HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
MÃ SỐ: B.10 - 05 Tên đề tài:
PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ quan chủ trì:
Viện Kinh tế
Chủ nhiệm đề tài:
ThS Hồ Thị Hương Mai
Thư ký đề tài: ThS Đinh Thị Nga
8552
Hà Nội, 2010
LỰC LƯỢNG NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
ThS Phùng Lê Dung Viện Kinh tế
Nguyễn Việt Hà Đại học Luật Hà Nội
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong thời gian gần đây, dư luận trong cả nước đang hết sức bức xúc về
tình hình điện ở nước ta, về tình trạng than bị khai thác theo cách tàn phá môi
trường và xuất khẩu lậu hàng chục triệu tấn mỗi năm, và đặc biệt về cung
cách cấp, sử dụng vốn và quản lý của Nhà nước dẫn tới thua lỗ nặng nề của
Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy (Vinashin)
1
, về hoạt động của các Tổng công
ty (TCT) trên lĩnh vực thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán , về
nhiều yếu kém lớn khác: "Trong nhiều trường hợp là sự lũng đoạn của các tập
đoàn và Tổng công ty (TCT) 91 & 90 và sự dính líu sâu của các cơ quan chức
năng, về nguy cơ bên ngoài lợi dụng những yếu kém này can thiệp vào nước
ta"
2
.
Với tác động tới toàn bộ hoạt động của nền kinh tế nên mô hình và hoạt
động của các Tập đoàn kinh tế (TĐKT) ở Việt Nam ngày càng thu hút được sự
quan tâm của giới nghiên cứu, của các nhà hoạch định chính sách, điều hành
thực tiễn và của mỗi người dân trong xã hội. Do đó, sẽ không ngạc nhiên khi
thấy rằng các quyết định kinh doanh của TĐKT như việc tăng giá điện, gi
ảm
giá xăng thường thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận, của các phương
tiện truyền thông, là chủ đề của rất nhiều các cuộc hội thảo hoặc tranh luận với
quy mô khác nhau, từ những cuộc tọa đàm nhỏ đến tranh luận ở Quốc hội.
Tương tự như vậy, tần suất xuất hiện của các diễn biến kinh tế có liên quan đến
T
ĐKT chiếm tỷ trọng rất lớn trên các phương tiện truyền thông
3
.
Nhìn nhận từ góc độ mô hình tổ chức sản xuất trong nền kinh tế, TĐKT
Mặc dù có những mặt trái, những tác động tiêu cực đến nền kinh tế
nhưng với mô hình kinh doanh lớn, các TĐKT vừa là sản phẩm tất yếu của
nền kinh tế thị trường (KTTT), vừa cần thiết phải phát triển chúng nếu muốn
nâng cao năng lực cạ
nh tranh của sản phẩm, của DN và của cả nền kinh tế.
Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để khai thác những mặt tích cực, hạn chế và
kiểm soát hữu hiệu những tác động không mong đợi của mô hình này đến nền
kinh tế. Đây là câu hỏi không dễ trả lời trong các giai đoạn phát triển khác
nhau của các nền kinh tế với những đặc thù riêng. Sự cấp thiết về mặt lý luận
đòi hỏi cần nghiên cứu sự phát triển tất yếu của mô hình này.
Dù muốn hay không, về mặt lý luận thì sự phát triển TĐKT là tất yếu, do
đó cần nghiên cứu thấu đáo mô hình kinh doanh này trong điều kiện nền KTTT
định hướng XHCN ở Việt Nam nhằm bổ sung về mặt lý luận, tạo lập căn cứ
vững chắc để phát triển chúng trên thực tiễn.
Nếu như lý luậ
n chỉ ra sự tồn tại và phát triển tất yếu của các TĐKT thì
sự kiểm nghiệm của thực tiễn là hết sức sống động. Sự tồn tại, phát triển mạnh
của các TĐKT thời gian qua cùng với hiệu quả kinh tế nhờ quy mô là căn cứ
vững chắc cho mô hình này ở các nền kinh tế phát triển. Trong giai đoạn hiện
3
nay, mức độ ảnh hưởng của các TĐKT đến nền kinh tế thế giới ngày càng sâu
sắc, là nhân tố đảm bảo sự phát triển bền vững, đồng thời cũng là nguy cơ gây
bất ổn, thậm chí dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu. Có thể nói, sức
mạnh của các TĐKT không chỉ là một trong những tiêu chí quan trọng nói lên
sức cạnh tranh quốc gia và sức mạnh c
ủa quốc gia đó mà còn bao hàm những
nguy cơ bất ổn nếu chúng vượt tầm kiểm soát. Việc sụp đổ hàng loạt tập đoàn
tài chính hàng đầu thế giới ở Hoa Kỳ và Châu Âu, việc 3 tập đoàn ô tô lớn nhất
Hoa kỳ là General Motors; Ford Motors và Chrysler bên bờ vực phá sản; ngay
4
trung lý giải những nội dung về xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh doanh
theo dạng đưa ra các mô hình lý thuyết. Những tài liệu thực tiễn thường là
những bản Báo cáo thường niên của các tập đoàn riêng lẻ. Hơn nữa, các tác giả
thường căn cứ vào thực tiễn các tập đoàn của nước họ để tổng kết, luận giải.
Điển hình là các công trình sau: cuốn sách của Trung Quốc “Bàn về c
ải cách
toàn diện DNNN” của tác giả Trương Văn Bân (1999), NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội. Trong tác phẩm này, tác giả tập trung phân tích quá trình cải cách
hệ thống DNNN (DN quốc hữu) ở Trung Quốc trên nhiều khía cạnh khác nhau
như sở hữu, chủ thể quản lý …. Trong đó, định hướng hình thành tập đoàn từ
các DNNN được đề cập như một giải pháp cải cách; Hai cuốn sách của tác giả
Kornai Janos: Hệ thống XHCN (2002), NXB Văn hoá thông tin và cu
ốn Con
đường dẫn đến nền KTTT (2001), NXB Hội tin học Việt Nam, Hà Nội đã
“phẫu thuật” rất chi tiết, có hệ thống về kinh tế các nước chuyển đổi, trong đó
lấy kinh tế Hungari làm nội dung trọng tâm trong phân tích. Kornai tập trung
công sức của mình cho vấn đề sở hữu, thể chế quản lý …. Định hướng phát
triển các tổ chức kinh doanh qui mô lớn được tác giả nhìn nhận như một gi
ải pháp
qua lăng kính cải cách sở hữu; các bài viết, thông tin trên trang thông tin điện tử
của các TĐKT cụ thể và trên trang chính thức của hai tạp chí nổi tiếng Fortune
(http://www.fortune.com
) và Businessweek (http://www.businessweek.com) cung
cấp khá đầy đủ, cập nhật các thông tin liên quan đến những TĐKT hàng đầu
thế giới trên các mặt như doanh thu, lợi nhuận, lao động, lĩnh vực kinh doanh
cùng với những bài phân tích của các chuyên gia trên từng lĩnh vực cụ thể.
Công trình nghiên cứu của tập thể tác giả Rapld Nander, Mark Green và
Joel Seligman (1976) với tiêu đề Thuần phục các tập đoàn lớn, New York w.
chất, vừa đặt chúng trong bối cảnh mới – ngưỡng cửa của thế kỷ XXI.
Đề tài KHXH 06-05
Bản chất, đặc điểm và vai trò của các công ty xuyên
quốc gia và đa quốc gia trên thế giới. Chính sách của ta, Chương trình KHCN
cấp nhà nước 06 (Giai đoạn 1996-2000) do tác giả Nguyễn Thiết Sơn làm chủ
nhiệm được xuất bản thành sách
5
cung cấp cho người đọc những kiến thức sâu
về đặc điểm, bản chất, vai trò của các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia
trên thế giới, phân tích hoạt động của các công ty xuyên quốc gia Mỹ, Nhật
Bản, Tây Âu, hoạt động của chúng ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất quan
điểm, đối sách phù hợp nhằm thu hút và phát huy tác động tích cực của chúng
đối với nền kinh tế Việt Nam.
Cuốn sách Tập đoàn kinh tế - Lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng dụng 5
Cuốn sách có tiêu đề: Nguyễn Thiết Sơn (Chủ biên), Các công ty xuyên quốc gia – Khái niệm, đặc trưng và
những biểu hiện mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.
6
vào Việt Nam (2005) của tác giả Trần Tiến Cường (chủ biên). Nội dung cuốn
sách đề cập khá bao quát những nội dung xung quanh TĐKT, từ quan niệm,
phương thức hình thành, nguyên tắc và điều kiện hình thành đến các mô hình
tập đoàn trên thế giới. Cuốn sách cũng đề cập những vấn đề từ vĩ mô đến vi
mô, từ tổng thể đến các biện pháp cụ thể nhằm vận dụ
ng vào hình thành,
phát triển TĐKT ở Việt Nam.
Luận án của tác giả Hoàng Thị Bích Loan, Các công ty xuyên quốc gia
của một số nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) châu Á, Học viện Chính trị
- Cuốn sách Mô hình Tập đoàn kinh tế trong CNH, HĐH (2002) của tác
giả Vũ Huy Từ (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. Với nội dung gần
300 trang được chia làm 2 phần, 6 chương, cuốn sách đã giải quyết khá nhiều
nội dung về TĐKT: Từ cơ sở
lý luận, kinh nghiệm, nhân tố tác động đến sự
phát triển các tập đoàn trên thế giới đến hình thành và tổ chức quản lý tập đoàn
ở Việt Nam. Cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của tác giả theo lô gíc từ lý
luận đến thực tiễn hình thành mô hình này ở Việt Nam và phân tích các TCT
như một “nhân tố nền tảng”, trên cơ sở đó tìm kiếm các giải pháp quản lý nhà
nước (QLNN) đối với mô hình này.
- Cuốn sách Tập đoàn kinh tế và một số vấn đề về xây dựng tập đoàn
kinh tế ở Việt Nam của tác giả Minh Châu (2005), Nxb Bưu Điện, Hà Nội. Nội
dung cuốn sách trên cơ sở trình bày những vấn đề chung về TĐKT, kinh
nghiệm phát triển TĐKT ngành bưu chính viễn thông ở một số quốc gia; những
nội dung liên quan đến tập đoàn hóa DN; kinh nghiệm và bài học phát triển t
ập
đoàn DN của Trung Quốc , qua đó, tác giả đề xuất định hướng về xây dựng
TĐKT ở Việt Nam. Riêng phần giải pháp, tác giả chỉ đề xuất đối với xây dựng
tập đoàn Bưu chính Viễn thông, các tập đoàn khác không được đề cập cụ thể.
- Cuốn sách Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, của tác
giả Bùi Văn Huyền (2008), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội. Nội dung cuốn
sách không chỉ trình bày tổng quát những vấn đề lý luận, thực tiễn của sự hình
thành và phát triển tập đoàn mà một dung lượng không nhỏ của cuốn sách đã
được dành để phân tích thực trạng hoạt động của một số tổ hợp kinh doanh - cơ
sở để hình thành các TĐKT ở Việt Nam. Trên cơ sở những đánh giá một cách
khoa học về hoạt
động của các tổ hợp kinh doanh đó, tác giả cuốn sách đã đề
ra các giải pháp nhằm xây dựng và phát triển các TĐKT ở Việt Nam.
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu ở các quy mô khác nhau
ngoài nghiên cứu về TĐKT Việt Nam không nhiều, song đây là những ý kiến
đánh giá thẳng thắ
n, độc lập, tập trung phân tích những mặt trái của mô hình
tập đoàn và những nguy cơ có thể xảy ra nếu Chính phủ không có những biện
pháp quản lý kịp thời. Đây là những công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo
tốt trong nghiên cứu cũng như hoạch định và thực thi chính sách.
Như vậy, các công trình nghiên cứu ngoài nước có đề cập đến những
vấn đề lý luận và thực tiễn của TĐKT nhưng không th
ể áp dụng như một công
9
thức trong điều kiện Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trong nước đề cập
đến nhiều khía cạnh với các cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên,
thực tiễn vận động của nền kinh tế cũng như các TĐKT đòi hỏi cần tiếp tục có
những nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này.
3. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Mục tiêu chung: Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về TĐKT; qua
kinh nghiệm thành công và thất bại của một số TĐKT trên thế giới; từ những
phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các TĐKT ở Việt Nam, đề tài
tìm kiếm nguyên nhân của những hạn chế, trên cơ sở đó xác định phương
hướng và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển các TĐ
KT trong thời
gian tới.
- Mục tiêu cụ thể:
a/ Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TĐKT trên các nội dung cụ
thể như: Tính tất yếu khách quan hình thành và phát triển mô hình kinh doanh
quy mô lớn (gọi chung là TĐKT), đặc điểm, vai trò
b/ Đánh giá thực trạng phát triển các TĐKT ở Việt Nam, rút ra những kết quả
đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
c/ Xác định phương hướng và giải pháp phát triển các TĐKT
TĐKT là sản phẩm khách quan của nền KTTT, vì vậy, có thể nói, sự ra
đời TĐKT chính là biểu hiện cụ thể của sự phát triển kinh tế. Ngay từ đầu thế
kỷ 20, ở các nước tư bản đã hình thành những TĐKT xuyên quốc gia, các
TĐKT này phát triển lớn mạnh và trở thành một trong những nhân tố quan
trọng thúc đẩy sự phát triển của n
ền kinh tế quốc dân.
Hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm “TĐKT”
và chưa có một khái niệm nào được xem là chuẩn mực. Vì thế trong phạm vi
nghiên cứu này, chúng tôi chỉ giới thiệu một số khái niệm để từ đó có cái nhìn
khái quát và toàn diện nhất về “TĐKT”.
Theo bách khoa toàn thư Wikipedia tiếng Anh thì TĐKT được hiểu “là
một thực thể pháp lí, mà trong khi được sở hữu chung bởi một số người t
ự
nhiên hoặc những thực thể pháp lí khác có thể tồn tại hoàn toàn độc lập khỏi
chúng, sự tồn tại độc lập này mang lại cho TĐKT những quyền riêng mà
những thực thể pháp lí khác không có. Qui mô và phạm vi về khả năng và tình
trạng của TĐKT có thể được chỉ rõ bởi luật pháp nơi sáp nhập”. Theo từ điển
Business English of Longman thì “TĐKT (Group of company) là một tổ hợp
các công ty độc l
ập về mặt pháp lý nhưng tạo thành một tập đoàn gồm một
Công ty mẹ và một hay nhiều Công ty con hoặc chi nhánh góp vốn cổ phần,
chịu sự kiểm soát của Công ty mẹ vì Công ty mẹ chiếm 1/2 vốn cổ phần”.
Nhiều nhà kinh tế cũng đã đưa ra nhiều khái niệm TĐKT; ví dụ:
“TĐKT là một tập hợp các công ty hoạt động kinh doanh trên các thị trường
khác nhau dưới sự kiểm soát v
ề tài chính hoặc quản trị chung, trong đó các
thành viên của chúng ràng buộc với nhau bằng các mối quan hệ tin cậy lẫn
nhau trên cơ sở sắc tộc hoặc bối cảnh thương mại” (Leff, 1978); “TĐKT là
một hệ thống công ty hợp tác thường xuyên với nhau trong một thời gian dài”
12
Hyundai và LG
7
. Chaebol và Keiretsu khác nhau ở một số điểm cơ bản như
sau:
- Chaebol thường được kiểm soát bởi một gia đình hoặc một nhóm ít
gia đình, trong khi Keiretsu được điều hành bởi các nhà quản lý chuyên 1
6
http://www.massogroup.com/cms/content/view/4936/289/lang,en/
7
http://en.wikipedia.org/wiki/Chaebol
13
nghiệp.
- Ở Chaebol quyền lực được tập trung trong tay chủ sở hữu, trong khi
Keiretsu có sự phân quyền nhiều hơn.
- Chaebol thường dựa vào sản xuất các bộ phận để xuất khẩu, trong
khi các tập đoàn lớn của Nhật thường thuê nhà thầu nước ngoài
- Chaebol không được phép sở hữu ngân hàng riêng, nhằm mục đích
tăng cường sự tác động của Chính phủ đối với các ngân hàng trong lĩnh vực
tín dụng. Còn Keiretsu đã từng làm việc với các ngân hàng liên kết, cho phép
các công ty liên kết có thể tiếp cận không hạn chế với tín dụng
8
. Mỗi Keiretsu
lớn thường lấy một ngân hàng làm trung tâm, ngân hàng này cung cấp tín
dụng cho các công ty thành viên của Keiretsu và nắm giữ vị thế về vốn trong
các công ty. Mỗi ngân hàng trung tâm có vai trò kiểm soát rất lớn đối với các
công ty trong Keiretsu và là một tổ chức giám sát, hỗ trợ tài chính trong các
mối liên kết khác xuất phát từ lợi ích của chính các công ty thành viên đó”.
Phải đến Luật DN năm 2005 thì khái niệm “TĐKT” mới lần đầu tiên
được đưa vào một văn bản pháp luật, đánh dấu sự điều chỉnh của pháp luật
Việ
t Nam với mô hình kinh tế này. Theo đó, tập TĐKT được xếp vào một loại
trong Nhóm công ty, và khái niệm này đã được làm rõ hơn ở Nghị định
139/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DN:
“TĐKT bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình
thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua
lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kế
t khác; gắn bó lâu dài với nhau về
lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo
thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp DN trở lên dưới hình thức Công ty mẹ
- Công ty con” (khoản 1 điều 26).
Có thể thấy, thực tế còn nhiều khái niệm khác nhau như trên là bởi mỗi
khái niệm được đưa ra lại nhìn nhận TĐKT ở một khía cạnh khác nhau. Mặc
dù vậy nhưng ta có thể khái quát thành một khái niệm chung về
TĐKT như
sau: “TĐKT là một tập hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay đa
ngành, ở phạm vi một nước hay nhiều nước, các thành viên có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau trong đó có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối
hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và quản trị chung. Tập
đoàn là mô hình liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung vốn, tăng
khả n
ăng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận.”
1.1.2. Quá trình hình thành Tập đoàn kinh tế trên thế giới
1.1.2.1. Tính tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển các tập
đoàn kinh tế trên thế giới
TĐKT là một khái niệm chưa thật thống nhất nhưng sự hiện diện của
nó trong nền kinh tế là tất yếu, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của
rộng, dưới tác động của sự cạnh tranh trong nền KTTT, các DN luôn muốn
mở rộng kinh doanh về cả chiều rộng và chiều sâu, càng đẩy mạnh sự gia tăng
lực lượng sản xuất. Như vậy, theo quy luật khách quan, khi lực lượng sản xuấ
t
đã phát triển mạnh mẽ đến một mức độ nhất định, nền kinh tế đòi hỏi sự ra
đời của một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất hiện tại. Các hình thức tổ chức theo kiểu xí nghiệp, hiệp hội
hay liên hiệp trở nên không còn phù hợp với quy mô và nhu cầu phát triển của
các DN nữa. Và theo từ
ng bước phát triển các liên kết, lịch sử đã cho ra đời
mô hình TĐKT phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đang phát triển
16
rất mạnh dưới sự hỗ trợ của nền công nghiệp kỹ thuật phát triển ở trình độ
cao. TĐKT đã được ra đời và hiện nay vẫn đang là mô hình liên kết kinh tế
hiện đại và mạnh mẽ nhất trên thế giới, đáp ứng các nhu cầu về phát triển
kinh doanh trên diện rộng và chú trọng chuyên môn hóa, thúc đẩy tái sản xuất
hiệu quả.
Thứ hai, Tập đoàn kinh tế
ra đời phù hợp với quy luật tích tụ và tập
trung vốn mở rộng quy mô sản xuất
Tích tụ vốn (tư bản) là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng
cách tư bản hoá một phần giá trị thặng dư. Tập trung tư bản là sự tăng thêm
quy mô tư bản cá biệt bằng cách kết hợp nhiều tư bản nhỏ thành một tư bản
lớ
n hơn. Tập trung tư bản thực chất là sự tăng thêm quy mô tư bản riêng lẻ
bằng cách kết hợp nhiều tư bản nhỏ thành một tư bản lớn hơn. Tích tụ và tập
trung tư bản có quan hệ mật thiết với nhau và tác động, thúc đẩy nhau. Lịch
sử và khoa học đã chứng minh nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đi từ quy mô
nh
chi phi hoc c quyn trờn mt lnh vc no ú. Kinh doanh ging nh mt
cuc chy ua gia cỏc DN v khi mt hoc mt vi DN bt phỏ lờn, s cnh
tranh s khụng cũn ố nng lờn cỏc DN ú na. Khi m ó cú mt v trớ nht
nh trong th trng, DN ú khụng ng quờn trờn chin thng, mc ớch ca
kinh doanh luụn l ti a húa li nhun, khụng bao gi cú mt quy mụ hay
mt con s cú th tha món ngi lm kinh t, cng cú ngha l DN ú s tip
tc m rng kinh doanh, m rng quy mụ. S m rng v quy mụ s bao gm
c vi
c mua li, sỏp nhp hoc m thờm cỏc cụng ty, t ú, khi phỏt trin n
mt quy mụ nht nh, cỏc liờn kt trong kt cu kinh doanh ó n nh,
TKT ra i.
Cũn mt xu hng na cú th xy ra i vi cỏc DN hot ng trong
mụi trng cnh tranh ca nn KTTT l cỏc DN cnh tranh khụng phõn thng
bi, khụng cú DN no bt phỏ vt lờn chi phi ngnh kinh doanh ú. Vi
kh nng ú, cỏc DN khi mun cựng nhau phỏt trin hũa bỡnh v t
c li
nhun cao nht hoc mun cú mt v trớ tt hn trong th trng thỡ s liờn kt
vi nhau (hoc tt c cỏc DN hoc mt vi DN). Quỏ trỡnh liờn kt gia cỏc
ch th kinh t cú th l liờn kt dc, liờn kt ngang hoc liờn kt hn hp, c
th nh sau
10
:
+ Liờn kt ngang: Din ra gia cỏc cụng ty cựng hot ng trong mt 10
o Xuõn Thy. Điều kiện và giải pháp hình thành các Tập đoàn kinh tế ở nớc ta qua sắp xếp lại các
Tổng công ty 91 ,tr23
18
và chỉ có những chủ thể kinh doanh lớn mạnh mới có khả năng đầu tư để cho
ra đời những công nghệ mới có tính ứng dụng cao. Bên cạnh đó, các DN kinh
doanh về lĩnh vực công nghệ khoa học c
ũng ra đời nhưng cũng đòi hỏi nguồn
19
vốn lớn để đầu tư nghiên cứu, từ đó, các liên kết xuất hiện giải quyết vấn đề
về nguồn vốn và quy mô kinh doanh lĩnh vực này. Có thể nói, tiến bộ khoa
học, công nghệ vừa là tiền đề, vừa là nhu cầu, vừa là hệ quả hình thành các
TĐKT, đồng thời cũng là nhân tố quan trọng để mỗi DN, mỗi tập đoàn giành
thắng lợi trong c
ạnh tranh bằng việc ứng dụng tiến bộ công nghệ vào sản
xuất.
1.1.2.2. Các con đường hình thành các Tập đoàn kinh tế trên thế giới
Nói đến quá trình hình thành TĐKT trên thế giới cũng có nghĩa là nói
đến việc khái niệm này đã ra đời như thế nào, điều đó cũng đồng nghĩa với
quá trình các TĐKT trên thế giới đã hình thành bằng cách nào và ra sao. Việc
luận giải về quá trình này có ý nghĩa đặ
c biệt quan trọng đối với việc nghiên
cứu đặc điểm, vai trò và cũng ảnh hưởng cả đến cả các quan điểm về khái
niệm TĐKT được đưa ra. Sự ra đời của TĐKT luôn được khẳng định là mang
tính tất yếu khách quan, phù hợp với các quy luật kinh tế - xã hội và thực sự
phải quay lại lịch sử mới có thể chứng minh được khẳng định này.
Trước hết, quá trình hình thành TĐKT gắn liền với quá trình hình
thành các mối liên kết kinh tế, bắt đầu từ đơn lẻ đến liên kết phức tạp, từ quy
mô nhỏ đến quy mô lớn, từ đơn sở hữu đến đa sở hữu dưới tác động của các
quy luật kinh tế cơ bản. Trong cuộc sống nói chung, nhu cầu liên kết với
những người xung quanh để thực hiện các nhiệ
m vụ chung hay nhu cầu chia
sẻ sự khó khăn là rất tự nhiên, tuy nhiên, trong kinh tế, nơi mà lợi ích cá nhân
. Cỏc liờn kt tng bc phỏt trin nhm phự
hp vi s phỏt trin ca lc lng sn xut ỳng nh quy lut lng cht m
ch ngha Mỏc Lờ nin ó phõn tớch. S hp nht, liờn kt, phỏ sn hay sỏp
nhp ca cỏc DN chớnh l biu hin rừ nột nht v mi liờn kt kinh doanh
gia cỏc th nhõn khụng phi cỏ nhõn. S kt hp gia cỏc DN trờn th gii l
bc thay i ln so v
i s kt hp n l gia cỏc th th cụng thi k trc
ú. Mc dự s hp nht, liờn kt, sỏp nhp trong thi k u cha to lp
c cỏc TKT nhng ú thc s l s khi u manh nha cho cu trỳc liờn
kt vng mnh ny.
Tri qua giai on ca cỏc liờn kt u tiờn gia cỏc DN, khi cỏc DN
ngy cng ln mnh, nhu cu m r
ng sn xut, thu hỳt vn kinh doanh c
t ra v hỡnh thc CTCP ra i c coi l mt bc tin ln trong lch s
hỡnh thnh cỏc loi hỡnh kinh doanh. Ln u tiờn trong lch s, vic mt cụng
ty cú th d dng c s hu bi rt nhiu ch th ch n gin bng vic
mua c phn ca cụng ty. Chớnh t s gúp vn nhanh gn, d dng ca hỡnh
thc CTCP ó to
iu kin cỏc DN tng quy mụ mt cỏch nhanh chúng 11
o Xuõn Thy. Điều kiện và giải pháp hình thành các Tập đoàn kinh tế ở nớc ta qua sắp xếp lại các Tổng
công ty 91
21
thông qua vốn góp của các nhà đầu tư. Cùng với sự phát triển này, yêu cầu
phải có một cách thức quản lý phần vốn góp một cách hợp lý được đặt ra,
từng bước tách chức năng kinh doanh của DN với chức năng chủ sở hữu.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hình thức tư bản độc quyền xuất
bảo l
ợi ích của mỗi DN. Các TĐKT hình thành theo con đường truyền thống
22
thường lựa chọn các cách thức sau:
- Các DN đang hoạt động kết hợp lại với nhau bằng cách bán cổ phần
cho một công ty mới lập (công ty nắm vốn, tham gia điều hành đối với mỗi
DN khác nhau).
- Một DN có quy mô lớn, tiềm lực mạnh về vốn,… thực hiện đầu tư
vốn để lập các công ty con nhằm chiếm lĩnh thị trường (chia nhỏ công ty).
Th
ứ hai, TĐKT hình thành trên cơ sở đầu tư của Chính phủ: Đầu tiên
Chính phủ đầu tư vốn và thành lập các DN thuộc SHNN, hoạt động trong một
số lĩnh vực trọng yếu hoặc độc quyền nhà nước, sau một quá trình hoạt động,
Chính phủ cơ cấu lại khu vực này và mô hình TĐKT là một trong những lựa
chọn. Cách thức này cần có giai đoạn chuyển tiếp cần thiết và phù hợ
p, không
thể nóng vội, bắt đầu từ việc đa dạng hóa sở hữu, tạo mối liên kết, đầu tư, tổ
chức lại theo mô hình mới đến cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy các TĐKT
hình thành và phát triển. Nhà nước đóng vai trò chủ sở hữu, đầu tư vốn, can
thiệp sâu vào việc thành lập các TĐKT nhưng không thể thay thế chức năng
của thị trường trong việc đ
iều tiết các quan hệ kinh tế mà chỉ tạo lập những
điều kiện ban đầu nhằm đạt mục tiêu phát triển kinh tế với thời gian ngắn hơn
so với sự phát triển tuần tự theo con đường truyền thống
Mặc dù con đường truyền thống được đánh giá và chứng minh là có
nhiều ưu điểm hơn, nhưng thực tế cũng đã khẳng định việ
c hình thành bằng
con đường nào không quyết định sự thành công của TĐKT, nhiều TĐKT trên
thế giới ở Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc cũng được hình thành bằng