TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
---------TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG
VÀ HIỆN THỰC CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG
DUY VẬT VÀO PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Nhóm 19 Lớp D1 Khóa 24 thực hiện
Nhóm trưởng: Lê Ngọc Thương
Thành viên 1: Lê Trần Mai Trang
Thành viên 2: Thái Bình Phương Trang
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa
TP.HCM, tháng 01 năm 2015
1
MỤC LỤC
2
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Kinh tế Việt Nam những năm qua trải qua những bất ổn kéo dài bởi sự ảnh
hưởng xấu của nền kinh tế thế giới. Mặc dù nền kinh tế có giai đoạn tăng
trưởng cao, đã gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình trên thế giới,
nhưng những diễn biến tiêu cực gần đây của lạm phát, tỉ giá, thâm hụt ngân
Khả năng thực thì bao gồm cả khả năng tất nhiên ( khả năng gần hay khả năng
xa) và khả năng ngẫu nhiên”. [1,137]
“ Hiện thực là phạm trù triết học dùng để chỉ cái ( sự vật, hiện tượng,
quá trình) hiện có, đang tồn tại thực sự”. [1,137]
“Hiện thực bao gồm hiện thực khách quan ( vật chất ) và hiện thực chủ
quan (tinh thần)”. [1,137]
Ví dụ: Trước mắt ta có đủ gỗ, cưa, bào, đinh, đục,….đó là hiện thực. Từ
đó nảy sinh khả năng xuất hiện một cái bàn. Cái bàn chưa có, chưa tồn tại trên
thực tế nhưng nó sẽ xuất hiện khi ta sử dụng các vật trên để làm ra nó.
Như vậy dấu hiện căn bản để phân biệt khả năng với hiện thực ở chổ:
khả năng là cái chưa có, còn hiện thực là cái hiện đang có, đang tồn tại.
1.1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cặp phạm trù khả năng và
hiện thực
Tính thống nhất của khả năng và hiện thực: “Hiện thực (bao gồm cả
bản than và điều kiện tồn tại của sự vật) sinh ra nhiều khả năng có mức độ tất
yếu hiện thực hóa khác nhau. Khi hiện thực biến đổi sẽ làm biến đổi các khả
năng (bao gồm cả sự biến đổi mức độ hiện thực hóa của khả năng).” [1,138]
Sự chuyển hóa giữa khả năng và hiện thực
+ Khi điều kiện hội đủ, khả năng biến thành hiện thực mới; hiện thực
mới sinh ra các khả năng mới hay thay đổi mức độ hiện thực hóa của các khả
4
năng cũ… Quá trình cứ thế tiếp diễn mãi. Do vậy, phát triển là quá trình
chuyển hóa giữa khả năng và hiện thực.
+ Điều kiện tác động đến quá trình hiện thực hóa khả năng: Trong tự
nhiên, quá trình hiện thực hóa khả năng có thể xảy ra hoàn toàn khách quan
nhưng có trường hợp vẫn có sự can dự ít nhiều của con người. Trong xã hội,
quá trình hiện thực hóa khả năng đòi hỏi cả điều kiện khách quan lẫn điều kiện
chủ quan, tức khả năng sẽ không bao giờ được hiện thực hóa nếu không thông
trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành.
CHƯƠNG II:KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC TRONG THỰC TRẠNG
NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.
2.1. Khả năng
Khả năng về nợ công của Việt Nam trong tương lai phụ thuộc vào các
yếu tố chủ quan như sự điều hành, phương hướng chiến lược của chính phủ,
các biện pháp quản lý của cơ quan chuyên trách… và các yếu tố khách quan
tác động như những biến động, chuyển biến của nền kinh tế trong nước và thế
giới.
Trong tương lai nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội rất là lớn,
trong khi đó khả năng huy động nguồn nội lực của nước ta chưa đáp ứng đầy
đủ nên việc huy động từ các nguồn vốn vay nợ trong và ngoài nước là cần
thiết và có vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó việc huy động vốn vay và
trả nợ phải nằm trong giới hạn các chỉ tiêu an toàn về nợ công, nợ Chính phủ,
nợ nước ngoài của quốc gia và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.Trong đoạn
2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Chính phủ đã xây dựng các chiến
lược, các biện pháp quản lý nợ công để đảm bảo sự ổn định kinh tế tập trung
vào các chỉ tiêu trọng điểm sau:
Về chỉ tiêu huy động vốn: huy động vốn để “đáp ứng nhu cầu chi của
ngân sách nhà nước và tiếp tục đầu tư cho các chương trình, dự án xây dựng
cơ sở kết cấu hạ tầng, giao thông, y tế, giáo dục và các chương trình mục tiêu
quan trọng theo các Nghị quyết của Quốc hội trong từng giai đoạn”.[3,2]
• Vay trong và ngoài nước để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước theo hướng
giảm dần bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2015 (tính cả trái phiếu Chính
6
phủ) dưới 4,5% GDP, giai đoạn 2016 - 2020 tương đương khoảng 4% GDP và
giai đoạn sau năm 2020 bình quân khoảng 3% GDP.
• Tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ để thực hiện chương trình đầu tư cho
phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50%
GDP.Từng bước giảm dần nợ công, đến năm 2030 nợ công không quá 60%
GDP, trong đó nợ Chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài của quốc
gia không quá 45% GDP.
• Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (không kể cho vay lại) so với tổng thu
ngân sách nhà nước hàng năm không quá 25% và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài
của quốc gia hàng năm dưới 25% giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
• Đảm bảo chỉ tiêu tỷ lệ dự trữ ngoại hối nhà nước so với tổng dư nợ nước ngoài
ngắn hạn hàng năm trên 200%.
Theo tính toán nhằm dự báo mức nợ công/GDP của Việt Nam trong
giai đoạn 2012-2020 dựa trên các biến: tốc độ tăng trưởng, lạm phát, tốc độ
mất giá tiền tệ và lãi suất của các khoản nợ công thì trong mọi kịch bản về nền
kinh tế, nợ công/GDP đều có xu hướng tăng dần theo thời gian do thâm hụt
ngân sách cơ bản tiếp tục diễn ra và do tác động của sự mất giá nội tệ so với
các ngoại tệ trong nợ công nước ngoài. Tốc độ tăng nhanh hay chậm phụ
thuộc vào nền kinh tế thay đổi theo chiều hướng tốt hay xấu.
Ví dụ: nếu thâm hụt ngân sách cơ bản được duy trì ở mức 1,0% GDP
mỗi năm, nền kinh tế ở trạng thái tốt với mức tăng trưởng 6%, tỷ lệ lạm phát
6%, tỷ lệ thay đổi giá VND/USD 4%, lãi suất trong nước 9% và lãi suất nước
ngoài là 3% thì tỷ lệ nợ công/GDP sẽ là 57,7% vào năm 2020. Ngược lại, nếu
thâm hụt ngân sách cơ bản được duy trì ở mức 1,0% GDP mỗi năm, nhưng
nền kinh tế có dấu hiệu xấu hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ có 4%, tỷ lệ
lạm phát 8%, tỷ lệ thay đổi giá VND/USD 6%, lãi suất trong nước 11% và lãi
suất nước ngoài là 5% thì tỷ lệ nợ công/GDP sẽ tăng lên đến 68,5% vào năm
2020. Còn trong trường hợp nền kinh tế duy trì ở mức độ trung bình với mức
tăng trưởng 5%, tỷ lệ lạm phát 7%, tỷ lệ thay đổi giá VND/USD 5%, lãi suất
trong nước 10% và lãi suất nước ngoài là 4% thì tỷ lệ nợ công/GDP sẽ là
62,9% vào năm 2020.
8
quang trọng:
9
Thứ nhất, đáp ứng được nhu cầu bổ sung vốn cho đầu tư phát triển và
cân đối ngân sách.Nợ công giai đoạn 2006 - 2012 là 23%, bù đắp bội chi
NSNN khoảng 5% GDP.Ngoài ra, nhiều dự án cơ sở hạ tầng, các chương trình
xóa đói giảm nghèo, cải thiệnmôi trường, giải quyết việc làm, an sinh xã hội,
các dự án tăng trọng quốc gia... đềuđược đầu tư bằng nguồn vốn vay công.
Thứ hai, các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia vẫn
nằm tronggiới hạn an toàn, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.Việc xử lí nợ
quá hạn các khoản nợ cũ thông qua Câu lạc bộ Paris, Luân Đôn…là một thành
công lớn, đưa tỷ lệ tổng số nợ nước ngoài từ mức rất cao, gần 150% GDPnăm
1993 trở về mức an toàn 41,5% vào năm 2011; nghĩa vụ trả nợ tương ứng từ
mức195,8% xuống còn khoảng 4,5% so với tổng kim ngạch xuất khẩu, đồng
thời làm giảmđáng kể nghĩa vụ trả nợ của Việt Nam, tạo điều kiện khai thông
quan hệ tài chính – tíndụng với các tổ chức quốc tế và các Chính phủ nước
ngoài.
Thứ ba các hình thức huy động vốn vay ngày càng đa dạng, linh hoạt,
tạo tiềnđề cho sự hình thành và phát triển đồng bộ thị trường tài chính.Bên
cạnh việc huy động vốn ưu đãi ODA, vay thương mại nước ngoài, vay
quaphát hành trái phiếu Chính phủ trong nước là công cụ huy động vốn có
hiệu quả củanhà nước. Mặt khác, trong năm 2005, Chính phủ đã phát hành trái
phiếu quốc tế đợt 1với tổng trị giá 750 triêu USD dành cho các dự án đóng
tàu, đây là hình thức tương đốimới ở Việt Nam. Ngoài việc trực tiếp phát hành
nợ, trong thời gian qua Chính phủ đãthực hiện cấp bảo lãnh Chính phủ cho các
doanh nghiệp vay vốn.
Thứ tư, cơ cấu đồng tiền vay đa dạng; đặc biệt những năm gần đây tỷ
giáđồng Việt Nam và đồng đô la tương đối ổn định; Nhật Bản nới lỏng chính
sách tiền tệnên đồng yên yếu đi, chúng ta sẽ có lợi rấtnhiều trong chính sách tỷ
chống lãng phí, tham nhũng trong cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát
triển. Rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi NSNN, bảo đảm đúng dự toán
được giao. Từng bước tinh giản biên chế bộ máy. Tiết kiệm các khoản chi cho
11
bộ máy quản lý nhà nước, sự nghiệp công; giảm tối đa kinh phí tổ chức hội
nghị, hội thảo, đi công tác nước ngoài.
Ba là:Rà soát tổng thể các chính sách an sinh xã hội, các chương trình
mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án đã triển khai giai đoạn 2011 - 2015
để cắt giảm, lồng ghép các chính sách; xây dựng lộ trình, quy mô phù hợp đối
với từng nhóm chính sách để thực hiện cho giai đoạn 2016 - 2020.
Bốn là: Đối với chi đầu tư phát triển, phân bổ tập trung, sử dụng hiệu
quả, ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng trọng điểm của đất nước. Thúc đẩy mạnh
mẽ kêu gọi hợp tác theo hình thức công - tư và các hình thức đầu tư không sử
dụng vốn NSNN để tăng nguồn lực cho đầu tư toàn xã hội.
Năm là: Cơ cấu lại các khoản nợ công, tăng nhanh các khoản vay trung,
dài hạn, hạn chế tối đa việc huy động với thời gian ngắn, lãi suất cao; ưu tiên
bố trí chi trả nợ.
Sáu là: Xây dựng kế hoạch tài chính - NSNN trung hạn giai đoạn 2016
- 2010; thực hiện tính đúng, tính đủ mức bội chi và lộ trình giảm dần bội chi
NSNN. Giữ mức khống chế trần nợ công không quá 65% GDP; nợ Chính phủ
không quá 55% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bùi Văn Mưa và cộng sự, (2014). Triết Học.
2. Phạm Huyền, Thủy Chung, Lan Anh (2010), “Nợ công: khó hiểu ngưỡng
nào an toàn”, Diễn đàn kinh tế Việt Nam VEF, ngày 22/10/2010.
3. Nghị định số 958/QĐ-TTG
4. Luật quản lý nợ công 29/2009/QH12