Quy trình xây dựng pháp lệnh ở việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ GIANG

QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LỆNH Ở VIỆT NAM
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2007

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ GIANG

QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LỆNH Ở VIỆT NAM
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
MÃ SỐ: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Bùi Xuân Đức

HÀ NỘI - 2007


16

lệnh……..
1.2.1.

Đặc

điểm

của

quy

trình

xây

dựng

pháp

16

1.2.1.1. Quy trình xây dựng pháp lệnh do pháp luật quy định………

16

lệnh………………….
1.2.1.2. Pháp lệnh được xây dựng và ban hành theo quy trình đơn


dự

án

lệnh…………………………………..
1.2.2.4. Giai đoạn lấy ý kiến nhân dân, đại biểu Quốc hội và đoàn
đại biểu Quốc hội về dự án pháp lệnh……………………………….

4

24


1.2.2.5. Giai đoạn xem xét, thông qua dự án pháp lệnh của Uỷ ban
Thường

vụ

Quốc

25

pháp

25

1.3. Sự phát triển của quy trình xây dựng pháp lệnh qua các

27

pháp

năm

28

Hiến

pháp

năm

29

Hiến

pháp

năm

32

1946……………………………….
1.3.2.

Giai

đoạn

1959……………………………….

Soạn

thảo

dự

án

pháp

35

dự

án

pháp

37

dự

án

pháp

38

lệnh…………………………………….
2.1.3.


2.1.8. Công bố pháp lệnh……………………………………………

42

Thảo

luận



thông

qua

dự

án

lệnh……………………..
2.2. Đánh giá thực trạng quy trình xây dựng pháp lệnh hiện
hành…………………………………………………………………

42

2.2.1. Về chủ thể có thẩm quyền trình dự án pháp lệnh, kiến nghị về
pháp lệnh…………………………………………………………….

43



49

tra

dự

án

pháp

50

lệnh……………………………
2.2.4.

Về

việc

thẩm

lệnh...........................................
2.2.5.

Về

việc

thẩm


59

3.1.1. Xuất phát từ yêu cầu xây dựng một hệ thống pháp luật đủ về
số lượng, cao về chất lượng, phục vụ kịp thời sự nghiệp công
nghiệp

hoá,

đại

hiện

6

hoá

đất

59


nước…………………………………………..
3.1.2. Bắt nguồn từ đòi hỏi phải khắc phục những hạn chế của quy
trình xây dựng pháp lệnh hiện hành làm ảnh hưởng đến chất lượng,
số lượng pháp lệnh…………………………………………………..

62

3.2. Phƣơng hƣớng và giải pháp đổi mới, hoàn thiện quy trình

sở kế thừa và phát huy những ưu điểm của quy trình hiện

66

hành…….
3.2.2. Giải pháp đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp

66

lệnh...
3.2.2.1.

Cải tiến việc lập chương trình xây dựng pháp

66

lệnh………...
3.2.2.2. Phân công hợp lý cơ quan soạn thảo dự án pháp

69

lệnh………
3.2.2.3. Tăng cường công tác thẩm tra dự án pháp lệnh…………….

74

3.2.2.4. Coi trọng và đổi mới quy trình lấy ý kiến về dự án pháp
lệnh………………………………………………………………….

76

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngoài làm nhiệm vụ của cơ quan
thường trực của Quốc hội, đảm bảo hoạt động bình thường của Quốc hội
trong điều kiện Quốc hội nước ta hoạt động không chuyên trách, còn có
nhiệm vụ, quyền hạn theo uỷ quyền như ban hành pháp lệnh và kể từ khi
thực hiện chức năng uỷ quyền lập pháp của Quốc hội cho tới nayUỷ ban
thường vụ Quốc hội đã ban hành được 202 pháp lệnh. Đặc biệt trong
những năm gần đây, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành nhiều pháp
lệnh góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam đầy đủ, đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh pháp luật của các quan hệ
xã hội mới phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Và để có kết quả trên, cần phải nói
đến vai trò hết sức quan trọng của quy trình xây dựng pháp lệnh - sợi chỉ
đỏ xuyên suốt hoạt động xây dựng và ban hành pháp lệnh, đảm bảo cho
sản phẩm làm ra là các văn bản pháp lệnh có chất lượng cao nhất. Tuy
nhiên, mặc dù Quốc hội đã ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2002 song cho tới nay
vẫn còn nhiều dự án pháp lệnh bị “treo” trong nhiều chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội (như dự án Pháp lệnh thủ tục bắt giữ
tàu biển, dự án Pháp lệnh về án phí, lệ phí tại Toà án nhân dân thuộc
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005 của Quốc hội cho tới nay
vẫn đang trong giai đoạn soạn thảo) hoặc nếu được ban hành thì cũng
không đảm bảo chất lượng dẫn đến hiệu quả áp dụng trên thực tế hay tính

9


khả thi của văn bản pháp lệnh bị hạn chế. Có thực tế này là do nhiều


cần thiết hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài luận văn
Cho đến nay, đã có một số công trình khoa học, bài viết có liên quan
đến quy trình xây dựng pháp lệnh như đề tài khoa học cấp bộ của Văn phòng
Quốc hội: “Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội và ban
hành pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội” (mã số 94-98-169 năm
2001); hay bài viết “Nâng cao chất lượng của các dự án luật, pháp lệnh qua
hoạt động thẩm tra” của PGS.TS. Trần Ngọc Đường - Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 5 (100) năm 1996; “Kỷ yếu hội thảo về đổi mới quy trình xây
dựng luật, pháp lệnh”, Ban công tác lập pháp, năm 2004… Nhìn chung các
công trình trên đã đề cập hoặc từng khía cạnh của quy trình xây dựng pháp
lệnh hoặc toàn bộ quy trình xây dựng pháp lệnh, như bài viết “Việc xem xét
thông qua pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội” trong cuốn Kỷ yếu
hội thảo về đổi mới quy trình xây dựng luật, pháp lệnh của Thạc sĩ Bùi Ngọc
Chương đã tập trung đi sâu nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của việc xem
xét, thông qua dự án pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội - một trong
những giai đoạn của quy trình xây dựng pháp lệnh; đề tài khoa học “Đổi
mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội và ban hành pháp lệnh
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội” tuy có đề cập đến toàn bộ các giai đoạn
của quy trình xây dựng pháp lệnh, xem xét, đề cập dưới góc độ kỹ thuật của
quy trình nhưng lại không đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận của việc đổi mới.
Vậy nên, kế thừa các kết quả nghiên cứu đó, luận văn là công trình
nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện dưới góc độ lý luận nhà nước và
pháp luật về quy trình xây dựng pháp lệnh ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích:

11



lịch sử về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp
luật trong quá trình đổi mới, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- So sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật với thực tiễn hoạt
động ban hành pháp lệnh để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình
xây dựng pháp lệnh.
- Tổng hợp, phân tích, khảo sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Với kết quả luận văn đạt được, tác giả hy vọng góp phần vào việc
nâng cao chất lượng của hoạt động lập pháp nói chung, hoạt động ban hành
pháp lệnh nói riêng. Ngoài ra, luận văn cũng có thể được dùng làm tài liệu
tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về nhà nước và pháp luật trong
các trường đào tạo chuyên ngành luật, làm tài liệu tham khảo cho các cơ
quan, tổ chức, chuyên gia hiện đang làm công tác xây dựng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Lời mở đầu, 3 chương với 7 mục, kết luận, phụ lục và
tài liệu tham khảo.

13


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LỆNH

1.1. Khái niệm pháp lệnh và quy trình xây dựng pháp lệnh
1.1.1. Pháp lệnh trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của
Việt Nam
Nếu như “luật” là khái niệm được hiểu tương đối thống nhất trong
pháp luật của các nước trên thế giới, thì khái niệm “pháp lệnh” lại có nhiều
cách hiểu khác nhau. Theo “Từ điển thuật ngữ pháp lý” của tác giả Gerard

- Giao cho Uỷ ban thường vụ tiếp thụ ý kiến của đại biểu để hoàn
chỉnh dự thảo luật và trình Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc xem xét,
thông qua tại kỳ họp gần nhất. Việc uỷ quyền cho Uỷ ban thường vụ phải
được quá nửa đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc tán thành.
Tìm hiểu quy trình lập pháp của Cộng hoà liên bang Đức cho thấy, cơ
quan lập pháp của Liên bang (nghị viện liên bang) có thể trực tiếp ban hành
quy phạm pháp luật dưới hình thức một đạo luật (Luật theo nghĩa hình thức)
theo quy trình lập pháp. Cơ quan lập pháp cũng có thể tại các điều khoản cụ
thể trong một đạo luật uỷ quyền cho cơ quan hành pháp ban hành các quy
phạm pháp luật dưới hình thức sắc lệnh. Theo câu 2 khoản 1 Điều 80 của
Hiến pháp Cộng hoà liên bang Đức thì nội dung, mục đích và phạm vi của
việc uỷ quyền để ban hành sắc lệnh phải được xác định rõ trong quy phạm
uỷ quyền. Như vậy, có thể khẳng định rằng các sắc lệnh không có thể “thay
thế luật”, dưới góc độ nào đó cũng không thể coi các sắc lệnh là “bổ sung

15


luật” hoặc “sửa đổi luật”. Một đạo luật do nghị viện ban hành không được
coi là bị sửa đổi, nếu quy định của nó được thực thi. Và việc một phần
nhiệm vụ lập pháp được trao cho cơ quan hành pháp thông qua việc uỷ
quyền lập pháp có nguyên do là muốn giảm nhẹ gánh nặng của nghị viện
bằng cách cắt giảm những nhiệm vụ ít quan trọng [48, tr.330]. Các chủ thể
có thể được uỷ quyền lập pháp là Chính phủ liên bang là tập thể, từng Bộ
trưởng liên bang hoặc Chính phủ của các bang (trong đó, các sắc lệnh do
Chính phủ của một bang hoặc một cơ quan hành chính khác của bang ban
hành trên cơ sở uỷ quyền trong một đạo luật của liên bang là pháp luật của
bang, không phải là pháp luật của liên bang, vì thông qua việc uỷ quyền để
ban hành sắc lệnh, các cơ quan hành chính của bang không trở thành các cơ
quan của liên bang). Nếu “Chính phủ liên bang” được uỷ quyền để ban hành

định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
Ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới
hình thành, nhiều quan hệ thuộc phạm vi lập pháp chưa ổn định, chưa có đủ
điều kiện quy định thành luật. Hơn nữa, năng lực lập pháp của Quốc hội còn
có hạn, thời gian hoạt động hạn chế theo kiểu “xuân thu nhị kỳ”. Do vậy, để
thích ứng với tình hình trên, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật ngày càng
tăng của xã hội, khoản 4 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2001) quy định uỷ quyền ra pháp lệnh cho Uỷ ban thường vụ
Quốc hội trong từng vấn đề cụ thể dựa trên cơ sở Chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh. Cũng theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền, lý do
của sự uỷ quyền chỉ căn cứ vào mức độ chưa chín muồi, kém ổn định của
các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực lập pháp; không đồng nhất vấn đề phức
tạp có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau với tính kém ổn định, chưa chín
muồi của quan hệ xã hội. Việc uỷ quyền cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra
pháp lệnh là sự uỷ quyền trong nội bộ cơ quan lập pháp, về tính chất, nội
dung có sự khác biệt với chế độ uỷ quyền cho cơ quan hành pháp. Theo đó,
cơ quan hành pháp ngoài việc thực hiện quyền lập quy còn có thể được phép
quy định những vấn đề thuộc lĩnh vực lập pháp, do cơ quan lập pháp uỷ

17


quyền và chịu sự giám sát của cơ quan này. Đó chính là chế độ uỷ quyền lập
pháp [26, tr.119]. Chế độ này có nguyên nhân do nhu cầu điều chỉnh pháp
luật của xã hội ngày càng lớn - nhất là trong lĩnh vực kinh tế, xã hội - khiến
cho cơ quan lập pháp khó có thể một mình đảm đương được. Tình trạng
“quá tải” của cơ quan lập pháp đã trở thành một thực tế, ngay cả với các
nước có trình độ kỹ thuật lập pháp tiên tiến. Vậy nên, uỷ quyền lập pháp là
phương thức lập pháp khá phổ biến, nhất là trong lĩnh vực lập pháp hành
chính.

vụ Quốc hội sẽ trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành luật.
1.1.2. Khái niệm quy trình xây dựng pháp lệnh
Bất cứ một công việc nào dù đơn giản hay phức tạp cũng chỉ có thể
đạt được kết quả cao, nếu được thực hiện một cách hợp lý. Sự hợp lý có thể
là công việc được thực hiện vào thời điểm thích hợp, có thể là công việc
được giao phó cho người thích hợp, có thể là cách thức thực hiện công việc
thích hợp… Với những công việc được thực hiện khá thường xuyên trên
thực tế, con người luôn có xu hướng quan sát, nhận xét, rút kinh nghiệm để
lần thực hiện sau thuận lợi, tiết kiệm, có kết quả cao hơn lần trước, dần dần
hình thành quy trình ngày càng hợp lý cho quá trình thực hiện công việc đó.
“Quy trình” là một thuật ngữ Hán - Việt được sử dụng khá phổ biến
trong sinh hoạt xã hội. Trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, thì “quy
trình” càng được sử dụng rộng rãi hơn. Bởi vậy, cách hiểu về thuật ngữ này
khá thống nhất: đó là những thủ tục mà các chủ thể phải tiến hành khi xúc
tiến một hoạt động nào đó. Theo nghĩa tiếng Hán thì “quy” có nghĩa là trù
tính, dự liệu; “trình” có nghĩa là đường đi, cách thức; nghĩa là thứ tự các
bước tiến hành trong một quá trình nào đó. Theo Từ điển tiếng Việt thì “quy
trình” được hiểu là “trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào
đó” [51, tr.813]. Trong Từ điển Oxford có định nghĩa quy trình (Procedure)
nghĩa là một trật tự chính thức hay cách thức làm việc nào đó, đặc biệt là
trong kinh doanh, chính trị, pháp lý..., là một loạt các hoạt động cần được

19


hoàn thành để đạt được một cái gì đó. Như vậy, để thực hiện một công việc
hoặc một hoạt động nào dù đơn giản hay phức tạp có kết quả cao thì điều
quan trọng và có tính quyết định là chủ thể thực hiện công việc hoặc hoạt
động phải sắp xếp thứ tự các công việc cụ thể phải làm và tuân theo sự sắp
xếp đó một cách nghiêm túc. Hay nói cách khác, “quy trình” là cách làm

khách quan. Hay nói cách khác, lý luận nhận thức và phương pháp tư duy
triết học Mác - Lênin phải được vận dụng vào việc giải quyết những vấn đề
thực tiễn để từ đó tìm ra chân lý khách quan [39, tr.32].
Là một phạm trù trong hoạt động lập pháp, hoạt động xây dựng pháp
lệnh, do đó cũng là hoạt động phức hợp bao gồm nhiều hình thức hoạt động
khác nhau, có mối liên hệ chặt chẽ và tuân theo một trình tự nhất định; mang
tính sáng tạo mà sản phẩm của nó là thành quả của nhiều người, nhiều cơ
quan cùng tham gia. Vậy nên, sự phối kết hợp giữa các chủ thể tham gia vào
quy trình xây dựng pháp lệnh là đặc biệt quan trọng.
Bên cạnh đó, hoạt động ban hành pháp lệnh còn thể hiện tính đa dạng,
phong phú của quy trình xây dựng pháp lệnh. Là hoạt động có những đặc thù
riêng khác biệt so với các hoạt động khác như hoạt động thực hiện pháp luật
và bảo vệ pháp luật nên quy trình xây dựng pháp lệnh cũng có những đặc thù
riêng khác biệt so với các quy trình khác. Có lẽ cũng chính vì vậy mà khi
nghiên cứu về “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp theo định hướng
xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” trong luận án phó
tiến sĩ, tác giả Lê Văn Hoè đã có lý khi cho rằng quy trình xây dựng pháp
lệnh là một trật tự các bước có tính độc lập tương đối, kế tiếp nhau theo một
trình tự, thủ tục nhất định, từ việc làm sáng tỏ và ghi nhận chính thức nhu
cầu điều chỉnh pháp luật, chuẩn bị dự thảo văn bản của cơ quan soạn thảo,
chuẩn bị trình dự án, thông qua dự án và công bố văn bản [26, tr.27].
Theo đó, hoạt động lập pháp nói chung, hoạt động xây dựng pháp
lệnh nói riêng, là hoạt động mà quy trình của nó bao gồm nhiều giai đoạn,
trong đó các giai đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một vòng
khép kín. Từ thực tiễn của công tác xây dựng pháp lệnh và theo quy định

21


của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung năm


trách nhiệm phải tuân thủ trong quá trình xây dựng pháp lệnh [38, tr.10].
Với tiến sĩ Ngô Đức Mạnh, ông cho rằng đó là các bước phải thực hiện trong
công tác xây dựng pháp luật thể hiện sự phân công, phối hợp giữa các chủ
thể của hoạt động lập pháp trong quá trình soạn thảo và ban hành luật, pháp
lệnh.
Từ những phân tích trên, cũng như từ thực tiễn hoạt động xây dựng
pháp lệnh ở Việt Nam, cũng như kế thừa các yếu tố hợp lý trong các định
nghĩa về quy trình lập pháp của một số luật gia nêu trên, có thể đưa ra khái
niệm về quy trình xây dựng pháp lệnh: Là một quy trình lập pháp, là thủ tục,
trình tự do pháp luật quy định, theo đó Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các cơ
quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và những cơ quan khác, tổ chức, cá
nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan phải tuân theo trong quá trình xây
dựng, ban hành các pháp lệnh.
Theo đó, quy trình xây dựng pháp lệnh không chỉ bao gồm các thủ
tục, trình tự nhất định, các giai đoạn, các bước đi cụ thể; mà còn tạo ra sự
liên kết các hoạt động riêng lẻ đó dẫn tới kết quả cuối cùng là một pháp lệnh
được ban hành; không có một quy trình xây dựng pháp lệnh hay quy trình
không khoa học, hợp lý thì hoạt động xây dựng pháp lệnh sẽ thiếu tính tổ
chức, tốn kém nhiều thời gian mà hiệu quả cũng không cao. Các giai đoạn
của quy trình xây dựng pháp lệnh được tiến hành theo một trình tự, thủ tục
được quy chuẩn hoá sẽ góp phần đảm bảo cho nội dung của pháp lệnh thống
nhất, đồng bộ, hạn chế được những mâu thuẫn, chồng chéo. Quy trình xây
dựng pháp lệnh và hoạt động xây dựng pháp lệnh là hai mặt của một vấn đề,
luôn có mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau. Hoạt động xây dựng
pháp lệnh là hoạt động phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể và
nếu không được tuân thủ theo quy trình xây dựng pháp lệnh sẽ dẫn tới tình
trạng tuỳ tiện, thiếu thống nhất và sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của pháp
lệnh và ngược lại, nếu hoạt động này tuân theo một quy trình khoa học, chặt


24


Đồng thời, việc quy định quy trình xây dựng pháp lệnh trong pháp luật cũng
là chỉ ra con đường rõ ràng, cụ thể tạo điều thuận lợi cho các cơ quan, tổ
chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng pháp lệnh không phải tự mình
tìm kiếm, mày mò cách thức xây dựng các văn bản đó.
1.2.1.2. Pháp lệnh được xây dựng và ban hành theo quy trình đơn
giản hơn quy trình xây dựng và ban hành luật
Bởi Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền hữu cơ với bản chất dân chủ,
chủ quyền nhân dân nên chỉ có luật do một tập thể những người được nhân
dân bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ban hành mới thực
sự là văn bản quy phạm pháp luật có vị trí và vai trò quan trọng nhất. Trong
khi đó, pháp lệnh được ban hành nhằm quy định những vấn đề cấp thiết của
cuộc sống đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước mà chưa có điều kiện
quy định ngay thành luật, nên nó đứng sau Hiến pháp, luật và khi xây dựng
pháp lệnh phải dựa vào các quy định của Hiến pháp và luật. Còn xét về mặt
nội dung thì, nếu như luật quy định về các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc
các lĩnh vực đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động cơ bản của công dân, thì
pháp lệnh cũng quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng nhưng phải được
Quốc hội giao và đó thường là điều chỉnh các quan hệ xã hội mới xuất hiện
chưa thật ổn định, chưa có thực tế điều chỉnh bằng pháp luật, sau một thời
gian “tập dượt” điều chỉnh bằng pháp lệnh sẽ xây dựng thành luật.
Do đó, nếu quy định quy trình phức tạp, chi tiết như quy trình xây
dựng luật trong trường hợp xây dựng và ban hành pháp lệnh sẽ chỉ làm mất
thời gian, chậm trễ quá trình xây dựng pháp lệnh một cách không cần thiết.
Như giai đoạn xem xét, cho ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự án
trong quy trình xây dựng luật là không cần thiết trong quy trình xây dựng


26


Trích đoạn Nội dung của quy trình xây dựng pháp lệnh Giai đoạn Hiến pháp năm Thẩm tra dự án pháp lệnh Thảo luận và thông qua dự án pháp lệnh Về khâu đưa kiến nghị pháp lệnh vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status