiệu sống để phân tích mà người điều
dưỡng phải biết tổng hợp các dấu hiệu và triệu chứng thực thể để nhận định tình trạng sức khoẻ hiện tại

Lứa tuổi

Tần số mạch/phút

Trung bình

Sơ sinh

100 - 170

140

1 tuổi

80 - 170

120

3 tuổi

80 - 130

110

6 tuổi

70 - 115

100


+ Trung bình nữ giới có tần số mạch cao hơn nam giới.
- Mạch chậm khi:
+ Nhiệt độ cơ thể giảm.
+ Tập luyện trong thời gian dài.
+ Tư thế nằm mạch chậm hơn so với đứng, ngồi.
+ Đau mạn tính hoặc đau nặng.
+ Bệnh suy giáp.
+ Một số thuốc làm giảm tần số mạch như nhóm digitalis, chẹn beta.
4.3. Đếm tần số mạch
4.3.1. Những vị trí thường dùng để đếm tần số mạch
Về lý thuyết, mạch có thể sờ thấy ở bất kỳ vị trí nào mà động mạch ngoại biên nằm ngay sát dưới da
và đi trên một tổ chức chắc như xương. Có 9 vị trí thông thường để bắt mạch: động mạch thái dương
nông, cảnh chung, mỏm tim, cánh tay, quay, đùi, khoeo, chày sau, mu chân (hình 2.1). Trên thực tế
mạch quay được sử dụng nhiều nhất vì dễ xác định, tiện lợi ở hầu hết mọi người; mỏm tim cũng thường
được sử dụng.
Vị trí mạch

Lý do sử dụng

Mạch quay

Thuận tiện, dễ thấy, được sử dụng thường xuyên.

Mạch thái dương nông

Sử dụng khi không bắt được mạch quay, thường dùng
để bắt mạch ở trẻ em.

Mạch cảnh



Hình 2.1. Các vị trí có thể bắt mạch trên cơ thể

4.3.2. Kỹ thuật đếm mạch
4.3.2.1. Mạch quay
- Giải thích cho bệnh nhân biết việc sắp làm.
- Đặt bệnh nhân ở tư thế thoải mái, có thể ngồi hoặc nằm. Nếu nằm, tay duỗi dọc theo thân, hoặc đặt
cẳng tay lên ngực, lòng bàn tay úp xuống.
- Đặt đầu các ngón tay 2 - 3 - 4 lên trên vị trí động mạch quay (hình 2.2).
- Ấn các ngón tay nhẹ nhàng, chống lại động mạch với mức độ vừa phải để cảm nhận được mạch,
nếu ấn mạnh quá sẽ làm mất mạch.
- Sử dụng đồng hồ bấm giây hoặc đồng hồ có kim giây để đếm mạch. Nếu mạch đều, đếm trong 30
giây rồi nhân 2 để có tần số trong một phút, nếu mạch không đều đếm trong 60 giây.
- Ghi nhận tần số, nhịp điệu và cường độ của mạch.
- Ghi kết quả vào bảng theo dõi: dùng bút màu đỏ, chấm vào giao điểm giữa thời gian đo và giá trị
mạch. Dùng thước nối các giao điểm lại để theo dõi biểu đồ mạch.


Trích đoạn NGUYÊN TẮC KHI TIẾN HÀNH LIỆU PHÁP ÔXY 1 Nguyên tắc chung Hệ thống gắn trên tường; b) Bình chứa ôxy; c) Bình chứa ôxy cầm tay. QUY TRÌNH KỸ THUẬT 1 Nhận định CHỌC DÒ DỊCH NÃO TUỶ CHỌC DÒ MÀNG BỤNG 1 Đại cương
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status