THỰC TRẠNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤTỞ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG
I . ĐẶC ĐIỂN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN KINH MÔN
1 . Vài nét khái quát về Huyện Kinh Môn
Là một Huyện đồng bằng, trung du, miền núi của Tỉnh Hải Dương, Kinh Môn mới
được tách ra từ Huyện Kim Môn, với tổng dân số là 205.000 người, có 40.500 hộ, 90.000
lao động. Huyện được phân chia thành 22 xã, Nghề nông chiếm trên 80%, chủ yếu là trồng
cây lúa nước, kết hợp với trồng cây đặc sản như cây vải thiều, ... và nuôi cá, ba ba ... xuất
khẩu....
Là một Huyện nằm ở xa trung tâm thành phố Hải Dương, giáp với các tỉnh Quảng
Ninh và Thành phố Hải Phòng, về giao thông có đường quốc lộ 5 và quốc lộ 183 bao
quanh, có nhiều sông lớn bao quanh lên rất phát triển về giao thông đường bộ, đường thuỷ,
do đó Huyện có điều kiện mở rộng phát triển, giao lưu văn hóa - kinh tế xã hội ...
Xuất phát là một huyện mới tách đầu năm 1997 của một tỉnh nhỏ cũng vừa tách từ
Tỉnh Hải Hưng đầu năm 1997 năm. Cho nên về mặt phát triển kinh tế - xã hội còn gặp
nhiều khó khăn hơn là thuận lợi. Hiện tại tổng thu nhập (GDP) củat huyện còn thấp: năm
1999 có tổng thu nhập là 685.500 triệu đồng, thu nhập bình quân đầu người 3.000..000
đ/năm .Mức thu nhập này so với vùng đồng bằng bắc bộ là thấp .
Nhưng trước sự nghiệp đổi mới của đất nước nói chung, của Hải Dương và Kinh
Môn nói riêng, nhân dân Huyện Kinh Môn tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,
quyết tâm thực hiện định hướng phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động
theo cơ chế thị trường mà nghị quyết đại hội Đảng bộ đã đề ra. Coi đây là một biện pháp
quan trọng để giải phóng tiềm năng phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết việc làm và
nâng cao hiệu quả kinh tế. Nghị quyết đã khẳng định:
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất chủ yếu: " Phát triển nông nghiệp toàn
diện là mặt trận hàng đầu có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội của Huyện".
Mấy năm gần đây trong công cuộc đổi mới những chính sách, việc sử dụng công cụ
quản lý đã mang lại hiệu quả đáng kể cho nền kinh tế của huyện như các chính sách đối
với nông nghiệp, chính sách xóa đói, giảm nghèo ... trong đó chính sách tín dụng đối với
hộ sản xuất đã góp phần quan trọng. Tín dụng cho vay hộ sản xuất đã tạo ra những khả
+ Những năm gần đây thiên tai ít gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực .
+ Tổng kết công tác cho vay vốn đối với hộ nông dân qua nhiều năm cho thấy việc
vay vốn đến hộ sản xuất để phất triển sản xuất nông nghiệp là việc làm phù hợp với đường
lối phát triển kinh tế của Đảng , Nhà nước , không những thế đồng vốn của Nhân hàng
nông nghiệp còn đến với hộ sản xuất kịp thời đúng mục đích ,đúng đối tượng , do vậy hiệu
quả sử dụng vốn cũng mang lại cao , người dân phấn khởi , tin tưởng nên trong những năm
qua việc vay trả sòng phẳng , tỉ lệ quá hạn và khó đòi so với tổng dư nợ rất thấp ( chưa đến
1%) .
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kim Môn cũ nay là Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn đã có uy tín , ảnh hưởng
không những trong khách hàng của huyện mà còn đối với cả khách hàng ở các Huyện lân
cận . Đó là một thuận lợi lớn nhất trong kinh doanh ngân hàng .
+ Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ra đời đã tạo điều kiện
cho hoạt động Ngân hàng được mở rộng về đối tượng và quy mô . Cùng với một loạt các
quyết định , Nghị quyết của chính phủ như Quyết định số 67 , Nghị quyết số 09, bên cạnh
đó là các công văn của NHNN và NHNo&PTNT như CV số 320 của NHNN , CV số 322
của NHNo&PTNT...
- Khó khăn :
+ Là một huyện kinh tế còn nghèo nàn , sản xuất chủ yếu là nông nghiệp và trồng
cây đặc sản , không có nhiều nghành nghề đa dạng như các địa phương khác , khả năng
tích luỹ của người dân còn thấp cho nên riêng trong công tác huy động vốn đã gặp khó
khăn, nguồn huy động chưa đáp ứng với nhu cầu vay vốn của dân, còn phải sử dụng vốn
vay của các tổ chức tín dụng khác, vốn cấp trên.
Qua tìm hiểu và trên cơ sở số liệu thống kê trong những năm gần đây (từ 1998 đến
nay) nhu cầu về vốn của nông dân rất lớn (vốn ngắn hạn cần khoảng 70 %, vốn trung, dài
hạn khoảng 30 %) nhưng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh
Môn chưa đáp ứng được nhu cầuvốn cho hộ sản xuất về cả tổng số và cơ cấu vốn. năm
1999 - 2000 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiềm tệ khu vực, do sự đổ bể của một số
doanh nghiệp, do tốc độ phát triển kinh tế bị giảm sút (4%), Do chính sách nông sản phẩm
đối với nông dân của Nhà nước chưa thỏa đáng ... không tạo điều kiện cho người nông dân
Ngân hàng chia thành hai cấp: Từ 1988 đến 1996 thì Chi nhánh Ngân hàng Huyện Kim
Môn được đổi tên là Ngân hàng nông nghiệp Huyện Kim Môn, Tỉnh Hải Hưng . Từ tháng
1/1997 đến nay Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kim
Môn tách ra thành Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh
Môn và Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kim Thành.
Lúc này Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn trực
thuộc NHNo & PTNT Tỉnh Hải Dương.
Năm 1997, phòng giao dịch Phúc Thành được thuộc Chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn được thành lập thành Ngân hàng cấp 4 để
triển khai mở rộng màng lưới Ngân hàng nông nghiệp về với nông nghiệp nông thôn đến
tận xã thôn .
2 . Vài nét kháu quát về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường bao gồm nhiều các nghiệp vụ: Hoạt
động tín dụng, nguồn vốn, thanh toán, dịch vụ, Ngân qũy ... Nhưng trong điền kiện nước ta
hiện nay trong các nghiệp vụ của hoạt động kinh doanh Ngân hàng thì nghiệp vụ đem lại
lợi nhuận cao nhất cho Ngân hàng là hoạt động tín dụng (đem lại trên 80 % lợi nhuận cho
Ngân hàng ).
Tín dụng Ngân hàng gồm hai mặt chủ yếu là tổ chức huy động vốn và tập trung
nguồn vốn để cho vay đáp ứng nhu cầu về vốn cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
trong nền kinh tế .
Trở lại địa bàn huyện Kinh Môn sản xuất nông nghiệp chiếm 80 % do đó nhu cầu
đầu tư vốn cho lĩnh vực nông nghiệp chiếm trên 80 % chủ yếu là kinh tế hộ nông dân,. kể
từ khi cho vay hộ sản xuất đến 30/9/2000 vốn đầu tư cho hộ nông dân hàng trăm tỷ đồng,
nguồn vốn Trung ương không đáng kể mà chủ yếu là nguồn huy động trong dân chúng và
các tổ chức kinh tế tại địa phương và hình thức cho vay chủ yếu là cho vay trực tiếp hộ sản
xuất, phục vụ kịp thời cho sản xuất kinh doanh.
2.1 . Công tác nguồn vốn qua 1 số năm ( 1997 đến nay ):
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn có một trụ sở
chính ỏ Thị trấn của huyện ( Ngân hàng cấp III ) và một Ngân hàng cấp IV đóng ở Phúc
6- Vay các TCTD khác 1.150 600 210 48% 36%
7- Vốn cấp trên 5.700 6.210 5.200 109% 83%
Tỷ trọng các nguồn vốn chiếm trong tổng nguồn vốn: Biểu số 2.
Chỉ tiêu 1998 1999 2000
Tiết kiệm 55,5% 46,3% 53,2%
Uỷ thác 23% 23% 20%
TG KBNN & TCKT 3,2% 6% 18%
Huy động kỳ phiếu 1% 13% 2%
Vay các TCTD khác 3% 1% 0,5%
Vốn cấp trên 17% 14% 9%
Như vậy ở tất cả các năm từ 1998 đến nay thì tiền gửi tiết kiệm vẫn chiếm tỷ trọng
cao nhất so với vốn huy động. Loại vốn này có tính ổn định hơn so với tiền gửi của các
TCKT, nó giúp cho Ngân hàng có thể chủ động trong kế hoạch sử dụng nguồn vốn nhất là
loại tiết kiệm trên 12 tháng. Vì loại vốn này và kỳ phiếu dùng để sử dụng cho vay trung dài
hạn. Nhưng xu thế có chiều hướng giảm dần.
Còn tiền gửi của TCKT và tiền gửi kho bạc Nhà nước chiếm tỷ trọng thấp nhưng có
xu thế tăng dần giữa các năm. ( Năm 1998 chiếm 3,2 % so với vốn huy động, đến năm
2000 chiếm 18 % ), loại vốn này tuy không ổn định nhưng giá rẻ, nó tạo ưu thế trong kinh
doanh cho Ngân hàng .
Vốn do huy động kỳ phiếu: loại này giá cao nhưng có tính ổn định. Bởi vì chỉ khi
nào Ngân hàng thiếu nguồn thì sẽ chủ động huy động ; Năm 1998 huy động thấp nhất 1%,
năm 1999 cao nhất 13% , đến năm 2000 giảm xuống còn 2%. Qua đó ta thấy năm 1999
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn thiếu vốn cho vay, đến
năm 2000 thì co dần lại thể hiện cho vay năm 2000 không mạnh bằng năm 1999, điều đó
thể hiện thời gian gần đây Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh
Môn thừa vốn
Nguồn ủy thác tỷ trọng không cao nhưng nó có ưu điểm là không phải chi phí đầu
vào, nguồn này có lợi trong kinh doanh của Ngân hàng .
Nguồn vay các tổ chức tín dụng chỉ là tạm thời khi Ngân hàng thiếu vốn đến cuối
năm 2000 thì không vay nữa .
quốc doanh và kinh tế tập thể kinh tế cá thể hầu như không đầu tư .
Những tồn tại của cho vay đối với hợp tác xã nông nghiệp ( kinh tế tập thể ) Thể
hiện rất rõ trong những năm này: Đầu tư cho nông nghiệp gián tiếp qua khâu trung gian là
hợp tác xã nông nghiệp không đạt hiệu quả kinh tế bởi vì người nông dân hầu như không
quan tâm đến việc vay vốn, trả nợ Ngân hàng, dẫn đến nhiều trường hợp Ban quản lý hợp
tác xã đã sử dụng vốn sai mục đích làm ảnh hưởng sản xuất và trả nợ Ngân hàng vì đồng
vốn vay Ngân hàng không được sử dụng vào quá trình sản xuất hoặc đồng vốn phục vụ
cho sản xuất không kịp thời, dẫn đến năng suất không cao, đời sống người nông dân ngày
một khó khăn.
Cũng từ chỗ sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến nợ quá hạn phát sinh tăng dần hoạt
động của hợp tác xã giảm sút rõ rệt, đối với Ngân hàng thì bị rủi ro từ lĩnh vực này, từ đó
sự tồn tại của ban quản lý hợp tác xã nhiều nơi chỉ còn là danh nghĩa .
Tham gia sản xuất nông nghiệp bên cạnh hộ nông dân tập thể còn có hộ nông dân cá
thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, họ cũng làm ra sản phảm nông nghiệp và đóng nghĩa
vụ với Nhà nước. Nhưng trong cơ chế tín dụng Ngân hàng chưa chú trọng đối với cho vay
hộ nông dân, đặt họ ra ngoài đối tượng cho vay. trong khi người nông dân thiếu vốn để
thâm canh(nhu cầu vốn cho sản xuất nông nghiệp thiếu đến 60 % qua điều tra) mà ngân
hàng có vốn trong tay nhưng không giám cho vay do chế độ, do tình hình đổ bể tín dụng,
dư nợ quá hạn, nợ khó đòi gia tăng...
Tín dụng Ngân hàng không đến được với hộ nông dân đã tạo ra khủng hoảng thiếu
vốn sản xuất. Lợi dụng cơ hội này hoạt động cho vay nặng lãi thừa cơ hội phát triển , lãi
suất từ 10 % - 12 % từ đó làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất chung của huyện, chính sách
của Nhà nước còn bất cập chưa bình đẳng đối với kinh tế ngoài quốc doanh.
Vì vậy, vấn đề giải quyết vốn cho nông dân là việc cấp thiết đến mức báo động, nó
không đơn thuần là vấn đề kinh tế -xã hội mà còn là vấn đề chính trị nữa. Bên cạnh đó còn
có nguyên nhân từ phía Ngân hàng: Ngân hàng chưa nhận thức đầy đủ những quan điểm
của Đảng đối với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, ít nhiều còn
định kiến đối với hộ nông dân nhất là hộ nông dân cá thể trình độ quản lý và sử dụng vốn
yếu kém, cho rằng hộ nông dân không cóa khả năng trả nợ, tâm trạng sợ đổ bể đè nặng lên
tâm lý cán bộ Ngân hàng. Đội ngũ cán bộ Ngân hàng chưa thích ứng kịp thời về nhận thức,
công nhân viên, đó là một lực lượng nòng cốt trong kinh doanh của Ngân hàng nông
nghiệp. Tuy rằng so với quy định của công văn số 1411/NHNo - 06 ngày 27/6/2000 của
Tổng giám đốc NHNo& PTNT - VN thì lực lượng cán bộ tín dụng phải chiếm 50 % tổng
cán bộ công nhân viên .
Vì thực tế cán bộ tín dụng phải xuống tận thôn xã giao bán hàng với hy vọng làm
sao để bán được số lượng hàng lớn nhưng chất lượng phải đảm bảo: Cụ thể là phải xuống
thôn xã để thăm dò, tìm kiếm nhu cầu, đánh giá đúng được nhu cầu; làm được việc đó là đã
tìm được đối tượng đầu tư đúng và qua đó còn đánh giá được khả năng an toàn vốn đầu tư
- và đây chính là một trong những yếu tố quan trọng của chỉ tiêu chất lượng tín dụng .
TÌNH HÌNH CHO VAY - THU NỢ - DƯ NỢ HỘ SẢN SUẤT
Ở NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN KINH MÔN
Để thấy được một cách khái quát tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn ta có bảng dưới đây:
Tình hình cho vay - Thu nợ - Dư nợ hộ sản suất
ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn từ 1998 đến
nay
Biểu số 4 Đơn vị: Trđ.
Chỉ tiêu 1998 1999 2000 99/98 00/99
I- Cho vay 31.327 40.292 54.191 128% 134%
1- Ngắn hạn 26.576 31.818 38.083 120% 122%
- Quốc doanh - - - - -
- Hộ sản xuất 24.797 28.498 34.534 115% 121%
- Đối tượng khác 1.779 3.320 3.549 183% 105%
2- Trung, dài hạn 4.751 8.474 16.108 177% 192%
- Quốc doanh - - - - -
- Hộ sản xuất 4.751 8.478 16.108 177% 192%
- Đối tượng khác - - - - -
3- Phát sinh NQH 125 83 42 67% 51%
II- Thu nợ 29.181 36.634 46.925 125% 125%
1- Ngắn hạn 26.261 31.851 29.786 117% 95%
2- Tỷ trọng cho vay trung, dài hạn 7% 13% 34%
Trong đó hộ sản xuất chiếm 100% 100% 100%
3- Trong đó NQH 0,6% 0,3% 0,13%
III- Dư nợ
1- Tỷ trọng cho vay ngắn hạn 81% 71% 78%
Trong đó hộ sản xuất chiếm 95% 94% 96%
2- Tỷ trọng cho vay trung, dài hạn 19% 29% 22%
Trong đó hộ sản xuất chiếm 100% 100% 100%
3- Trong đó NQH 0,5% 0,34% 0,2%
2.1- Về cho vay :
Ta thấy doanh số cho vay từ năm 1998 đến 2000 đều tăng lên; Nhìn chung đầu tư
của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn cho các thành phần
kinh tế phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế của huyện đó là từng bước chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chủ yếu phát triển cây ăn quả dài ngày (cây vải) và cải tạo
ao hồ để nuôi ba ba, cá, rắn, ... xuất khẩu.
Nợ quá hạn phát sinh giảm đáng kể: Năm 1999 so với năm 1998 (67 %), năm 2000
so với năm 1999 (51%). Qua đó cho ta thấy chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn là rất tốt.
+ Trong tổng doanh số cho vay thì cho vay hộ sản xuất chiếm tỷ trọng cao nhất ở tất
cả các năm đều chiếm trên 90 % .
Năm 1998 chiến 95 %
Năm 1999 chiến 94 %
Năm 2000 chiếm 96 %
Kinh tế quốc doanh chỉ thu nốt nợ trong năm 1998 và không cho vay ra nữa .
+ Số lượt hộ sản xuất được vay Ngân hàng qua các năm .
Năm 1998 : 12.132 lượt hộ
Năm 1999 : 13.896 lượt hộ
Năm 2000 : 14.784 lượt hộ
Ta thấy số lượt hộ vay cũng tăng trong các năm
1999 so với 1998 1.764 lượt hộ bằng 15 %
Dư nợ Tín dụng ngày một gia tăng ( xem số liệu ở bảng trên )
Năm 1999 so với năm 1998 là 115%
Năm 2000 so với năm 1999 là 130%
Qua đó ta có nhận xét về sử dụng vốn
+ Về cơ cấu cho vay theo thời hạn chưa hợp lý nhưng so với tình hình chung là
được. Nếu Ngân hàng có điều kiện tăng thêm nguồn vốn dài hạn thì hợp lý hơn.
+ Cho vay hộ sản xuất là chủ yếu chiếm trên 90 %, không cho vay kinh tế quốc
doanh, cho vay các đối tượng khác chỉ chiếm khoảng 5 % .
+ Chất lượng tín dụng tốt do Ngân hàng đã chú trọng đầu tư đúng đối tượng, đúng
mục đích, định kỳ hạn nợ sát thực tế ... Nên trong kinh doanh Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn đã tránh được rủi ro, không những cho Ngân hàng
và cả cho khách hàng. ( Nợ quá hạn chỉ chiếm dưới 1% trong tất cả các năm kể từ năm
1998 đến nay).
III . THỰC TRẠNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT Ở NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN KINH MÔN TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY
1 . Kết quả cho vay hộ sản xuất ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Huyện Kinh Môn
1.1. Phân tích tình hình cho vay - thu nợ - dư nợ hộ sản xuất:
Trong những năm qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh
Môn rất coi trọng chất lượng tín dụng, và đã thực hiện cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất là
chủ yếu, thực hiện khoán cho từng cán bộ tín dụng về chỉ tiêu cho vay - thu nợ - dư nợ và
tỷ lệ nợ quá hạn, có chế độ thưởng phạt kịp thời nghiêm minh. Từ đó khuyến khích được
cán bộ tín dụng phải tự nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, trình độ giao tiếp, thận
trọng khi thẩm định, lựa chọn khách hàng và quyết định cho vay ...
Để thu hút khách hàng và đầu tư có chất lượng cao tăng thu nhập. Trong những
năm gần đây Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn luôn đứng
đầu về chất lượng tín dụng và thu nhập so với tỉnh .
Quy mô hoạt động ngày càng tăng, tuy nhiên kết cấu cho vay chưa hợp lý lắm. Hiện
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn đang có hướng điều
chỉnh dần cho phù hợp với kết cấu nguồn vốn .
D.số CV trung, dài hạn /Tổng D.số Cho vay 15,3% 20% 28%
Đầu tư ngắn hạn thì giảm từ 93 % xuống 91 %, trung dài hạn thì tăng 15 % lên 28
%. Đầu tư trung dài hạn chủ yếu là cho vay để cải tạo và trồng mới vườn vải thiều, cải tạo
ao hồ nuôi thả cá, ba ba, ... Nhằm chuyển đối cơ cấu cây trồng theo phương hướng phát
triển kinh tế của huyện . Rõ ràng đã đầu tư đúng hướng nên hiệu quả sử dụng vốn chắc
chắn sẽ tốt. tuy nhiên vấn đề ở đây đòi hỏi phải có thêm nguồn vốn trung dài hạn.
b- Thu nợ :
Công tác thu nợ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh
Môn rất tốt, tăng vòng quay sử dụng vốn kể cả ngắn và trung dài hạn. Năm 2000 thu nợ
vốn trung dài hạn cao so với năm 1999 tăng 12.356 triệu đồng bằng 37 % thể hiện thời
gian này nợ đến hạn lớn và Ngân hàng đã thu nợ róc vì không tăng phát sinh nợ quá hạn.
Và trong thời kỳ này Ngân hàng đã tích cực cho vay trung dài hạn cho nên dư nợ trung dài
hạn trong kỳ không giảm. đó là một cố gắng lớn vừa tạo nguồn vừa cho vay ra.
c- Dư nợ :
Dư nợ tăng trưởng qua các năm. Cả thu nợ ngắn hạn và trung dài hạn đều tốt trong
đó nợ quá hạn thấp (dưới 1 %) .
Tóm lại : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn tập
trung đầu tư cho hộ sản xuất là đúng hướng trên một địa bàn mà đặc điểm kinh tế thuần
nông phát huy được khả năng tiềm tàng cũng như ưu thế trước mắt, thu được hiệu quả
trong kinh doanh, tạo điều kiện phát triển kinh tế trong nông nghiệp.
1.2- Tình hình cho vay - thu nợ - dư nợ hộ sản xuất theo ngành nghề :
Như phần đặc điểm chung của huyện Kinh Môn đã nêu; Đây là huyện thuần nông,
ngành nghề khác không đáng kể chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng thu nhập của huyện,
ngành trồng trọt chủ yếu là trồng cây lúa nước, hoa màu và cây đặc sản (cây vải
thiều),chăn nuôi: Gà, vịt, lợn, cá,ba ba ... trong đó trồng trọt chiếm khoảng 70 %, chăn nuôi
chiếm khoảng 25 %, ngành nghề khác chiếm 5%.
Để thấy được tình hình cho vay - thu nợ - dư nợ hộ sản xuất theo ngành nghề của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Kinh Môn ta có bảng sau:
Tình hình cho vay - thu nợ - dư nợ hộ sản xuất theo ngành nghề của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kinh Môn từ năm 1998 đến nay:
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kinh Môn từ năm 1998 đến nay :
Đơn vị: Trđ
Chỉ tiêu 1998 1999 2000
I- Cho vay
1- Ngắn hạn 84% 85% 70%
- Trồng trọt 63% 65% 64%
- Chăn nuôi 33% 31% 31%
- Đối tượng khác 3,5% 4% 4,7%
2- Trung, dài hạn 17% 16% 31%
- Trồng trọt 72% 73% 72%
- Chăn nuôi 28% 27% 28%
- Đối tượng khác
II- Thu nợ
1- Ngắn hạn 88% 90% 63%
- Trồng trọt 70% 64% 63%
- Chăn nuôi 26,4% 32,2% 31,3%
- Đối tượng khác 3,6% 3,8% 5,7%
2- Trung, dài hạn 12% 10% 37%
- Trồng trọt 72% 30% 74%
- Chăn nuôi 28% 70% 26%
- Đối tượng khác 0,08% -
III- Dư nợ
1- Ngắn hạn 80% 70% 77%
- Trồng trọt 65% 66% 66,4%
- Chăn nuôi 32% 31% 31%
- Đối tượng khác 3% 3% 2,6%
2- Trung, dài hạn 20% 30% 23%
- Trồng trọt 76% 74% 71%
- Chăn nuôi 24% 26% 29%
- Đối tượng khác