Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, năng suất sản xuất cao đã
tạo ra lượng hàng hóa phong phú và đa dạng, đời sống của người dân ngày càng nâng
cao, tiến đến cuộc sống thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần. Ngoài những nhu cầu
thiết yếu như ăn, ở, mặc thì nhu cầu cuộc sống được nâng cao hơn, như nhà đẹp tiện
nghi, xe cộ hiện đại, du lịch, du học nước ngoài… Tuy nhiên, với mức thu nhập như
hiện nay, phần lớn người tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm
cùng lúc, đặc biệt là những vật dụng đắt tiền, dẫn đến nhu cầu vay mượn để tiêu dùng
tăng lên. Điều này đã tạo ra thị trường cho vay tiêu dùng đối với các ngân hàng
thương mại ngày càng có tính cạnh tranh cao. Đây là một hướng đi không mới ở các
nước phát triển nhưng lại khá mới mẻ ở Việt Nam bởi người dân nước ta vẫn có thói
quen suy nghĩ rằng ngân hàng là nơi phục vụ cho các doanh nghiệp, là một kênh đầu
tư tiền nhàn rỗi. Do vậy, thị trường cho vay tiêu dùng còn khá sơ khai và chưa được
nhiều ngân hàng khai thác.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Quang
Trung đã bước đầu triển khai loại hình cho vay tiêu dùng đối với khách hàng cá
nhân và hộ gia đình, tuy nhiên phạm vi cho vay tiêu dùng còn hẹp, chưa đáp ứng
được nhu cầu của người tiêu dùng và làm giảm khả năng cạnh tranh với các ngân
hàng bạn. Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Mở rộng cho vay tiêu dùng
tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung” làm
đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là mở rộng cho vay tiêu dùng của NHTM.
Phạm vi nghiên cứu là mở rộng cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Quang Trung trong thời gian từ năm 2007- 2009.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về cho vay tiêu dùng. Trên cơ sở đó phân
tích, đánh giá thực trạng mở rộng cho vay tiêu dùng của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Quang Trung. Đánh giá những kết quả, những tồn tại và tìm ra nguyên
thành lập theo quy định của luật này và quy định khác của Pháp luật để hoạt động
kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền
gửi để cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán”.
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cách tiếp cận thận trọng nhất
là có thể xem xét Ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng
cung cấp: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế”.
1.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM
- Hoạt động huy động vốn
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được
thì phải có vốn. Riêng đối với NHTM, vốn lại càng là nhân tố quan trọng không thể
thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Các NHTM thực hiện kinh doanh
loại “hàng hóa đặc biệt” – tiền tệ trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và
thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn). Vì vậy, ngoài vốn ban đầu khi thành
lập theo quy định của pháp luật, các ngân hàng phải thường xuyên tìm mọi biện pháp
tăng trưởng vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn của NHTM bao
gồm những loại chủ yếu sau đây:
+ Vốn chủ sở hữu
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình
hoạt động. Nguồn vốn ban đầu tuy không chiếm tỷ trọng lớn, nhưng nó ý nghĩa rất
quan trọng. Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm vốn điều lệ và các quỹ của ngân
hàng.
Vốn điều lệ là vốn được tạo lập ban đầu khi mới thành lập NHTM và được ghi
trong điều kiện của ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt được tối thiểu theo quy định của
pháp luật. Vốn điều lệ được ngân sách Nhà nước cấp nếu đó là ngân hàng công, do
vốn. Trong trường hợp này, NHTM đó cần đi vay để đáp ứng nhu cầu mở rộng tín
dụng, NHTM nào đã sử dụng hết nguồn vốn khả dụng mà vẫn còn phát sinh nhu cầu
vay vốn của khách hàng thì ngân hàng đó đang ở trong trạng thái hưng thịnh, vốn vay
ngân hàng khác vừa giúp họ mở rộng tín dụng, vừa giúp mở rộng và giữ chân khách
hàng.
- Hoạt động sử dụng vốn
+ Hoạt động ngân quỹ
Hoạt động này phản ánh các khoản dự trữ của ngân hàng nhằm đảm bảo an
toàn trong thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do NHNN đề ra. Vì
một trong những chức năng của ngân hàng thương mại là nhận tiền gửi của khách
hàng với trách nhiệm hoàn trả. Khoản dự trữ này do NHNN quy định theo một tỷ lệ
nhất định trên tổng tiền gửi. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc này thay đổi theo từng thời kỳ
nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Những khoản này bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN, các chứng
khoán có tính thanh khoản cao…
+ Hoạt động tín dụng
Đây là nghiệp vụ cơ bản hàng đầu của các NHTM, là nghiệp vụ trong đó: Ngân hàng
thỏa thuận với khách hàng để khách hàng sử dụng một khoản tiền nhất định vào mục đích
và thời gian thỏa thuận nhất định với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
+ Hoạt động đầu tư
Đầu tư là hình thức bỏ vốn nhằm thực hiện và thu được một kết quả nhất định
về kinh tế- xã hội. Đầu tư của ngân hàng có thể được phân chia thành 2 nhóm lớn:
đầu tư tài chính và đầu tư trực tiếp.
Đầu tư tài chính: các NHTM dùng vốn của mình để mua các loại chứng khoán
khác nhau có độ rủi ro thấp, năng lực thị trường cao. Hoạt động này mang lại thu
nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản, các NHTM có thể mua chứng
khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa góp phần
cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên. NHTM còn được phép mua cổ phiếu, trái
phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp.
Tuy nhiên NHTM chỉ được đầu tư chứng khoán có giới hạn không được để hoạt
thoả thuận dựa trên nguyên tắc hoàn trả và có lãi”.
- Như vậy, thật khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về cho vay nhưng
trong phạm vi nghiên cứu cho vay là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì “Cho
vay là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và
các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể
khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một
thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện
vốn gốc và lãi cho bên cho vay đến hạn thanh toán”.
Từ khái niệm trên, bản chất của cho vay là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
hoàn trả và có các đặc trưng sau:
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Tài sản giao dịch trong quan hệ cho vay ngân hàng bao gồm 2 hình thức là
cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
+ Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả nên người cho vay khi chuyển giao tài sản
cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây
là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị cho vay.
+ Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị cho vay, hay nói cách khác
là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện được nguyên tắc
này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỉ lệ lạm phát hay phải xác định lãi suất
thực dương.
Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – tỉ lệ lạm phát
+ Trong quan hệ cho vay ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn
trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ cho vay như
hợp đồng cho vay, khế ước... thực chất là lệnh phiếu trong đó bên đi vay cam kết
hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng
1.2.2.1. Khái niệm về cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng được hiểu là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi
tốn kém nhiều chi phí của ngân hàng.
Ngoài ra, một nguyên nhân khác khiến cho chi phí của các khoản vay này cao là
cho vay tiêu dùng chưa được đông đảo người dân biết đến, gần đây mới được các ngân
hàng chú trọng nhiều hơn. Do đó, ngân hàng phải tiến hành các chương trình quảng
cáo giới thiệu sản phẩm dịch vụ cũng như hình ảnh của ngân hàng. Các hoạt động này
cũng góp phần làm cho chi phí của các khoản cho vay tiêu dùng tăng thêm.
- Lãi suất cho vay tiêu dùng còn khá cao so với lãi suất cho vay doanh nghiệp
Thông thường, các khoản cho vay tiêu dùng được định giá rất cao. Lý do chính
được đưa ra để lí giải cho việc áp dụng mức lãi suất cao với các khoản cho vay tiêu
dùng là các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí lớn nhất và rủi ro cao nhất trong danh
mục cho vay của ngân hàng. Hơn nữa, quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ,
chi phí tổ chức cho vay cao cũng là một yếu tố làm lãi suất các khoản cho vay tiêu
dùng cao.
- Nhu cầu đối với các khoản vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn
với lãi suất
Khi vay tiền, người tiêu dùng thường quan tâm đến khoản tiền mà họ phải trả
hàng tháng hơn là lãi suất (mặc dù rõ ràng chính lãi suất ghi trên hợp đồng ảnh hưởng
đến quy mô số tiền phải trả). Sở dĩ như vậy là vì khi có nhu cầu, người tiêu dùng cân
nhắc đến việc thu nhập của mình có thể trang trải được khoản vay hay không? Nếu
được họ sẽ vay tiền ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu của mình. Chính vì lý do đó
mà khách hàng kém nhạy cảm với lãi suất.
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế
Khác với các khoản vay thương mại, nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng
phát sinh theo chu kì kinh doanh lặp đi lặp lại, trong cho vay tiêu dùng, người vay
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
thường ít khi vay nhiều lần. Trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng mạnh, tâm lý
người tiêu dùng cũng được chuyển biến theo hướng tích cực, họ cảm thấy lạc quan
hơn về tương lai, nhu cầu tiêu dùng vì thế cũng tăng lên, người dân tìm đến ngân
hình cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay.
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Cho vay tiêu dùng giúp NHTM thu hút một lượng khách hàng lớn đặc biệt là
khách hàng cá nhân. Họ đến với ngân hàng không chỉ để vay vốn tiêu dùng mà còn
sử dụng rất nhiều các dịch vụ khác của ngân hàng. Vì vậy, càng thu hút được nhiều
khách hàng thì ngân hàng càng bán được nhiều sản phẩm, dịch vụ và vị thế của ngân
hàng ngày càng được nâng cao.
1.2.2.2. Đối với người tiêu dùng
Trước đây, hầu hết các ngân hàng đều không quan tâm đến cho vay tiêu dùng.
Vài năm trở lại đây, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, đời sống
của nhân dân được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiêu dùng vì thế cũng ngày càng đa
dạng. Hơn nữa, khi đời sống được cải thiện thì con người không chỉ dừng lại ở việc
“ăn no mặc ấm ” mà bây giờ họ lại mong muốn được “ăn ngon mặc đẹp”.
Tuy nhiên, không phải lúc nào người tiêu dùng cũng ngay lập tức có đủ tài
chính để chi tiêu. Vì vậy, cho vay tiêu dùng cung cấp cho người tiêu dùng nguồn tài
chính để đáp ứng những nhu cầu chi tiêu cần thiết, giúp nâng cao đời sống gia đình
và đặc biệt là mang lại cho họ các tiện ích mà hiện tại họ chưa có đủ khả năng về tài
chính. Điều quan trọng hơn nữa là cho vay tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng trang
trải được những nhu cầu cấp bách trong cuộc sống như tiền viện phí, học phí cho con
cái… Mặt khác, việc mở rộng cho vay tiêu dùng sẽ làm cho việc tiếp cận vốn vay của
người tiêu dùng trở nên dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn.
Ngày nay, có rất nhiều loại hình thức cho vay tiêu dùng phong phú và đa dạng
theo mục đích cho vay cũng như theo thời hạn khoản vay để phục vụ cho nhiều đối
tượng khách hàng khác nhau, mang lại nhiều lợi ích cho họ đồng thời nâng cao chất
lượng cuộc sống cho người tiêu dùng.
1.2.2.3. Đối với nhà sản xuất
Việc mở rộng cho vay tiêu dùng kéo theo nhu cầu của người tiêu dùng trong
tương lai về hiện tại. Nhà sản xuất thì luôn muốn tiêu thụ được thật nhiều hàng hóa-
Như vậy, việc cung cấp các sản phẩm cho vay tiêu dùng của các NHTM có vai
trò to lớn, nó không những thúc đẩy hoạt động tiêu dùng trong xã hội, thỏa mãn nhu
cầu của các chủ thể trong xã hội mà qua đó còn thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh
doanh của toàn bộ nền kinh tế phát triển.
1.2.3 Các loại hình cho vay tiêu dùng
1.2.3.1. Căn cứ vào mục đích vay
- Cho vay tiêu dùng cư trú
Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua
sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của các khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
- Cho vay tiêu dùng phi cư trú
Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện
đời sống như mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch...
Đặc điểm của những khoản vay này thường có quy mô nhỏ, thời gian ngắn, do đó mà
mức độ rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng cư trú.
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.3.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
- Cho vay tiêu dùng trả góp
Cho vay tiêu dùng trả góp là loại cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn được thanh
toán làm hai hoặc nhiều lần liên tiếp (thường theo tháng hoặc quý). Những khoản vay
này thường dùng để mua những vật dụng đắt tiền (như xe ô tô, đồ dùng và thiết bị gia
đình) hoặc để trang trải các khoản nợ của hộ gia đình hoặc thu nhập từng định kỳ của
người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ. Đối với loại cho vay
tiêu dùng trả góp, ngân hàng thường chú ý đến một số vấn đề sau:
+ Loại tài sản được tài trợ: thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài
sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu, lâu dài trong tương lai như: nhà
ở, xe cộ… Vì vậy, ngân hàng thường muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài
sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài.
+ Số tiền trả trước: khách hàng phải trả một phần tiền, phần còn lại ngân hàng
cùng phải thu về. Căn cứ theo thời gian, cho vay được phân thành 3 loại:
- Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ 12 tháng
trở xuống được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân
hoặc để bổ sung vào tài sản lưu động của các doanh nghiệp bởi vì tài sản lưu động
thường có vòng quay trên một vòng thấp hơn một năm. Do vậy, trong một năm doanh
nghiệp có thể hoàn trả được số tiền vay ở ngân hàng.
- Cho vay tiêu dùng trung hạn: là hình thức cấp tín dụng từ 1 năm đến 5 năm.
Hình thức cho vay này được sử dụng chủ yếu để đầu tư sửa chữa, đổi mới thiết bị,
phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải… các trang thiết bị nhanh hao mòn hay
xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh từ 1 năm đến
5 năm.
- Cho vay tiêu dùng dài hạn: là hình thức cấp tín dụng trên 5 năm. Mục đích
của hình thức cho vay này nhằm đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà xưởng,
mua sắm máy móc, thiết bị công nghiệp nặng, xây dựng cầu đường… những công
trình lớn, thu hồi vốn lâu từ 5 năm đến 10 năm có khi lên đến 20 năm.
Tất nhiên cùng với độ dài của thời gian, việc thu hồi vốn đối với các dự án có
thời hạn dài gặp nhiều khó khăn hơn do ở thời điểm hiện tại doanh nghiệp khó có thể
tính được hết khó khăn sẽ gặp trong tương lai. Do vậy mức độ rủi ro của các khoản
cho vay có thời hạn lớn đối với ngân hàng sẽ tăng lên. Điều này một phần lý giải tại
sao lãi suất các khoản cho vay dài hạn thường cao hơn các khoản cho vay ngắn hạn
và đòi hỏi có thế chấp.
Phân loại các khoản cho vay theo thời hạn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân
hàng thương mại. Nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng như ảnh hưởng trực
tiếp đến tính an toàn và sinh lợi của một ngân hàng thương mại.
1.2.3.4. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
- Cho vay tiêu dùng gián tiếp
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các
Ngân hàng
Công ty bán lẻ
Người tiêu dùng
(6)
Chuyên đề tốt nghiệp
Bên cạnh một số ưu điểm trên, cho vay tiêu dùng gián tiếp còn có một số
nhược điểm sau:
+ Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu do đó
không thể nắm được tình hình thực tế của khách hàng mà ngân hàng tài trợ.
+ Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu
hàng hóa.
+ Kĩ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
Do những nhược điểm kể trên nên có rất nhiều ngân hàng không mặn mà với
cho vay tiêu dùng gián tiếp. Còn những ngân hàng nào tham gia vào hoạt động này
thì đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ.
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực
tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này.
Sơ đồ 2: Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp
(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay với nhau
(2) Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản vẫn còn thiếu cho công ty bán lẻ
(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(5) Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng
So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, cho vay tiêu dùng trực tiếp có một số ưu
điểm sau:
+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp có ưu điểm là linh hoạt hơn cho vay tiêu dùng
gián tiếp.
+ Trong cho vay tiêu dùng trực tiếp, ngân hàng có thể tận dụng được trình độ
kiến thức và năng lực của nhân viên tín dụng. Những người này thường được đào tạo
các khoản vay tiêu dùng… trong một thời gian nhất định. Mức tăng trưởng cho vay
được tính bằng số tương đối hay số tuyệt đối của số lượng cho vay kỳ sau so với kỳ
trước. Số tương đối thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm, số tuyệt đối thể
hiện quy mô tăng trưởng cho vay.
Cho vay tiêu dùng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan như: quy mô hoạt
động của Ngân hàng; các chiến lược, chính sách cho vay; nguồn nhân lực; trình độ
công nghệ… và các nhân tố khách quan như: môi trường kinh tế- chính trị- xã hội; tư
cách, khả năng tài chính của người đi vay...
1.3.2. Sự cần thiết của mở rộng cho vay tiêu dùng tại các NHTM
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, tình hình cạnh tranh trên
thị trường tài chính nước ta ngày càng trở lên gay gắt khi hàng loạt các ngân hàng
mới thành lập và liên tục tuyên bố nâng cao vốn điều lệ, mở rộng thị phần của mình.
Trong tình trạng thị phần cho vay trung và dài hạn gần như đã bão hòa do ảnh hưởng
của cuộc suy thoái kinh tế, kèm theo đó là chính sách thả nổi tiền tệ với việc cho
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
16
Chuyên đề tốt nghiệp
phép các NHTM cho vay trung và dài hạn theo lãi suất thỏa thuận làm lãi suất trên thị
trường tăng cao gây khó khăn cho các doanh nghiệp vay vốn. Lúc này thị trường cho
vay tiêu dùng chính là cứu cánh cho các ngân hàng. Tuy dư nợ cho vay tiêu dùng còn
chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ của hoạt động cho vay, song đây là một lĩnh
vực đầy tiềm năng mà các ngân hàng còn chưa khai thác hết và trong tương lai đây sẽ
là loại hình tín dụng đóng vai trò quan trọng trong ngân hàng.
Trong những năm gần đây, ngành ngân hàng đang trong quá trình đổi mới
mạnh mẽ cả về chất và lượng. Việc không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động cũng
như đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng là rất cần thiết trong điều kiện
nền kinh tế thị trường cạnh tranh như hiện nay. Nếu một ngân hàng cứ duy trì quy mô
ban đầu, không tích cực hoàn thiện và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của mình
thì rất khó có thể tồn tại lâu dài. Hơn nữa, ngành ngân hàng đang ngày càng phải đối
mặt với nhiều sự cạnh tranh. Chính vì vậy, để tăng tính cạnh tranh thì các NHTM cần
số tuyệt đối là bao nhiêu. Chỉ tiêu này được tính bằng hiệu số giữa tổng doanh số cho
vay tiêu dùng năm tài chính với doanh số cho vay tiêu dùng năm trước.
Công thức tính:
- Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số cho vay tiêu dùng tương
đối
Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay tiêu dùng của năm t
so với năm trước. Chỉ tiêu này được tính bằng thương số giữa giá trị tăng trưởng
doanh số cho vay tiêu dùng tuyệt đối với tổng doanh số cho vay tiêu dùng năm trước
đó.
Công thức tính:
- Chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng cho vay tiêu dùng
Chỉ tiêu này cho biết mức đóng góp doanh số cho vay của cho vay tiêu dùng.
Mức đóng góp này qua các năm tăng lên cho thấy cho vay tiêu dùng ngày càng chiếm
vị trí quan trọng trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Chỉ tiêu này được tính bằng tỉ lệ % giữa tổng doanh số cho vay tiêu dùng với
tổng doanh số cho vay của toàn ngân hàng.
Công thức tính:
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
18
Giá trị tăng trưởng
doanh số tuyệt đối
Tổng doanh số
CVTD năm t
=
Tổng doanh số
CVTD năm (t-1)
-
Giá trị tăng trưởng
doanh số tương đối
=
Chỉ tiêu này được tính bằng tỉ lệ % giữa tổng dư nợ cho vay tiêu dùng với tổng
dư nợ cho vay chung của toàn ngân hàng.
Công thức tính:
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
19
Giá trị tăng trưởng
dư nợ tuyệt đối
Tổng dư nợ
CVTD năm t
Tổng dư nợ
CVTD năm (t-1)
=
-
Giá trị tăng
trưởng tương đối
=
Giá trị tăng trưởng dư nợ tuyệt đối
Tổng dư nợ CVTD năm (t-1)
x 100%
Tỷ trọng
=
Tổng dư nợ CVTD
Tổng dư nợ từ hoạt động CV
x 100%
Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết dư nợ cho vay tiêu dùng chiếm tỉ lệ bao nhiêu trong tổng
dư nợ từ hoạt động cho vay của ngân hàng. Tỷ trọng này càng cao chứng tỏ CVTD
chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
1.3.3.3. Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng số lượng khách hàng
Số lượng khách hàng là tổng số khách hàng đến giao dịch tại ngân hàng trong
Tổng dư nợ từ hoạt động CVTD
x 100%
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong đó:
Doanh thu từ cho vay tiêu dùng bao gồm lãi cho vay và các khoản phí thu
được.
Chi phí cho vay tiêu dùng gồm chi phí huy động vốn ( chi phí trả lãi tiền gửi,
tiền vay), chi phí marketing và các chi phí cho vay khác.
Lợi nhuận thu được từ cho vay tiêu dùng càng lớn cũng một phần thể hiện hoạt
động cho vay tiêu dùng của ngân hàng đang ngày càng được mở rộng.
1.3.3.6. Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay tiêu dùng
Nợ quá hạn trong hoạt động cho vay là khoản nợ đến thời hạn thanh toán mà
khách hàng không có khả năng hoàn trả và không được ngân hàng cho gia hạn nợ hay
giãn nợ. Nợ quá hạn sẽ dẫn đến khả năng mất vốn, đem lại rủi ro cho ngân hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay tiêu dùng là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn cho vay
tiêu dùng và tổng dư nợ CVTD của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định,
thường được tính theo năm tài chính.
Nếu NHTM có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có độ rủi ro cao. Ngược
lại, ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp đồng nghĩa với việc là ngân hàng đó có khả
năng quản lý và thu hồi vốn tốt, do đó sẽ làm tăng niềm tin của người tiêu dùng vào
ngân hàng hơn.
Như vậy, mở rộng cho vay tiêu dùng là sự tăng lên về số lượng khách hàng, giá
trị khoản vay và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp. Nếu một ngân hàng đạt
được cả ba tiêu chí này thì cho vay tiêu dùng của ngân hàng đã được mở rộng. Tuy
nhiên, trong thực tế rất khó để một ngân hàng đạt được cùng lúc cả ba tiêu chí trên,
do đó trong từng giai đoạn phát triển của mỗi ngân hàng mà ngân hàng đó sẽ ưu tiên
mở rộng cho vay tiêu dùng bằng các cách khác nhau trong những cách trên.
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay tiêu dùng
1.3.4.1. Các nhân tố bên trong ngân hàng
- Chính sách cho vay của ngân hàng
ngân hàng thương mại thì các cá nhân và hộ gia đình sẽ không có cơ hội vay được
những khoản tiền từ ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của mình. Việc xây
dựng một chính sách cho vay riêng cho khoản mục này sẽ giúp cho ngân hàng xác
định rõ hơn mục tiêu cần hướng tới cũng như phân bổ và sử dụng các nguồn lực bên
trong ngân hàng một cách có hiệu quả nhất. Nếu các yếu tố trong chính sách cho vay
của ngân hàng đưa ra đúng đắn, linh hoạt, phù hợp với sự thay đổi của môi trường
kinh tế xã hội, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng khác nhau của khách hàng sẽ giúp
cho ngân hàng dễ dàng hơn trong việc thực hiện mục tiêu mở rộng cho vay tiêu dùng.
Trái ngược với chính sách cho vay hợp lý là chính sách cho vay cứng nhắc sẽ gây cản
trở cho chính bản thân ngân hàng, làm giảm tính cạnh tranh của ngân hàng.
- Quy trình cho vay
Quy trình cho vay quy định các bước cần thiết phải thực hiện trong quá trình
cho vay bao gồm từ khi chuẩn bị cho vay, giải ngân, thu nợ, đảm bảo an toàn vốn cho
vay, được tiến hành từ khi bắt đầu phân tích nhu cầu cho đến khi thu hồi được cả vốn
lẫn lãi. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa các bước sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng phát
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
22
Chuyên đề tốt nghiệp
hiện kịp thời các khuyết điểm, nắm được diễn biến của các khoản cho vay để có biện
pháp can thiệp nhanh chóng nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra.
Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào và trong mọi trường hợp đều thực hiện
đúng như trong quy trình đã nêu ra một cách cứng nhắc mà cần có sự linh hoạt trong
từng món vay để không gây ra sự khó khăn cho khách hàng, gây mất thời gian và chi
phí cho chính bản thân ngân hàng. Đối với những món vay có quy mô nhỏ quá thì
Chi nhánh có thể giảm bớt các thủ tục, giấy tờ, không cần tài sản đảm bảo. Nếu ngân
hàng vẫn áp dụng đầy đủ thủ tục cho những khoản vay có giá trị quá nhỏ thì sẽ rất
mất thời gian cho cán bộ tín dụng và làm giảm hiệu quả công việc đồng thời làm mất
đi khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng, từ đó một phần làm cản trở việc mở
rộng cho vay tiêu dùng của ngân hàng.
- Chất lượng và tính da dạng của các sản phẩm dịch vụ cho vay tiêu dùng
- Quy mô hoạt động của ngân hàng
Đây là một nhân tố quan trọng quyết định cấu trúc danh mục cho vay của ngân
hàng. Thông thường, những ngân hàng lớn nhất có ưu thế về chi phí trong việc cho vay
kinh doanh bất động sản và cho vay tiêu dùng trả góp. Các ngân hàng có quy mô trung
bình đạt mức chi phí thấp nhất đối với các khoản vay theo thẻ tín dụng. Các ngân hàng
có quy mô nhỏ nhất chỉ có lợi thế trong cho vay thương mại.
Khả năng huy động vốn: Vốn huy động của ngân hàng được hình thành chủ
yếu từ tiền gửi cá nhân và các tổ chức trong nền kinh tế. Phần lớn vốn huy động sẽ
được ngân hàng đưa ra cho vay. Do hoạt động của ngân hàng cần phải được đa dạng
hóa để giảm thiểu rủi ro nên khi vốn huy động của ngân hàng được tăng cường thì
ngân hàng sẽ dễ dàng hơn trong việc triển khai thêm sản phẩm, dịch vụ khác nhau
nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, làm tăng khả năng cạnh tranh và vị thế của
ngân hàng mình với các ngân hàng hay các định chế tài chính khác.
- Công nghệ thông tin
Trong xu hướng phát triển hiện nay, việc nắm bắt được nhiều thông tin chính
xác, kịp thời sẽ tạo nên sức cạnh tranh vô cùng to lớn cho bản thân các ngân hàng.
Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ vào phân tích thông tin cho vay cũng góp phần
giảm thiểu những sai sót không đáng có trong hoạt động cho vay nói chung và hoạt
động cho vay tiêu dùng nói riêng của ngân hàng.
Do đặc điểm của cho vay tiêu dùng, số lượng các khoản vay rất lớn nên việc ứng
dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp cho các ngân hàng có thể quản lý danh sách khách
hàng vay tiêu dùng một cách dễ dàng, tiết kiệm được nhân công cũng như chi phí
quản lý góp phần giảm giá thành sản phẩm dịch vụ, tăng tính cạnh tranh của ngân
hàng trên thị trường.
Khi công nghệ phát triển đến mức hiện đại thì việc giải quyết các thủ tục cũng
được nhanh chóng, chính xác, thay vì phải đến ngân hàng, khách hàng có thể ngồi tại
nhà cũng có thể gửi đơn xin vay đến ngân hàng, các cán bộ cho vay tiêu dùng cũng có
thể nắm bắt được thông tin về khách hàng từ nhiều phía và nhanh chóng đưa ra quyết
định cho vay hay từ chối khi nhận được đơn xin vay của khách hàng.
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
người tiêu dùng không thể xác định được khi nào thì họ có thu nhập, nó có thể không
trùng khớp với thời điểm mà ngân hàng thu nợ, do vậy ngân hàng sẽ gặp khó khăn
trong thu nợ. Tuy nhiên, trong thực tế, thu nhập của người tiêu dùng là nhân tố có
tính biến động cao, có thể tại thời điểm ký hợp đồng thì thu nhập là cao và ổn định
nhưng vì một yếu tố khó có thể tránh khỏi như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn... của chính
khách hàng hoặc của người thân cũng làm thay đổi tính ổn định về thu nhập của họ
Đặng Hoàng Lan Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48B
25