Mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam không chỉ được biết đến như một quốc gia ổn định về chính trị mà
còn tăng trưởng ngoạn mục về kinh tế. Để đạt được những thành tựu kinh tế to lớn
đó không thể không kể đến sự nỗ lực và đóng góp đáng kể của cộng đồng các doanh
nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm khoảng 96% tổng số doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp, đóng góp khoảng 26% GDP,
31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp và chiếm 26% lực lượng lao động trong cả
nước). Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển nền kinh tế. Với những ưu điểm như bộ máy tổ chức gọn nhẹ,
không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, dễ thích ứng với những biến động của thi trường,
… các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ngày càng phát triển phù hợp với yêu cầu
đổi mới ở nước ta hiện nay. Đồng thời các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn là nền
tảng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xác định được tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với
phát triển kinh tế đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trong những năm trở
lại đây, Chính phủ đã có nhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy đến mức
cao nhất hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình
doanh nghiệp này. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng được hưởng nhiều
chính sách ưu đãi và bình đẳng hơn. Đặc biệt, ở yếu tố quan trọng có tính chất
sống còn với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc tiếp
cận với những nguồn vốn đã được mở thông thoáng hơn rất nhiều so với những
năm trước đây. Nhiều ngân hàng đã xác định cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa
là một bước chuyển đổi tích cực trong cơ cấu tài sản.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh
chưa cao, vốn tự có của doanh nghiệp còn rất hạn chế, vốn vay ngân hàng đã, đang
và còn là nguồn vốn quan trọng để tăng cường đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
Tuy nhiên với nhiều lý do khác nhau, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế
1
toàn cầu đang diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp nhỏ
và vừa còn lúng túng và gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận để có thể vay và
sử dụng vốn vay ngân hàng một cách có hiệu quả.

gửi tiền tại ngân hàng. Vì vậy có thể nói ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ
cho toàn xã hội. Với sự hiện hữu của ngân hàng, chúng ta có thể nhận được những
khoản vay để thanh toán cho việc mua sắm những tiện nghi cho gia đình, đầu tư mở
rộng hoạt động kinh doanh hay để trang trải học phí. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng
là địa chỉ tin cậy cho sự tư vấn về đầu tư, kinh doanh chứng khoán,…sử dụng các
dịch vụ bảo hiểm, bảo lãnh và những dịch vụ ngân hàng hiện đại như homebank,
phonebank, …Ngân hàng, với hệ thống chân rết len lỏi đến tất cả mọi nơi trên thế
giới, tác động đến sự phát triển mọi lĩnh vực trong một nền kinh tế.
Ngày nay, hoạt động ngân hàng đã không ngừng phát triển trên tất cả các
phương diện từ sự mở rộng mạng lưới cho đến sự mở rộng các hình thức sản phẩm
dịch vụ mới. Cùng với sự phát triển ấy thì các ngân hàng đang phải đương đầu với
sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt không chỉ trong ngành ngân hàng. Rất nhiều các
3
tổ chức tài chính, phi ngân hàng như các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm,
công ty kinh doanh bất động sản, … đều đang cố gắng cung cấp đến tay khách hàng
những dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt giữa ngân hàng với các tổ
chức tài chính khác dựa trên phương diện những loại hình dịch vụ mà NHTM cung
cấp.
Đã có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về NHTM. Tuy nhiên,
dựa trên những đặc trưng của hoạt động ngân hàng, dựa trên phương diện những
loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp, NHTM có thể được hiểu như sau: “Ngân hàng
là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất -
đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” (PGS.TS
Phan Thị Thu Hà – Ngân hàng thương mại. NXB Đại học Kinh tế quốc dân 2007)
1.1.1.2. Chức năng của NHTM
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với quá trình phát
triển nền kinh tế hàng hoá. NHTM là loại hình tổ chức tài chính lớn nhất trong nền
kinh tế, giữ vai trò quan trọng đã, đang và sẽ tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát
triển. Điều đó được thể hiện rõ rệt qua các chức năng chính của hệ thống ngân hàng.

các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng những dịch vụ thanh toán tiện ích.
- Đơn vị thặng dư vốn:
- Hộ gia đình
- Các nhà đầu tư, tổ
chức
- Các doanh nghiệp
- Chính phủ
- Nhà đầu tư nước
ngoài
Đơn vị thiếu hụt vốn:
- Hộ gia đình
- Các nhà đầu tư, tổ
chức
- Các doanh nghiệp
- Chính phủ
- Nhà đầu tư nước
ngoài
NHTM
5
H
Đ
V
P
B
V
Hình 1.1: NHTM trong quan hệ tín dụng
- Đối với người đi vay: NHTM đã giúp chủ thể này thoả mãn nhu cầu khát
vốn để kinh doanh, thanh toán, chi tiêu mà không phải tốn nhiều chi phí về sức lực
và thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện ích và hợp pháp.
- Đối với bản thân ngân hàng: Chức năng này đã giúp ngân hàng tìm kiếm

Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát
hành và ngân hàng trung gian thì các ngân hàng trung gian không còn thực hiện
chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa. Nhưng với chức năng trung gian tài
chính và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền ghi sổ thể hiện trên
tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM, tức là chức năng sáng tạo
ra bút tệ, góp phần gia tăng khối tiền tệ cho nền kinh tế.
Trong điều kiện thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ
có số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán thì họ có thể chi trả được hàng hoá và
dịch vụ theo yêu cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản của khách hàng
tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Mặt khác, khi khách hàng
tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để thực hiện chi trả thì sẽ tạo nên một
khoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng
khác, từ đó tạo ra một khoản cho vay mới. Vì vậy bằng việc cho vay, ngân hàng đã
tạo ra phương tiện thanh toán.
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho
nhau, trong đó chức năng trung gian tài chính là chức năng cơ bản nhất tạo cơ sở
cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời, khi ngân hàng thực hiện tốt các
chức năng trung gian tài chính và các chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng
nguồn vốn tín dụng, mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng.
Trên đây là các chức năng cơ bản, quan trọng nhất của NHTM. Ngoài ra,
cùng với sự phát triển của thi trường tiền tệ, hoạt động của các NHTM ngày càng
phong phú. Ngày nay, sự cạnh tranh của các tổ chức tài chính phi ngân hàng khiến
các ngân hàng hiện đại phải hướng tới ngân hàng đa năng với sự đa dạng về các dịch
7
vụ mà nó có thể cung cấp cho khách hàng. Sự đa dạng trong các dịch vụ và các chức
năng của ngân hàng dẫn đến việc ngân hàng còn được gọi với cái tên là “Bách hoá
tài chính”.
Hình 1.2: Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay
(Nguồn: Peter S.Rose (2001), Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính)
1.1.2. Hoạt động cơ bản của NHTM

8
quan trọng hàng đầu của NHTM. Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn, ảnh
hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng bao gồm: Nhận tiền gửi (ngân hàng
được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác – theo Điều
45, Khoản 1 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2004); phát hành giấy
tờ có giá (phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước); vay vốn giữa các tổ chức tín
dụng (trong và ngoài nước); vay vốn của Ngân hàng Nhà nước (dưới hình thức tái
cấp vốn – theo quy định tại Điều 30 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Trong đó
khoản tiền gửi của khách hàng (bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm) là
nguồn huy động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn tiền của ngân
hàng, đồng thời cũng mang lại lợi nhuận lớn cho hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
1.1.2.2. Hoạt động tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng nói riêng và của các
trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu
nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. “Hoạt động tín
dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp
tín dụng” (theo Khoản 8 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam). Tín dụng
là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn được gọi là tín dụng ngân
hàng). Vì vậy hoạt động tín dụng cần phải dựa trên một số nguyên tắc nhất định
nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời
Tín dụng được phân loại theo nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo yêu cầu của
khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng
• Phân theo thời gian
9
Phân theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên
quan mật thiết đến tính an toàn, khả năng sinh lời của tín dụng cũng như khả năng

tài trợ không gắn với hợp đồng đảm bảo được xếp vào tín dụng không đảm bảo bằng
tài sản. Việc chia này giúp ngân hàng theo dõi các hợp đồng về đảm bảo, đưa ra các
biện pháp xử lý đảm bảo khi cần thiết.
• Phân theo rủi ro
Tín dụng bao gồm các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp. Cách
phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại khoản mục tín dụng, dự trù
quỹ cho các khoản tín dụng rủi ro cao, đánh giá chất lượng tín dụng.
Ngoài các tiêu chí phân loại trên, các NHTM có thể phân loại tín dụng theo
nhiều tiêu chí khác như theo ngành nghề kinh tế, theo mục đích sử dụng khoản vay,

1.1.2.3. Hoạt động thanh toán
Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt,
tức là người gửi tiền không phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi
trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng để nhận tiền. Thanh toán không
dùng tiền mặt có tác dụng an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí, đã góp
phần rút ngắn thời gian kinh doanh và tăng thu nhập cho ngân hàng. Cùng với sự
phát triển của công nghệ thông tin, ngoài các hình thức thanh toán như séc, nhờ thu,
uỷ nhiệm chi, L/C, …đã phát triển nhiều hình thức thanh toán bằng thẻ.
1.1.2.4. Hoạt động khác
Hoạt động uỷ thác: Hoạt động này rất đa dạng và phong phú về hình thức
cũng như đối tượng. Mục đích của hoạt động này là thu hút một số lượng khách
hàng nhiều nhất đến với ngân hàng.
Hoạt động cho thuê: là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thoả thuận nhất định, sau 1 thời gian nhất định khách hàng phải
11
hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Bên cho thuê cam kết máy móc thiết bị,
phương tiện vận chuyển, … theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu tài
sản thuê. Bên đi thuê được sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt
thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận, không được huỷ bỏ hợp đồng trước thời
hạn.

cấp, đối với doanh nghiệp còn lại là vốn ghi trên đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu

+ Lao động trung bình hàng năm là số lao động bình quân mà doanh nghiệp
đã đăng ký với cơ quan quản lý lao động và có tham gia bảo hiểm xã hội (không bao
gồm số lao động doanh nghiệp đăng hợp đồng thời vụ, hợp đồng công việc).
So với trước đây, chỉ tiêu này được nâng lên cho phù hợp với tình hình thực
tế Việt Nam hiện nay. Quy mô của doanh nghiệp dân doanh đã lớn hơn trước: về
vốn từ 5 tỷ đồng được nâng lên 10 tỷ đồng để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư
làm ăn lớn, còn số lao động từ 200 người được nâng lên 300 người là nhằm khuyến
khích việc thu hút thêm nhiều lao động đang thiếu việc làm.
Theo Báo cáo của Cục tài chính doanh nghiệp Bộ Tài chính, các DNNVV
chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc. Hàng năm đội ngũ các
doanh nghiệp này đóng góp từ 20% đến 26% GDP. Với sự gia tăng liên tục về số
lượng và tính năng động của mình, các DNNVV đã góp phần quan trọng đối với sự
tăng trưởng của nền kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và đóng góp đáng kể cho
ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương và cho xuất khẩu.
1.2.1.2. Đặc điểm của DNNVV
Có thể nói, DNNVV là một thực thể kinh tế mang những đặc điểm riêng
không giống bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế. Điều này cũng giải
thích một cách chính xác sự tồn tại và phát triển của các DNNVV trong nền kinh tế.
Chính những đặc điểm đó đã mang lại cho các doanh nghiệp này những ưu thế nhất
định.
13
Ưu điểm của DNNVV
Đầu tiên là quy mô vốn, DNNVV cần số vốn đầu tư ban đầu nhỏ hơn các
doanh nghiệp lớn, do đó các nhà đầu tư dễ lựa chọn loại hình doanh nghiệp này khi
quyết định thành lập công ty. Vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn sẽ lớn
hơn vì phần nhiều DNNVV hoạt động trong lĩnh vực thương mại, sản xuất nhỏ nên
sản phẩm dễ tiêu thụ, chu kỳ kinh doanh ngắn, thu hồi vốn nhanh hơn những ngành
khác và nhanh hơn những doanh nghiệp lớn. Do thu hồi được vốn ban đầu bỏ ra

gặp khó khăn trong việc mua sắm trang thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh. Mặt
khác, vốn ít khiến cho các DNNVV không có khả năng trả lương và thưởng cao để
cạnh tranh với các doanh nghiệp vốn lớn nên việc thu hút và giữ chân người lao
động giỏi là vấn đề khó khăn của DNNVV. Quy mô nhỏ lại luôn khó khăn về vốn
nên hầu hết các DNNVV không đủ kinh phí để đầu tư, nâng cao trình độ chuyên
môn cho người lao động.
Các DNNVV thiếu máy móc, trang thiết bị hiện đại với công nghệ cao phục
vụ sản xuất. Hạn chế này cũng bắt nguồn từ việc thiếu vốn của DNNVV. Trang thiết
bị lạc hậu cộng thêm tay nghề thấp của công nhân là một thách thức rất lớn với các
DNNVV trong nền kinh tế của Việt Nam hiện nay.
Bảng 1.1: Trình độ công nghệ của các DNNVV ở Thành phố Hồ Chí
Minh
Đơn vị: %
Loại doanh nghiệp
Trình độ công nghệ
Hiện đại Trung bình Lạc hậu
Doanh nghiệp Nhà nước 11,4 53,1 35,5
CT TNHH, CTCP 19,4 54,8 25,8
Doanh nghiệp tư nhân 30 30,3 39,7
Hợp tác xã 16,7 33,3 50
Tổ chức cá thể 3,6 22,8 73,6
15
Năng lực quản lý, điều hành của những người đứng đầu trong doanh nghiệp
cũng là 1 vấn đề đáng quan tâm. Do trong các DNNVV, người sở hữu vốn đồng thời
là người quản lý, chủ doanh nghiệp nên hiểu biết về giá trị doanh nghiệp còn hạn
chế, hiểu biết pháp luật trong kinh doanh cũng không được cặn kẽ.
Luôn tiềm ẩn rủi ro trong kinh doanh do các DNNVV còn hạn chế về năng
lực quản lý, về vốn, hơn nữa thị trường của các DNNVV chủ yếu là khu vực các
doanh nghiệp lớn như làm đại lý bán hàng, nhà cung cấp nguyên vật liệu, kênh phân
phối,… Những thi trường này chứa đựng nhiều rủi ro và không ổn định khiến cho

Vốn của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: Vốn chủ sở hữu và vốn nợ, mỗi bộ
phận được cấu thành từ nhiều khoản mục khác nhau tuỳ thuộc vào thành phần kinh
tế. Nguồn vốn của DNNVV dựa phần nhiều vào vốn chủ sở hữu (Vốn chủ sở hữu
bao gồm: vốn góp ban đầu, nguồn vốn từ lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu).
Vốn góp ban đầu của DNNVV thường chỉ dưới 10 tỷ đồng. Nguồn vốn từ lợi nhuận
không chia rất hạn chế do lợi nhuận không nhiều. Để phát triển nguồn vốn từ phát
hành cổ phiếu, DNNVV cũng gặp không ít khó khăn, khó khăn xuất phát từ hạn chế
của cán bộ quản lý trong các DNNVV, phần đông chưa qua đào tạo, việc thiết lập
dự án để chứng minh tính khả thi của cơ hội kinh doanh là một điều không dễ. Đối
với các nước có nền kinh tế phát triển thì việc huy động vốn trên thị trường tài chính
rất dễ dàng. Tuy nhiên ở Việt Nam, thị trường tài chính chưa phát triển ổn định và
hoàn thiện nên việc khai thác vốn bằng phương thức này còn gặp nhiều khó khăn.
Vốn vay của các DNNVV nếu có thì đều là vay từ những nguồn không chính thức
(như tự thương, gia đình, bạn bè hoặc dựa vào vốn của nhau) với lãi suất cao hơn từ
3 đến 6 lần so với lãi suất chính thức. DNNVV vẫn chưa thực sự chủ động tìm đến
với các NHTM. Tuy nhiên, nguồn vốn vay được từ bạn bè, người thân cũng gây ra
nhiều phiền phức với DNNVV vì không tách biệt rõ ràng giữa góp vốn và vay vốn,
do đó dẫn tới nhiều hiểu lầm, xung đột. Còn vốn chủ sở hữu thì bị hạn chế về số
17
lượng và đã chủ yếu được dùng trong đầu tư tài sản cố định ban đầu khi doanh
nghiệp mới đi vào hoạt động. Tình trạng thiếu vốn sẽ kéo theo nhiều khó khăn hơn
nữa cho doanh nghiệp đó là thiếu máy móc, trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất
dẫn tới năng suất lao động không cao, chất lượng thành phẩm kém, không đáp ứng
được nhu cầu của người tiêu dùng. Và khi hàng hoá sản xuất ra không thể tiêu thụ
thì tình hình tài chính của doanh nghiệp không thể khả quan, dễ dẫn tới phá sản
nhanh chóng. Hơn nữa, thiếu vốn sẽ khiến chủ doanh nghiệp không có được những
người quản lý và nhân công tài giỏi để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên, doanh nghiệp có thể cải thiện được tình hình trên, phát triển sản xuất nếu
được hỗ trợ về vốn. Và tổ chức có thể đáp ứng yêu cầu này của các doanh nghiệp
chính là các NHTM.

dịch mà pháp luật cấm (theo Quyết định 1627/2001/ QĐ NHNN và Quyết định
127/2005/QĐ NHNN sửa đổi bổ sung của Quyết định 1627)
1.2.2.2. Các hình thức cho vay đối với DNNVV
Thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được
chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và
trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
Để được thấu chi khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi
và thời hạn thấu chi (có thể phải trả chi phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá trình
hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ séc… vượt quá số
dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có tiền nhập về
tài khoản tiền gửi ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Lãi suất thấu chi
×
Thời gian thấu chi
×
Số tiền thấu chi
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử
dụng hình thức này.
19
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời
gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán ngân
quỹ song không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi
cho khách hàng trong quá trình thanh toán: Chủ động, nhanh, kịp thời.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục dơn giản, phần lớn
là không có đảm bảo, có thể cấp cho các doanh nghiệp vài ngày trong tháng, vài
tháng trong năm dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng,… Hình thức
này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều
đặn và kỳ thu nhập ngắn.
Cho vay trực tiếp từng lần

nghiệp vụ này ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng. Khi
khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ
cho khách hàng. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ
thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. Ngân hàng chỉ có
phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm
sút.
Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá. Doanh nghiệp khi
mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi
doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quý, người vay phải làm đơn xin vay luân
chuyển. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn
mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng
có thể được thoả thuận trong 1 năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn
trả mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết
định có cho vay nữa hay không tuỳ thuộc mối quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng cũng như tình hình tài chính của khách hàng.
21
Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi khoản
thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được trích trả lại tài
khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn nhập
hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán. Theo hình
thức này, giá trị hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ đúng đối tượng)
đều là đối tượng được ngân hàng cho vay; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả
cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và
chất lượng quan hệ nợ nần của người vay. Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong
kho trở thành vật đảm bảo cho các khoản cho vay.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay -
trả thường xuyên với ngân hàng.

sử dụng vốn vay và uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ, quyền sở
hữu các tài sản và điều kiện kinh tế khác có liên quan đến người vay. Nội dung phân
tích chủ yếu bao gồm: đánh giá tài sản của DNNVV, đánh giá các khoản nợ, phân
tích luồng tiền, sử dụng các tỷ lệ tài chính, các điều kiện kinh tế.
Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa ngân hàng và khách
hàng với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng 1 khoản tín
dụng trong 1 thời gian và lãi suất xác định. Hợp đồng tín dụng mang tính pháp luật,
xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải tuân
thủ các điều khoản của các luật, quy định. Vì vậy cả ngân hàng và khách hàng đều
cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ký kết hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng gồm
những nội dung chính sau:
- Khách hàng: Họ tên, địa chỉ, tư cách pháp nhân (nếu có)
- Mục đích sử dụng: Khách hàng phải ghi rõ vay làm gì
23
- Số lượng tín dụng: là hạn mức tín dụng mà ngân hàng cam kết cấp cho
khách hàng. Số lượng tín dụng có thể được chia nhỏ trong các khoảng thời gian khác
nhau và dưới các hình thức tiền tệ khác nhau.
- Lãi suất: Hợp đồng tín dụng phải ghi rõ lãi suất mà khách hàng phải trả,
đồng thời xác định tính chất của lãi suất (cố định hay biến đổi). Nếu lãi suất có thay
đổi phải xác định rõ các điều kiện thay đổi đó.
- Thời hạn tín dụng: Có thể được chia thành thời gian đầu tư, thời gian ân
hạn, thời gian trả nợ, thời gian trả nợ có thể chia thành nhiều kỳ hạn trả nợ nhỏ.
- Phí: Được tính bằng tỷ lệ % trên hạn mức cam kết. Mức phí và các điều
kiện nộp phải được thể hiện trong hợp đồng tín dụng.
- Các loại đảm bảo: Hợp đồng tín dụng phải ghi rõ loại đảm bảo cho các
khoản vay (nếu có) kèm theo các hợp đồng phụ như hợp đồng bảo lãnh, tài sản cố
định, vật tư hàng hoá trong kho, các chứng khoán có giá, … Các nội dung quan
trọng liên quan đến các đảm bảo như quyền sở hữu, quyền chuyển nhượng hoặc bán,
định giá, bảo hiểm, quyền sử dụng đối với các đảm bảo, người bảo quản,… phải

Trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng, cố tình nợ nần dây dưa
hoặc làm ăn thua lỗ không còn phương cách cứu chữa, ngân hàng áp dụng phương
án thanh lý để thu hồi khoản nợ bao gồm phong toả và bán các tài sản thế chấp, tước
đoạt các khoản tiền.
1.2.2.4. Vai trò của cho vay đối với DNNVV
Đối với DNNVV, vay vốn từ ngân hàng là một kênh huy động vốn vô cùng
quan trọng. Trước hết, DNNVV thành lập thường đơn giản, nhanh chóng với số vốn
không nhiều, khả năng tài chính hạn chế, khi thiếu vốn thường đi vay từ các nguồn
phi chính thức. Các nguồn phi chính thức này thường có lãi suất cao hơn nhiều so
với lãi suất ngân hàng và ít bị ràng buộc bởi các quy định của pháp luật. Tuy nhiên,
vay từ các nguồn này thường phải chịu rủi ro rất lớn. Thực tế, nếu vay vốn từ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status