ChơngI
Kinh tế hộ sản xuất và tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất
I. Kinh tế hộ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
1. Vai trò của nông nghiệp nông thôn nớc ta.
Nông nghiệp nông thôn có vị trí hết sức quan trọng đối với nền kinh
tế quốc dân. Nớc ta hơn 80% dân số sống ở nông thôn và hơn 70% lao
động trong ngành nông nghiệp, hàng năm nông nghiệp sản xuất ra hơn
40% tổng sản phẩm xã hội và 50% giá trị thu nhập quốc dân.
Vai trò của nông nghiệp nông thôn còn thể hiện ở việc xuất khẩu các nông
sản có ảnh hởng đến kim nghạch xuất khẩu với một thế mạnh về điều kiện
đất đai, thiên nhiên, thời tiết và khí hậu, nên nông nghiệp nớc ta có thể sản
xuất ra nhiều nông sản thực phẩm cao cấp góp phần cho xuất khẩu. Tổng
sản lợng nông nghiệp kể năm 1990 trở lại đâu tăng đáng kể, trong đó nổi
bật nhất là lơng thực.
Năm 1990 sản lợng lơng thực là 21,49 triệu tấn.
Năm 1991 sản lợng lơng thực là 21,99 triệu tấn
Năm 1992 sản lợng lơng thực là 24,20 triệu tấn
Năm 1993 sản lợng lơng thực là 24,50 triệu tấn
Năm 1997 sản lợng lơng thực là 30,50 triệu tấn, xuất khẩu 3,6
triệu tấn đứng hàng thứ 3 sau Mỹ và Thái lan.
Năm 1998 sản lợng lơng thực là 31,85 triệu tấn, xuất khẩu 3,8 triệu
tấn đứng thứ 2 sau Thái lan.
Từ chỗ độc canh cây lơng thực tới cơ cấu sản xuất cây nông nghiệp
đã chuyển sang kết hợp chăn nuôi, tỷ trọng sản lợng ngành chăn nuôi
chiếm gần 30% sản lợng nông nghiệp.
Hàng năm, nớc ta trồng thêm đợc 1020 ha rừng tập trung, 400 triệu cây
phân tán, khai thác trên 3triệu mét khối gỗ 30triệu xe củi cung cấp cho
nhu cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu. Bên cạnh đó việc đánh bắt và
nuôi trông thuỷ sản đều đạt sản lợng cao.
Tuy nhiên nền nông nghiệp nớc ta vẫn còn nét đặc thù đó là nền
nông nghiệp tự cấp mà đại đa số nông dân sản xuất nhỏ là phổ biến, phân
viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung. Một số thuật ngữ
khác đợc dùng để thay thế thuật ngữ "hộ sản xuất" là "hộ", "hộ gia đình".
Ngày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng của sự nghiệp
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây
dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Để phù hợp
với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trơng của Đảng và Nhà nớc, Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Phụ lục số 1 kèm theo Quyết định
2
499A ngày 2/9/1993, theo đó khái niệm hộ sản xuất đợc hiểu nh sau: "Hộ sản xuất
là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ
sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của
mình". Thành phần chủ yếu của hộ sản xuất bao gồm: hộ nông dân, hộ t nhân, cá
thể, hộ gia đình xã viên, hộ nông, làm trờng viên.
Nh vậy, hộ sản xuất là một lực lợng sản xuất to lớn ở nông thôn. Hộ sản xuất
hoạt động trong nhiều ngành nghề nhng hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các họ này tiến hành sản xuất kinh doanh đa
dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề phụ. Đặc điểm sản
xuất kinh doanh nhiều ngành nghề nói trên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động của các hộ sản xuất ở nớc ta.
2.2. Đặc điểm của kinh tế hộ sản xuất.
Đặc trng 1: Kinh tế hộ nông thôn nớc ta đang chuyển từ kinh tế tự cấp, tự túc
khép kín lên dần nền kinh tế hàng hoá. Tiếp cận với thị trờng chuyển từ nghề nông
thuần tuý sang nền kinh tế đa dạng theo xu hớng chuyên môn hoá. Dới sự tác động
của các quy kụat kinh tế thị trờng trong quá trình chuyển hoá tất yếu sẽ dẫn đến
cạnh tranh và hệ quả sẽ đến sự phân chia giàu nghèo trong nông thôn. Từ đó vấn đề
đặt ra đối với quản lý và điều hành phía Nhà nớc là phải làm soa cho phép kinh tế hộ
phát triển mà vẫn đảm bảo công bằng xã hội, tăng số hộ giàu, giảm hộ nghèo, tạo
điều kiện để hộ nghèo bớt khó khăn và vơn lên khá giả.
Đặc trng 2: Quy mô và cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ chênh lệch nhau
khá lớn giữa các vùng và ngay cả trong một số vùng cùng có sự chênh lệch nhau
trú tơng ứng là thành thị và nông thôn. Nớc ta có 80% số hộ nông thôn và 20% hộ
thành thị.
- Hộ sản xuất theo vùng kinh tế: theo đó nớc ta có 7 vùng chính đó là: Miền
núi và trung du Bắc Bộ; Đồng bằng Sông Hồng; ven biển Bắc Trung Bộ; ven biển
Nam Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng Sông Cửu Long.
Hoạt động kinh tế hộ sản xuất mang sắc thái và đặc trng mỗi vùng.
2.3.2. Dựa trên các yếu tố kinh tế.
- Đây là hình thức phân loại thờng gặp nhất, trong đó bao gồm nhiều dạng
phân loại khác nhau. Dựa vào thu nhập có thể chia ra hộ giầu - nghèo; hoặc hộ giầu,
hộ khá - hộ trung bình - hộ nghèo. Tuy nhiên, việc tính thu nhập nhất là của ngời
nông dân là điều rất phức tạp. Mặt khác, tiêu chuẩn giầu, nghèo khác nhau giữa các
khu vực nh thành thị, nông thôn.
- Dựa vào mức độ đa dạng hoá sản xuất co thể chia ra: hộ thuần nông, hộ
kinh doanh tổng hợp, hppj sản xuất phi nông nghiệp. Từ sự phân hoá trên có thể đa
ra những chính sách kinh tế phù hợp tại điều kiện khuyến khích các hộ phát triển
ngành nghề, tăng trởng sản phẩm hàng hoá.
2.4. Vai trò của kinh tế hộ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.
4
Từ khi Nghị Quyết 10 - Bộ Chính trị ban hành, hộ nông dân đợc thừa nhận là
một đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ, năng động trong
kinh tế nông thôn, nhờ đó ngời nông dân gắn bó với ruộng đất hơn, chủ động đầu t
vốn để thâm canh tăng vụ, bố trí phân vùng đặc điểm sinh thái và nhu cầu thị trờng,
khai phá thêm hàng ngàn hecta đất mới, ruộng đất đợc sử dụng tốt hơn, vừa đi vào
thâm canh vừa đi vào đổi mới cơ cấu sản xuất, cơ cấu thời vụ. Việc trao quyền tự
chủ cho hộ nông dân đã khơi dậy nhiều làng nghề truyền thống, mạnh dạn vận dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất để đạt tới mục đích cuối cùng là thu đợc
thành quả lớn nhất. Điều này càng khẳng định sự tồn tại khách quan của hộ sản xuất
với vai trò là cầu nối trung gian giữa hai nền kinh tế, là đơn vị tích vốn, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn.
2.4.1. Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế
nông nghiệp và nông thôn.
Mặt khác, so cơ tạo hữu cơ thấp, quy mô sản xuất nhỏ, nên mức đầu t cho
một lao động trong kinh tế hộ sản xuất là thấp. Qua khảo sát Việt Nam cho thấy :
- Vốn đầu t cho hộ sản xuất: 1,5 triệu/1lao động/1 việc làm.
- Vốn đầu t cho 1 công ty t nhân: 3,5 triệu/1lao động/1 việc làm.
- Vốn đầu t cho kinh tế quốc doanh địa phơng:
3,5 triệu/1lao động/1 việc làm.
(ở đây chỉ tính vốn đầu t tài sản cố định)
Nh vậy, chi phí cho một lao động ở trong hộ sản xuất là ít tốn kém nhất. Điều
này đặt trong hoàn cảnh đất nớc ta còn là một nớc nghèo, vốn tích luỹ ít thì càng
khẳng định hộ sản xuất là một hình thức tổ chức kinh tế phù hợp góp phần giải
quyêts công ăn việc làm , nâng cao thu nhập cho lực lợng lao động trong cả nớc nói
chung và ở nông thôn nói riêng.
2.4.3. Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trờng thúc đẩy sản
xuất hàng hoá.
Ngày nay, hộ sản xuất hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự tự do cạnh tranh
trong sản xuất hàng hoá, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản xuất phải quyết
định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì? Sản xuất nh thế nào
để trực tiếp quan hệ với thị trờng. Để đạt đợc điều này các đơn vị kinh tế nói chung
và hộ sản xuất nói riêng đều phải không ngừng nâng cao chất lợng, mẫu mã sản
phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích thích cầu từ đó mở
rộng sản xuất đôngf thời đạt đợc hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có thể dễ
dàng đáp ứng đợc những thay đổi của nhu cầu thị trờng mà không sợ ảnh hởng đến
tốn kêms về mặt chi phí. Thêm vào đó lại đợc Đảng và Nhà nớc có các chính sách
khuyến khích, hộ sản xuất không ngừng vơn lên tự khẳng định vị trí trên thị trờng,
tạo điều kiện cho thị trờng phát triển đầy đủ, đa dạng thúc đẩy quá trình sản xuất
hàng hoá. Nh vậy với khả năng nhạy bến trớc nhu cầu thị trờng, hộ sản xuất đã góp
6
phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trờng tạo ra động lực thúc đẩy
xuất hàng hoá theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc, phát triển nền kinh
tế nhiều thành phấn. Đảng và Nhà nớc đã ban hành những chủ chơng, csc để định h-
ớng nêu trân. Nhờ đó, kinh tế hộ sản xuất dần đợc đặt vào đúng vị trí của nó.
7
Tháng 4/1988 - Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 10 nhằm cụ thể hoá
một bớc quan điểm đổi mới của ĐH VI đối với lĩnh vực quản lý nông nghiệp, tạo
điều kiện cho việc hình thành và thức đẩy kinh tế hộ sản xuất phát triển. Từ đây hộ
nông dân đợc thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh và là
đơn vị kinh tế cơ sở ở nông thôn.
Sau Nghị định 10 của Bộ Chính trị rồi đến Nghị định 66 HĐBT của Hội đồng
Bộ trởng ngày 2/3/1992, cùng luật doanh nghiệp t nhân NĐ 29 ngày 19/3/1998, luật
công ty thì hộ sản xuất đã đợc thừa nhận là một đơn vị kinh tế bình đẳng nh các
thành phần kinh tế khác. Điều này đợc khẳng định tại điều 21 Hiến pháp nớc
CHXHCN Việt Nam năm 1992: "Kinh tế gia đình đợc khuyến khích phát triển".
Đại hội lần thứ VII của Đảng chủ trơng phát triển nền kinh tế nớc ta nói
chung và đặc biệt đối với kinh tế hộ gia đình nói riêng.
Tháng 6/1993, tại kỳ họp lần thứ 5 (khoá VII), Đảng đã ban hàng nghị định
TW5, tiếp tục khẳng định quyền tự chủ của hộ với t cách là một chủ thể kinh tế ở
nông thôn đợc luật thừa nhận quyền sử dụng đất đai (5 quyền), quyền vay vốn tín
dụng, quyền lựa chọn phơng án sản xuất kinh doanh có lợi nhất, quyền tự do lu
thông tiêu thụ sản phẩm.
Nghị quyết TW5 cùng các văn bản luật, Nghị định của Chính phủ đã tạo
hành lang pháp lý, khơi dậy động lực cho hơn 10 triệu hộ nông dân phát triển. Từ đó
phát triển triển mạnh nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII với chủ trơng CNH - HĐH đất nớc.
Nghị quyết TW6 lần một (khoá VIII) với chủ trơng "tiếp tục đổi mới, đẩy
mạnh CNH - HĐH đất nớc, nhất là CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn" đã khẳng
định nông nghiệp nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trớc mắt và
lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Cùng với các chính sách về
các thành phần kinh tế, kinh tế hộ đợc khuyến khích phát triển "Kinh tế hộ gia đình
ứng điều kiện vay vốn ngân hàng.
Đối với ngân hàng, t khi chuyển hệ thống ngân hàng hai cấp, hạch toán kinh
tế và kinh doanh độc lập, các ngân hàng phải tự tìm kiếm thị trờng với mục tiêu an
toàn và lợi nhuận. Thêm vào đó là Nghị định 14/CP ngày 02/03/1993 của Thủ tớng
Chính phủ, thông t 01 - TD - NH ngày 26/03/1993 của Thống đốc ngân hàng Nhà n-
ớc hớng dẫn thực hiện nghị định 14/CP về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để
phát triển nông - lâm - ng nghiệp. Và gần đây là quy định số 67/1999/QĐ - TTg của
Thủ tớng Chính phủ, văn bản số 320/CV - NHNN 14 của Thống đốc NHNN hớng
dẫn thực hiện quy định trên, văn bản số 791/NHN
o
- 06 của Tổng giám đốc
NHN
o
VN về thực hiện một số chính sách ngân hàng phụ vụ phát triển nông nghiệp
nông thôn. Với các văn bản trên đã mở ra một thị trờng mới cho ngân hàng trong
hoạt động tín dụng. Trong khi đó hộ sản xuất đã cho thấy sản xuất có hiệu quả nhng
còn thiếu vốn để mở rộng tiến hành sản xuất kinh doanh. Đứng trớc tình hình đó,
9
việc tồn tại một hình thức tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất là một yết tố phù
hợp với cung cầu trên thị trờng đợc môi trờng xã hội, pháp luật cho phép.
2. Vai trò tín dụng ngân hàng với kinh tế hộ sản xuất.
Trong nền kinh tế hàng hoá các doanh nghiệp khổng thể tiến hành sản xuất
kinh doanh nếu không có vốn. Đặc biệt là trong điều kiện nớc ta hiện nay, thiếu vốn
là hiện tợng thờng xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối với
hộ sản xuất. Vì vậy vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó trở
thành "bà đỡ" trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Nhờ có vốn tín dụng, các đơn vị kinh tế không những đảm bảo quá trình
sản xuất kinh doanh bình thờng mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp
dụng kỹ thuật mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh. Riêng đối với hộ sản
xuất, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ
Trong cơ chế thị trờng, vai trò tập trung vố tập trung sản xuất của tín
dụng ngân hàng đã đợc thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn đối với các ngân hàng phải
đảm bảo đợc độ an toàn và có lợi nhuận, tránh rủi ro trong cho vay.
Bằng cách tập trung vốn vào các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh
doanh có hiệu quả, có nghĩa là vốn đã đợc bổ sung vào đúng chỗ còn thiếu, giúp
cho các hộ sản xuất càng có điều kiện để mở rộng sản xuất có hiệu quả hơn,
đóng góp cho xã hội nhiều sản phẩm với chất lợng cao thúc đẩy quá trình tăng
trởng kinh tế và đồng thời ngân hàng cũng đảm bảo tránh đợc rủi ro tín dụng.
Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu t, ngân hàng
phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động đợc để cho hộ sản xuất vay. Vì vậy
ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh
vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lu thông. trên cơ sở đó hộ sản
xuất phải tập trng vốn nh thế nào để sản xuất, góp phần tích cực vào quá trình
vận động liên tục của nguồn vốn.
2.3. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống,
ngành nghề mới giải quyết việc làm cho ngời lao động.
Việt Nam là một nớc nông nghiệp, có nhiều làng nghề truyền thốg, nhng
cha đợc quan tâm đến các ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả
kinh tế đặc biệt trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn. Phát huy đợc làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy
đợc nội lực của kinh tế hộ. Và tín dụng ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các
ngành nghề mới thu hút đợc số lao động nhàn rỗi giải quyết việc làm cho ngời
lao động. Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm, ng nghiệp gắn với
công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thơng nghiệp, du lịch, dịch vụ ở các thành thị
và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại.
11
Do đó tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề
này phát triển một cách nhịp nhành và đồng bộ. Nh vậy, bằng động tác gián tiếp
hoá - hiện đại hoá, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế.
Để phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chính sách
tín dụng ngân hàng đã và đang thực hiện đổi mới đồng bộ và hữu đáp ứng các yêu
12
cầu mới, tạo bớc đột phá trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nội
lực và nguồn bên ngoài. Nhìn lại các chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát
triển nông nghiệp - nông thôn có thể nói chính sách tín dụng nhằm tạo động lực thúc
đẩy sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho ngời lao động trong
lĩnh vực nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn luôn là một chính sách quan
trong nhất của Đảng và Nhà nớc ta.
Ngày 26 tháng 8 năm 1991 (Ngày đầu của thời kỳ đổi mới) Hội đồng bộ tr-
ởng (nay là Chính phủ) đã có chỉ thị số 202/CT nêu rõ: "Việc cho vay của ngân hàng
để phát triển sản xuất nông, lâm, ng, diêm nghiệp cần đợc chuyển sang cho vay trực
tiếp đối với hộ sản xuất thuộc các ngành này thực sự trở thành đơn vị kinh tế tự chủ".
Ngày 2/03/1993 trên cơ sở kết quả và kinh nghiệm sau hơn 1 năm "làm thử"
việc chuyển sang cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 14/CP về "chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển sản xuất nông,
lâm, ng, diêm nghiệp và kinh tế nông thôn". Đây là bớc tiến mới, vì chỉ thị 202/CP
chủ yếu chỉ đề cập đến việc chuyển hớng tín dụng ngân hàng sang cho vay trực tiếp
hộ sản xuất và triển khai thực hiện nh một chơng trình thử nghiệm.
Ngày 20/03/1999 chính phủ ban hành Quyết định số 67/199/QĐ-TTg về
"một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn".
Ngày 16 tháng 04 năm 1999 Thống đốc ngân hàng nhà nớc có văn bản số
320 CV-NHN 14 hớng dẫn thực hiện một số nội dung trong Nghị định 67 của Chính
phủ và giao cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chịu
trách nhiệm chủ yếu thực hiện.
Thống đốc ngân hàng nhà nớc Việt Nam yêu cầu các chi nhánh ngân hàng
thực hiện một số nội dung sau có liên quan tới tín dụng hộ sản xuất.
* Về nguồn vốn :
- Các chi nhánh thành viên phải có biện pháp phù hợp để huy động nguồn
thôn làm đại lý một số nghiệp vụ tín dụng, chi nhánh phải xem xét đầy đủ khả năng
quản lý, tài chính và khả năng thực hiện nghiệp vụ đại lý của tổ chức này và phải có
đề án trình Tổng giám đốc xem xét quyết định mới thực hiện.
3.2. Một số quyết định chính sách của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam đối với tín dụng đầu t hộ sản xuất.
- Căn cứ điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam ban hàng kèm theo Quyết định số 390/QĐ - NHNN5
ngày 22 tháng 11 năm 1997 của Thống đốc ngân hàng nhà nớc Việt Nam.
- Căn cứ Quyết định số 284/2000/QĐ - NHNN1 ngày 21/9/2000 của Thống
đốc ngân hàng Nhà nớc Việt Nam về đối tợng cho vay bằng ngoại tệ của tổ chchính
sách tín dụng.
- Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam kỳ họp lần thứ 15.
Ban hành kèm theo quyết định này quy định cho vay đối với khách hàng.
14
- Quyết định này (Quyết định số 06/QĐ-HĐQT ngày 18 thời gianáng 01 năm
2001) có hiệu lực kể từ ngày 02 tháng 02 năm 2001 và thay thế các quy định của
Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam sau đây:
+ Quyết định số 180/QĐ/HĐQT ngày 15 tháng 12 năm 1998 của Hội đồng
quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam v/v ban hành
cho vay đối với khách hàng.
Các văn bản hớng dẫn Quyết định số 180/QĐ/HĐQUá TRìNH của Tổng
giám đốc: văn bản số 1110/NHNo-05 ngày 2 tháng 6 năm 1999 về mẫu biểu cho
vay theo QĐ 180; văn bản số 2375/NHNo-05 ngày 18 tháng 10 năm 1999 v/v thực
hiện Quyết định số 180/QĐ/HĐQUá TRìNH.
Trong phạm vi đề tài này chỉ giới thiệu một số quy định việc cho vay bằng
đồng Việt Nam của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đối
với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ đầu t
phát triển và đầu t phát triển và đời sống của kinh tế hộ sản xuất.
- Các ngân hàng nông nghiệp cơ sở phải đảm bảo:
+ Cho vay các đối tợng là giá trị vật t hàng hoá, máy móc thiết bị và các
khoản chi phí để khách hàng thực hiện dự án hoặc phơng án sản xuất kinh doanh.
+ Thoả thuận thời hạn cho vay: Cho vay ngắn hạn đợc xác định phù hợp với
chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng tối đa không quá 12
tháng. Cho vay trung và dài hạn đợc xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của
dự án đầu t, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn cho vay của
ngân hàng nông nghiệp (cho vay trung hạn từ 12 - 60 tháng cho vay dài hạn từ 60
tháng trở lên nhng không quá hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành bảng
hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với cho vay
các dự án phục vụ đời sống).
+ Thoả thuận lãi suất cho vay cho phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà
nớc và Ngân hàng nông nghiệp tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng.
Trờng hợp khản vay bị chuyển sang nợ quá hạn phải áp dụng lãi suất nợ quá
hạn theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc tại thời điểm ký hợp đồng tín
dụng.
+ Mức cho vay: Ngân hàng phải căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng,
vốn tự có của khách hàng tham gia vào dự án: mức cho vay tối đa không quá 70%
tổng nhu cầu vốn của dự án (đối với cho vay đời sống là không quá 60% tổng nhu
cầu) tỷ lẹe cho vay không quá 70% giá trị tài sản làm đảm bảo tiền vay.
+ Ngân hàng nông nghiệp đợc miễn giảm tiền vay của khách hàng theo
nguyên tắc khách hàng bị tổn thất về tài sản có liên quan đến vốn vay do nguyên
nhân - Ngân hàng nông nghiệp không đợc miễn giảm lãi tiền vay đối với khách
hàng thuộc đối tợng quy định tại điểm 1 điều 78 luật của tổ chức tín dụng.
16
+ Ngân hàng nông nghiệp có nghĩa vụ thực hiện đúng thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng, lu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Ngân hàng nông nghiệp nơi cho có trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá
trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng nhằm đôn đốc khách hàng
thực hiện đầy đủ những cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng phù hợp với
* Vốn điều lệ: Là số vốn bán đầu của ngân hàng, là tiêu chuẩn để một ngân
hàng thành lập và đi vào hoạt động: Về quy mô thì vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc
bằng vốn pháp định (vốn do Nhà nớc quy định). Tuy nhiên với mỗi loại hình hoạt
động khác nhau của từng ngân hàng thì vốn điều lệ cũng có nguồn hình thành khác
nhau. Vốn điều lệ nói lên sức mạnh và khả năng hoạt động ban đầu của một ngân
hàng.
* Vốn tự có bổ sung: Đợc hình thành trong quá trình hoạt động của ngân
hàng thông qua việc trích lập các quỹ. Hàng năm ngân hàng căn cứ vào kết quả hoạt
động kinh doanh của mình mà trích một phần lợi nhuận bổ sung vào nguồn vốn tự
có của ngân hàng.
1.2. Nguồn vốn vay từ trung ơng.
Ngân hàng trung ơng cấp tín dụng cho các ngân hàng thơng mại dới nhiều
hình thức nh: cho vay, mua bán, chiết khấu, tái chiết khấu đối với các giấy tờ có giá
trị của ngân hàng thơng mại. Vốn hình thành từ nguồn này đảm bảo cho khả năng
thanh toán của ngân hàng thơng mại.
1.3. Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống.
Các ngân hàng thơng mại có nhiều chi nhánh nằm trên các địa bàn khác nhau
nên luôn luôn xuất hiện tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn đối với các chi nhánh
trong cùng một hệ thống. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do trên mỗi địa bàn có
những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, do đó nó tác động đến nguồn vốn và khả
năng sử dụng của từng chi nhánh.
1.4. Nguồn vốn huy động.
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất của một ngân hàng thơng mại. Nguồn vốn
huy động có nhiều hình thức khác nhau.
1.4.1. Các khoản tiền gửi của khách hàng.
a. Tiền gửi tiết kiệm của dân c: Đây là một trong những khoản tiền lớn gửi ngân
hàng.
Việc phân chia các khoản tiền gửi tiết kiệm của dân c có thể theo nhiều tiêu
thức khác nhau, thông thờng là theo thời gian:
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
hạn hoàn trả do đó có thể sử dụng cho vay theo những nhu cầu hiện tại của mình.
2. Đặc điểm sử dụng vốn tín dụng của ngân hàng đối với hộ sản xuất.
Đây là thành phần quan trọng nhất trong danh mục các khoản sử dụng vốn
của ngân hàng. Hoạt động sinh lợi của các ngân hàng là hoạt động tín dụng. Các
khoản mục tín dụng có thể đcợ phân loại theo nhiều cách: Mục đích, hình thức bảo
đảm (nếu có), kỳ hạn, phơng pháp hoàn trả và nguồn gốc khách hàng...
* Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng có thể chia thành
các khoản mục nh sau:
- Nông nghiệp:
+ Cho vay trồng trọt.
19
+ Cho vay chăn nuôi.
- CN - TTCN
- TM - DV
- Phát triển ngành nghề.
- Mục đích khác.
* Căn cứ theo hình thức đảm bảo thì khoản mục tín dụng đợc phân chia
thành:
- Cho vay có đảm bảo.
- Cho vay không có đảm bảo.
* Căn cứ theo kỳ hạn có:
- Cho vay ngắn hạn.
- Cho vay trung hạn.
- Cho vay dài hạn.
Những quy định về kỳ hạn của các khoản mục cho vay đợc quy định theo
điều luật của từng quốc gia.
* Căn cứ theo phơng pháp hoàn trả có:
- Các khoản vay hoàn trả một lần.
- Các khoản vay hoàn trả nhiều lần.
Chúng ta sẽ phân tích một số khoản mục quan trọng.
Những ngời có nhà riêng, có công ăn việc làm ổn định, làm việc trong các công sở
có thu nhập ổn định, có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng với ngân hàng trớc đó
cũng sẽ đợc vay không cần bảo đảm.
2.3. Cho vay hoàn trả một lần.
Những khoản cho vay hoàn trả một lần thờng là những khoản cho vay thẳng,
nghĩa là hợp đồng yêu cầu trả vốn một lần vào thời gian đáo hạn cuối cùng. Những
khoản lãi có thể đợc trả vào từng thời điểm nhất định hoặc trả khi đáo hạn. Đối với
khoản vay này việc hoàn trả khi đáo hạn trở thành một gánh nặng đối với khách
hàng. Những khoản cho vay hoàn trả một lần thờng là những khoản cho vay ngắn
hạn.
2.4. Cho vay hoàn trả làm nhiều lần.
Cho vay hoàn trả nhiều lần đòi hỏi việc hoàn trả theo những thời điểm nhất
định. Cho vay hoàn trả nhiều lần đợc thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt kỳ
hạn thực hiện hợp đồng tín dụng. Nhờ vậy việc hoàn trả không trở thành gánh nặng
lớn đối với ngời vay nh trong trờng hợp toàn bộ khoản vay phải đợc trả một làan.
Đối với nhiều ngời các khoản cho vay hoàn trả nhiều lần ví nh các khoản trả góp,
đóng vai trò nh một phơng tiện tích luỹ. Các khoản trả góp đóng vai trò quan trọng
trong việc tăng mức tiết kiệm của ngời dân và làm tăng hiệu quả sử dụng vốn.
2.5. Cho vay ngắn hạn.
21
Các khoản cho vay ngắn hạn có kỳ hạn là một năm hoặc thấp hơn. Cho vay
ngắn hạn đợc thực hiện một thời gian nhất định dới một năm hoặc trên cơ sở theo
yêu cầu (đã đơcj thoả thuận trớc với ngân hàng). Cho vay theo yêu cầu là khoản cho
vay không có kỳ hạn nhất định và ngân hàng phải đáp ứng khi khách hàng phát sinh
nhu cầu vay vào bất cứ thời điểm nào. Cho vay theo yêu cầu, ngời vay có đợc vị thế
rất linh hoạt và cóthể trả nợ trong một thời gian rất ngắn.
Những khoản cho vay ngắn hạn thờng đợc sử dụng rộng rãi trong việc tài trợ
mang tính thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh.
2.6. Cho vay trung và dài hạn.
cần đơn giản, gọn nhẹ tránh để ngời dân đi lại nhiều gây lãnh phí thời gian và tiền
của của ngời dân dẫn đến chi phí cho một đồng vốn vay khá cao.
Đối tợng sản xuất của các hộ sản xuất chủ yếu là cây trồng, con vật nuôi nó
có quy luật sinh trởng và phát triển riêng. Vì vậy việc sử dụng vốn phải phù hợp với
từng loại cây trồng, từng loại vật nuôi. Vốn đầu t phải đợc sử dụng đúng lúc, đúng
thời gian mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp đã làm cho sự tuần hoàn và luân
chuyển vốn chậm chạp. Vì vậy cần thiết phải có lợng vốn dự trữ đáng kể trong thời
gian dài cho nên hiệu quả sử dụng vốn không cao.
Mặt khác hộ sản xuất còn có các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nên việc
sử dụng vốn cũng có một phần hiệu quả hơn.
* Đặc điểm sử dụng vốn tín dụng ở hộ sản xuất ngoại thành.
- Tốc độ đô thị hoá nhanh, do đó hầu hết các huyện ngoại thành đều bị thu
hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Để tạo công ăn việc làm cho ngời dân nông
thôn, không còn có cách nào khác là phải phát triển nhiều ngành nghề, đó là cách sử
dụng vốn hợp lý nhất, có hiệu quả nhất nhằm phát triển kinh tế nông thôn.
- Trình độ thâm canh của nông dân vùng ngoại thành tơng đối cao, do đó họ
luân giao cây trồng những cây có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thị trờng. Từ
đó tạo điều kiện phát triển sản xuất, nh vậy việc sử dụng vốn cũng có hiệu quả hơn.
- Trình độ dân trí cao hơn so với nơi khác, quan hệ hàng hoá tiền tệ cũng biểu
hiển rõ nét hơn. Họ mạnh dạn vay vốn đầu t vào sản xuất khi cần thiết, khi đến hạn
trả sòng phẳng, việc sử dụng vốn thờng có hiệu quả hơn nơi khác.
V. Kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới về đầu t tín dụng để phát triển
kinh tế nông thôn.
Do nhận thức đợc vai trò quan trọng của kinh tế nông nghiệp nông thôn
trong nền kinh tế quốc dân, nhiều nớc trên thế giới nhất là các nớc nông nghiệp
trong khu vực Đông Nam á đã rất coi trọng hoạt động tín dụng ngân hàng đối
23
với việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. Kinh nghiệm của một số nớc
sau đây về vấn đề này cần đợc nghiên cứu và tham khảo.
Ngân hàng xem tài sản thếp chấp chỉ là một chỉ số đánh giá tính nghiêm túc của
mục đích vay vốn của khách hàng.
24
Quá trình chấp thuận khoản vay và kiểm soát khoản vay nhất là với
những khách hang vay lần đầu rất đợc ngân hàng chú trọng. Việc tới thăm các
khách hàng tại nhà trớc và sau khi cho vay là bắt buộc đối với cán bộ tín dụng.
Đối với khách hàng xin vay vốn lần thứ hai thì mức độ chi tiết tại các lần thăm
thực tế sẽ thấp hơn.
Thứ hai: Ngân hàng phát triển nông nghiệp Thái Lan (BAAC)
* Tổ chức nguồn vốn.
Mục tiêu hoạt động chính của B.A.A.C là trợ cấp cho nông dân thông qua
đầu t vốn tín dụng. Vì vậy B.A.A.C có các nguồn vốn u đãi sau đây:
- Ngân hàng trung ơng trợ cấp cho B..A.A.C bằng hình thức cho vay
không lãi (trên thực tế lãi suất từ 1 - 3%/năm nhng do ngân sách trả).
- Hàng năm chính phủ có chỉ tiêu bắt buộc các ngân hàng thơng mại phải
cho vay đối với nông nghiẹe. Nếu ngân hàng thơng mại không cho vay hết chỉ
tiêu bắt buộc đó thì phải gửi số còn lại vào ngân hàng phát triển nông nghiệp.
- Ngân hàng trung ơng bảo lãnh cho ngân hàng phát triển nông nghiệp
vay vốn nớc ngoài.
- Trong hoạt động B.A.A.C đợc miễn ký quỹ bắt buộc.
* Tổ chức cho vay.
- Đối tợng đợc vay vốn phát triển nông nghiệp Thái Lan gồm:
+ Hộ nông dân cá thể.
+ Các hiệp hội nông dân Thái Lan.
* Loại cho vay:
B.A.A.C áp dụng cả 2 loại cho vay đối với hộ nông dân.
- Cho vay ngắn hạn dới 1 năm.
- Cho vay trung và dài hạn từ 1 - 5 năm.
* Phơng thức cho vay.
- Cho vay bằng tiền mặt.