Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam không chỉ được biết đến như một quốc gia ổn định về chính trị mà
còn tăng trưởng ngoạn mục về kinh tế. Để đạt được những thành tựu kinh tế to lớn đó
không thể không kể đến sự nỗ lực và đóng góp đáng kể của cộng đồng các doanh
nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm khoảng 96% tổng số doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp, đóng góp khoảng 26% GDP, 31%
giá trị tổng sản lượng công nghiệp và chiếm 26% lực lượng lao động trong cả
nước). Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển nền kinh tế. Với những ưu điểm như bộ máy tổ chức gọn nhẹ,
không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, dễ thích ứng với những biến động của thị trường,
… các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ngày càng phát triển phù hợp với yêu cầu đổi
mới ở nước ta hiện nay. Đồng thời các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn là nền tảng
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xác định được tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với phát
triển kinh tế đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trong những năm trở lại
đây, Chính phủ đã có nhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy đến mức cao
nhất hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình doanh
nghiệp này. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng được hưởng nhiều chính sách
ưu đãi và bình đẳng hơn. Đặc biệt, ở yếu tố quan trọng có tính chất sống còn với sự
tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc tiếp cận với những
nguồn vốn đã được mở thông thoáng hơn rất nhiều so với những năm trước đây.
Nhiều ngân hàng đã xác định cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bước
chuyển đổi tích cực trong cơ cấu tài sản.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh
chưa cao, vốn tự có của doanh nghiệp còn rất hạn chế, vốn vay ngân hàng đã, đang và
còn là nguồn vốn quan trọng để tăng cường đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Tuy
nhiên với nhiều lý do khác nhau, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn
cầu đang diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp nhỏ và
vừa còn lúng túng và gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận để có thể vay và sử
mở rộng cho vay đối với DNVVN tại NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà nội. Lấy
thực tiễn hoạt động cho vay đối với DNVVN tại NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà
nội giai đoạn 2007 – 2009 làm cở sở minh chứng.
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
2
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
4. Phương pháp nghiên cứu:
Chuyên đề đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học để
phân tích lý luận và thực tiễn đó là: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
duy vật lịch sử, suy luận logic, phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phương
pháp phân tích kinh tế,…
5. Kết cấu đề tài:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cho vay đối với DNVVN của NHTM.
Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay đối với DNVVN tại ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà nội.
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với DNVVN tại ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà nội.
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
3
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 VAI TRÒ CỦA DNVVN TRONG NỀN KINH TẾ:
1.1.1 Khái niệm về DNVVN:
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm và tiêu thức phân loại DNVVN
không chỉ riêng Việt Nam mà còn ở các nước khác nhau trên thế giới. Nhưng nhìn
chung hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định DNVVN dựa trên hai tiêu thức:
ngsố lượng lao động bình quân và tổng số vốn sản xuất kinh doanh. Ví dụ:
- Ở Hàn Quốc, DNVVN là doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 300 lao động
DNVVN hoạt động đa dạng ở mọi ngành nghề, trong mọi thành phần kinh tế.
Nó có sức mạnh lan toả mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. DNVVN với
quy mô nhỏ, có khả năng xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực kinh doanh mà các doanh
nghiệp lớn không muốn hoặc không thể tham gia, vì vậy nó có khả năng thoả mãn
mọi nhu cầu về sản phẩm dịch vụ dù là nhỏ nhất của mọi tầng lớp dân cư. Đây là một
lợi thế mạnh của các DNVVN.
1.1.2.3 Cơ cấu tổ chức của DNVVN:
DNVVN có bộ máy tổ chức sản xuất, quản lý đơn giản, gọn nhẹ nhưng mang
lại hiệu quả cao. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ phù hợp với điều kiện về vốn và lao động
hạn chế trong các DNVVN, góp phần tiết kiệm chi phí hành chính và quản lý cho
doanh nghiệp đồng thời trở nên linh hoạt hơn trước những biến động của thị trường.
Bộ máy quản lý gọn nhẹ cùng với mối quan hệ mật thiết giữa các thành viên trong
doanh nghiệp tạo nên mối quan hệ điều hành trực tiếp, làm các quyết định quản trị
được đưa ra nhanh chóng giúp doanh nghiệp kịp thời nắm bắt các cơ hội nhằm phát
triển sản xuất kinh doanh.
1.1.2.4 Lao động và trình độ quản lý của DNVVN:
Số lượng lao động trong các DNVVN thường không lớn, trình độ tay nghề
còn hạn chế, chuyên môn hoá trong lao động chưa phát triển, một người có thể tham
gia nhiều khâu trong quá trình sản xuất cũng như quản lý. Đội ngũ cán bộ còn nhiều
hạn chế về trình độ, khả năng quản lý chưa được đào tạo nên đã bộc lộ nhiều lúng
túng trong điều hành hoạt động kinh doanh, khả năng thu thập, phân tích thông tin và
nhạy bén trong việc nắm bắt cơ hội kinh doanh còn yếu kém gây ảnh hưởng không
tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật của DNVVN:
Các DNVVN có trình độ kỹ thuật và công nghệ còn lạc hậu, hạ tầng cơ sở
phục vụ sản xuất kinh doanh còn yếu kém dẫn đến những hạn chế trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm chưa cao, chi phí
đầu vào tăng làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, và làm giảm hiệu
quả sử dụng vốn.
1.1.2.6 Năng lực tài chính của DNVVN:
DNVVN là nhân tố quan trọng thúc đẩy mở rộng cạnh tranh, đảm bảo ổn định kinh tế
và phòng chống nguy cơ khủng hoảng.
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
6
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
Ở mỗi quốc gia, các DNVVN được hoạt động trong môi trường chính sách và
pháp lý hợp lý sẽ đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Vai trò của DNVVN được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
* DNVVN đóng góp quan trọng vào GDP và quá trình tăng trưởng kinh tế:
Việc phát triển DNVVN đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh
tế, đặc biệt với các nước đang phát triển. Với một số lượng đông đảo, chiếm tỷ trọng
lớn trong nền kinh tế của các quốc gia, các DNVVN có đóng góp quan trọng vào
GDP, góp phần đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế. Ở nhiều quôc gia
trên thế giới, DNVVN thường đóng góp 25 – 33% vào giá trị GDP hàng năm. Các
DNVVN ở Việt Nam cũng đóng góp khoảng 30% GDP hàng năm, 30% giá trị sản
phẩm công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá,
100% tổng giá trị sản lượng hàng hoá ở một số ngành như: giày dép, thủ công mỹ
nghệ….
* DNVVN góp phần quan trọng trong việc thu hút một lượng vốn lớn trong
dân cư vào công cuộc đầu tư, khơi dậy tiềm năng và sử dụng hiệu quả các
nguồn lực của đất nước:
Ở rất nhiều các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, tồn tại một
nghịch lý đó là các doanh nghiệp luôn trong tình trạng thiếu hụt vốn để mở rộng sản
xuất kinh doanh, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn cho đầu tư
phát triển, trong khi đó lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư lại rất lớn. Điều đó gây lãng
phí nguồn lực và không khai thác được triệt để các tiềm năng của đất nước. Với tính
chất nhỏ lẻ, dễ phân tán, dễ đi sâu và số lượng vốn ban đầu không lớn các DNVVN
có vai trò to lớn trong việc khắc phục nghịch lý đó.
DNVVN được xem là mô hình đầu tư phù hợp với những chủ thể có nguồn vốn và
doanh, thay đổi quy mô sản xuất để đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường mà ít gây
biến động lớn, ít chịu ảnh hưởng và có khả năng phục hồi nhanh sau những cuộc
khủng hoảng kinh tế trên góc độ kinh tế quốc gia. Số lượng loại hình doanh nghiệp
này gia tăng sẽ góp phần tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nền kinh tế, thúc đẩy
đổi mới công nghệ, phát triển ý tưởng và kỹ năng mới, thúc đẩy sự đầu tư giữa các
nền kinh tế trong và ngoài khu vực.
* DNVVN góp phần làm ổn định nền kinh tế:
Ở nhiều nền kinh tế, các DNVVN là những nhà thầu phụ cho các doanh
nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế
có được sự ổn định. Các DNVVN tham gia và quá trình sản xuất, giảm tải cho các
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
8
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp lớn, đẩy hiệu quả đến mức cao nhờ khả năng tập trung hoá. Điền kín
vào những khe thị trường mà các doanh nghiệp lớn còn bỏ ngỏ, sẵn sàng tham gia thế
chỗ khi có mảng thị trường được nhường lại. Vì thế DNVVN được ví như thanh
giảm sốc của nền kinh tế.
* Ngoài ra các DNVVN còn tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ
quan trọng chuyên môn hoá vào sản xuất một vài công đoạn nhất định cho việc
hoàn thành một sản phẩm tổ hợp.
1.2 CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNVVN
1.2.1 Khái niệm cho vay:
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định và thời gian theo thoả thuận
với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi.
1.2.2 Đặc điểm của cho vay ngân hàng đối với DNVVN:
* Đặc điểm về quy mô các khoản cho vay đối với DNVVN:
Các DNVVN có quy mô sản xuất nhỏ nên nhu cầu về vốn cho quá trình sản
xuất không nhiều, vì vậy các khoản tín dụng ngân hàng đối với các loại hình doanh
nghiệp này chủ yếu là các khoản cho vay đối với món nhỏ.
Chi phí thẩm định của một khoản cho vay đối với DNVVN được đánh giá là
tương đối cao trong tương quan với giá trị khoản vay đó. Những khoản cho vay đối
với các DNVVN thường có quy mô nhỏ, thời hạn ngắn, tuy nhiên để đảm bảo chất
lượng tín dụng, các cán bộ tín dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong quy
trình tín dụng như các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp lớn. Điều này làm cho
chi phí thẩm định trong cho vay với DNVVN cao hơn một cách tương đối so với tín
dụng đối với doanh nghiệp lớn.
1.2.3 Vai trò của cho vay ngân hàng đối với DNVVN
*Cho vay ngân hàng góp phần thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của các DNVVN
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là cung cấp một lượng giá trị trên
cơ sở lòng tin mà còn phải hoàn trả lượng giá trị đó trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc
và lãi. Vì vậy khi doanh nghiệp sử dụng vốn cho vay của ngân hàng phải cân nhắc
từng đồng vốn mình bỏ ra sao cho mang lại hiệu quả cao nhất, đảm bảo khả năng
sinh lời nhằm đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng mang lại lợi nhuận và đảm bảo
cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
10
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
Thêm vào đó ,bất cứ một ngân hàng nào khi cho vay cũng phải quan tâm đến
tình hình kinh doanh cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp. Để hạn chế rủi
ro, các ngân hàng chỉ cho vay những khách hàng mà sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
có tình hình tài chính lành mạnh. Yếu tố này thúc đấy các doanh nghiệp quan tâm
hơn nữa đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiết kiệm nguồn vốn, giảm
chi phi sản xuất, tăng vòng quay vốn, lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh
nghiệp từ đó tạo điều kiện nâng cao khả năng tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp,
đồng thời cũng tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng .
*Cho vay ngân hàng góp phần chuyển dịch lĩnh vực và cơ cấu kinh doanh của
DNVVN, là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và mũi nhọn
Sự năng động luôn là đặc trưng vốn có của các DNVVN. Họ rất linh hoạt và
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Mặt khác tín dụng ngân hàng cũng tác
động vào việc tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp thông qua việc mở rộng cho
vay tiêu dùng, cho vay bảo lãnh hay bảo lãnh để các tổ chức kinh tế, cá nhân hoạt
động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá. Tín dụng ngân hàng cũng góp phần quan
trọng trong việc cung cấp nguồn vốn để doanh nghiệp duy trì, bảo dưỡng và đổi mới
máy móc, thiết bị, đào tạo đội ngũ lao động, nâng cao trình độ quản lý nhằm đảm bảo
cho doanh nghiệp hoạt động liên tục và có hiệu quả.
*Cho vay ngân hàng góp phần tăng nguồn vốn, nâng cao khả năng cạnh
tranh của các DNVVN
Một trong những quy luật khách quan của kinh tế thị trường là cạnh tranh và
quy luật này ngày càng có ảnh hưởng quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của các doanh nghiệp, trong đó có các DNVVN. Do những đặc điểm của mình,
các DNVVN gặp không ít khó khăn trong việc phát triển thị phần, tạo niềm tin và tạo
dựng hình ảnh của mình, trong khi những doanh nghiệp lớn đã khẳng định được vị
thế và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Một trong những khó khăn lớn nhất mà
các DNVVN gặp phải đó chính là thiếu vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,
đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển các hoạt động nhằm
tạo dựng hình ảnh của doanh nghiệp. Vì vậy các DNVVN thường xuyên tìm cách huy
động vốn từ mọi thành phần kinh tế, trong đó chủ yếu là nguồn vốn tín dụng ngân
hàng. Khi vốn được giải ngân, sức mạnh tài chính của doanh nghiệp tăng lên, các
DNVVN có cơ hội thực hiện mục đích của mình, mở rộng phát triển sản xuất kinh
doanh, chiếm lĩnh thị trường, tạo thế cạnh tranh.
*Cho vay ngân hàng có vai trò hỗ trợ ban đầu cho sự hình thành của các
DNVVN.
Trong nền kinh tế, có rất nhiều các chủ thể muốn tham gia sản xuất kinh
doanh với những phương án kinh doanh có khả thi, hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế
cao, tuy nhiên lại không đủ vốn theo quy định của pháp luật để thành lập doanh
nghiệp và đưa doanh nghiệp đi vào hoạt động. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng lúc này
trở nên có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ để tháo gỡ các trở ngại về vốn, góp
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
dài hạn phục vụ mục đích mua sắm tài sản cố định, máy móc, cải tiến đổi mới. Kỹ
thuật mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, có khả năng thu hồi vốn chậm.
+ Cho vay từng lần: Khách hàng thoả thuận vói ngân hàng sẽ trả cả gốc và lãi
một lân khi đến hạn hoặc trả lãi từng kỳ, gốc trả một lần khi đến hạn…
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
13
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
+ Cho vay thuê mua( thường gọi là tín dụng thuê mua ): Ngân hàng cam kết
mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài
sản. Bên thuê được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản và hưởng lợi từ tài
sản đồng thời có nghĩa vụ trả tiền thuê trong suốt quá trình thuê. Hết hạn hợp đồng
tuỳ thoả thuận của hai bên mà tài sản có thể được cho thuê tiếp hoặc bán lại cho bên
thuê…
+ Cho vay trả góp: Số tiền vay được trả dần cho ngân hàng theo định kỳ hoặc
ngân hàng mua lại các khoản nợ phát hành từ các công ty bán hàng trả góp cho các cá
nhân. Như vậy vừa giúp các doanh nghiêp tăng vốn kinh doanh kịp thời vừa thúc đẩy
tiêu dùng trong xã hội.
+ Với các dự án lớn có nhu cầu về lượng vốn lớn, thời hạn dài ngân hàng có
thể cho vay đồng tài trợ.
1.3 MỞ RỘNG CHO VAY NGÂN HÀNG VỚI DNVVN
1.3.1 Hiểu về mở rộng cho vay của ngân hàng
Mở rộng được hiểu là làm cho quy mô, phạm vi lớn hơn trước. Như vậy, mở
rộng cho vay cũng là sự tăng lên về quy mô, sản phẩm, khối lượng cho vay. Trong xu
hướng mở rộng cho vay của ngân hàng, với đặc điểm, vị trí và vai trò của mình trong
nền kinh tế, các DNVVN được coi là những khách hàng có tiềm năng nhất, mà muốn
phát triển, các ngân hàng dần tập trung khai thác tốt tiềm năng đó. Nhưng một vấn đề
đặt ra là làm thế nào có thể mở rộng cho vay đối với các DNVVN và làm như thế nào
có thể tăng quy mô, khối lượng sản phẩm, đối với các DNVVN đáp ứng nhu cầu thực
sự của bản thân các doanh nghiệp
Việc mở rộng cho vay ngân hàng đối với các DNVVN được thể hiện trên
dụng
Mỗi doanh nghiệp tuỳ theo đặc điểm và nhu cầu của mình cũng có những nhu
cầu khác nhau đối với nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở thiết lập nhiều hình
thức cho vay như cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo các phương thức khác
nhau như: Cho vay theo hạn mức tín dung, cho vay từng lần, cho vay theo dự án đầu
tư, cho vay trả góp…các doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn các hình thức phù
hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của mình.
Như vậy, đối với ngân hàng, để mở rộng cho vay đối vơí DNVVN ngân hàng
cần phải:
- Mở rộng mạng lưới cấp tín dụng trên cơ sở đó tăng khả năng tiếp cận làm đa
dạng hoá đối tượng khách hàng.
- Tăng tỷ trọng cho vay đối với DNVVN trong tổng dư nợ.
- Tiến hành mở rộng thị phần cho vay đối với DNVVN.
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
15
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá mức độ mở rộng cho vay ngân hàng đối với
DNVVN
Để đánh giá mức độ mở rộng cho vay các ngân hàng thường sử dụng các tiêu
chí sau:
- Sự gia tăng số lượng các DNVVN được cho vay: Sự tăng giảm của chỉ tiêu
này cho thấy mức độ mở rộng đối tượng cho vay là DNVVN của ngân hàng, tốc độ
tăng trưởng và tỷ trọng của khách hàng là DNVVN trong tổng số khách hàng doanh
nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng, cho thấy chính sách khuyến khích hay hạn
chế của ngân hàng trong việc cho vay đối với DNVVN hoặc sự ổn định trong việc
mở rộng cho vay đối với DNVVN.
- Doanh số cho vay và tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay đối với DNVVN:
Doanh số cho vay trong kỳ đối với DNVVN là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho các
DNVVN vay trong kỳ ấy, thể hiện quy mô tuyệt đối của NHTM đối với các
DNVVN. Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay thể hiện khả năng mở rộng
để mở rộng cho vay đối với DNVVN. Ngược lại, khi giảm nhu cầu đầu tư, các
DNVVN do năng lực tài chính thấp sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề, nhiều doanh nghiệp
kinh doanh thua lỗ, phá sản, nhu cầu vay vốn giảm mạnh, quy mô tín dụng ngân hàng
sẽ bị thu hẹp.
*Chính trị, pháp luật
Môi trường chính trị ổn định luôn là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định và
phát triển của nền kinh tế nói chung, cho ngân hàng và các DNVVN nói riêng. Một
môi trường chính trị ổn định sẽ giúp cho các doanh nghiệp có môi trường kinh doanh
an toàn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và tạo nên tâm lý yên tâm
khi quyết định đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
Môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động mở rộng cho vay
ngân hàng đối với các DNVVN. Một môi trường pháp lý đồng bộ, thồng nhất sẽ tạo
hành lang pháp lý vững chắc, giúp cho hoạt động của các doanh nghiệp được diễn ra
thuận lợi và có hiệu quả. Đó cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát
sinh giữa ngân hàng và các DNVVN.
*Văn hoá - xã hội
Trình độ dân trí, thói quen đầu tư, phong tục tập quán, an toàn xã hội…cũng là
những yếu tố khách quan ảnh hưởng không nhỏ đến mở rộng quy mô tín dụng ngân
hàng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng tham gia quan hệ tín dụng và các
hình thức cấp tín dụng. Thực tế cho thấy, một xã hội an ninh trật tự và có trình độ dân
trí cao sẽ an toàn cho hoạt động đầu tư và nhận thức rõ ràng về vai trò và cách tiếp
cận nguồn vốn tín dụng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng cho vay của ngân
hàng. Và ngược lại một xã hội thiếu ổn định sẽ gây cản trở cho sự phát triển của các
doanh nghiệp và quy mô tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp sẽ bị thu hẹp.
*Khoa học công nghệ
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
17
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
Đối với hoạt động mở rộng cho vay ngân hàng, sự phát triển của khoa học
công nghệ có tác động trên cả hai phương diện. Một mặt nó thu hút sự đầu tư của các
18
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
- Quy trình tín dụng: Một quy trình tín dụng từ khi tiếp cận khách hàng đến khi
giải ngân và thu hồi nợ là một quá trình thẩm định thận trọng, kỹ càng và quản lý món
vay chặt chẽ và có thời gian. Vì vậy quá trình tín dụng khép kín, thủ tục đơn giản, chặt
chẽ, không quá nhiều phiền hà, và linh hoạt với từng đối tượng khách hàng sẽ là yếu tố
quan trọng góp phần thu hút khách hàng mở rộng cho vay và nâng cao chất lượng tín
dụng.
- Công tác tổ chức hoạt động tín dụng và trình độ, năng lực, đạo đức của cán
bộ tín dụng: Một đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ, năng lực, đạo đức, và công tác
TCTD được sắp xếp một cách linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tín dụng,
cùng với sự kết hợp chặt chẽ, khoa học, nhịp nhàng giữa khâu là nhân tố quan trọng
ảnh hưởng tới sự thành công của hoạt động mở rộng cho vay đối với DNVVN. Và
ngược lại, sự hạn chế về trình độ, năng lực và đạo đức của cán bộ tín dụng và thiếu
sự khoa học cảu công tác TCTD sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng, hạn chế
trong việc nắm bắt các cơ hội phát triển tín dụng và khả năng phục vụ khách hàng, từ
đó làm giảm hiệu quả kinh doanh và làm xấu đi hình ảnh , vị trí của ngân hàng trong
mắt khách hàng gây khó khăn cho việc mở rộng cho vay.
- Thông tin tín dụng và trang thiết bị công nghệ: Thông tin giữ vai trò quan
trọng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Có được thông tín chính xác, đầy đủ,
kịp thời góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng tín dụng, từ quyết định
cho vay đứng đắn, đến việc kiểm soát các khoản vay, phát hiện và xử lý những vấn
đề mới nảy sinh. Hơn nữa, dựa trên những thông tin có được, các ngân hàng có thể
phát hiện, dự đoán nhu cầu vay vốn của khách hàng để có thể đưa ra những chính
sách tín dụng, chính sách huy động vốn phù hợp nhằm mở rộng cho vay.
Khoa học công nghệ hiện đại có vai trò hết sức quan trọng cho hoạt động tín
dụng ngân hàng. Sự phát triển của công nghệ giúp nâng cao chất lượng và tốc độ xử
lý công việc, đồng thời cũng giúp cho việc tìm kiếm và xử lý thông tin được nhanh
chóng và hiệu quả. Điều đó cũng góp phần làm nâng cao khả năng mở rộng cho vay
và nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.
thẩm định và giám sát khoản vay, giúp cho việc thiết lập quan hệ tín dụng giữa ngân
hàng và doanh nghiệp trở nên thuận lợi hơn, đặc biệt trong điều kiện nguồn thông tin
cho ngân hàng còn hạn hẹp như hiện nay. Cùng với ai đó, tính trung thực trong việc
sử dụng vốn vay, đảm bảo cho nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích và việc hoàn
trả theo đúng cam kết, không có chủ ý lừa đảo hay chiếm dụng vốn ngân hàng cũng
là điều kiện quan trọng để ngân hàng tiếp tục duy trì quan hệ tín dụng và mở rộng
cho vay đối với DNVVN.
Những vấn đề nghiên cứu trong chương 1 đã giải quyết được những vấn đề cơ
bản về cho vay đối với DNVVN của NHTM. Đây là cơ sở lý luận để đánh giá thực
trạng cho vay của NHNo & PTNT Nam Hà nội đối với DNVVN trong chương 2.
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
20
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI
NHNo & PTNT CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NHNo & PTNT CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI:
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Nam Hà nội:
Từ cái tên sơ khai Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, với chức
năng là một ngân hàng chuyên kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn
đến cái tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam được chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Thủ tướng Chính phủ) ký quyết định số 400/CT ngày 14/11/1990 – Ngân
hàng nhà nước thực sự là một ngân hàng thương mại đa năng, một doanh nghiệp
hạng đặc biệt, một pháp nhân hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về hoạt động của mình trước pháp luật. Hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực Nông nghiệp
– nông thôn theo tinh thần: “ Đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá vì mục tiêu
dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước đi lên Chủ
Nghĩa Xã Hội ”.
Thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/11/1996, Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước đã ký quyết định số 280/QĐ- NHNN, đổi tên Ngân hàng Nông
nghiệp Việt nam thành Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam là
tiếp thu thực tế, trau dồi kinh nghiệm, hoạt động sáng tạo, dám nghĩ dám làm để kinh
doanh có lãi.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động chi nhánh NHNo & PTNT Nam Hà Nội
Ban lãnh đạo chi nhánh Nam Hà Nội gồm một giám đốc và 3 phó giám đốc
phụ trách 3 mảng công việc, cụ thể:
-Ban giám đốc phụ trách chung, trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán
bộ,kiểm tra kiểm soát nội bộ,chiến lược kinh doanh
-PGĐ 1 phụ trách công tác tín dụng Hội sở, kế hoạch tổng hợp
-PGĐ 2 phụ trách công tác tài chính, kế toán, kho quỹ, chi tiêu nội bộ và hành
chính
-PGĐ 3 phụ trách công tác đối ngoại, phát triển nguồn vốn của chi nhánh và
công tác tín dụng của các phòng giao dich trực thuộc
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
22
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC NHNo NAM HÀ NỘI
2.1.3 Tổng kết hoạt động kinh doanh của chi nhánh NH No & PTNT Nam Hà Nội
2.1.3.1 Tình hình kinh tế xã hội tác động đến hoạt động ngân hàng:
Năm 2008 Việt Nam đối mặt với khó khăn do kinh tế thế giới rơi vào khủng
hoảng, giá vàng và USD biến động, giá xăng dầu, điện tăng… là các yếu tố gây bất
lợi cho các ngân hàng thương mại quốc doanh. Lạm phát đã vượt lên mức 2 con số,
đỉnh điểm lên đến 23% cao nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Chính sách tiền tệ từ
định hướng thắt chặt và kích hoạt nửa đầu năm 2008 chuyển dần sang nới lỏng một
cách thận trọng trong những tháng cuối năm. Đi cùng với quá trình này là tần suất
điều chỉnh các công cụ điều hành của NHNN, tập trung ở các lãi suất chủ chốt, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc và biên độ giảm đã đẩy nhà đầu tư vào thua lỗ và hàng loạt công ty
chứng khoán đứng trước nguy cơ phá sản. Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta
tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Cùng với những khó khăn do kinh tế thế giới
suy thoái, thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động,
bão lũ xảy ra liên tiếp, dịch bệnh bùng phát ở nhiều địa phương. Lạm phát được kiềm
PGD
GIảng
Võ
PGD
Số 1
PGD
Số 2
PGD
Số 3
PGD
Khâm
Thiên
PGD
Nam
Bộ
PGD
Số 5
PGD
Số 6
PGD
Số 9
PGD
Số 10
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
Tất cả các yếu tố trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của NHNo &
PTNT Việt nam nói chung và chi nhánh Nam Hà Nội nói riêng.
2.1.3.2 Hoạt động huy động vốn:
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, một trong những
đặc trưng cơ bản là “ đi vay để cho vay ” do đó nguồn vốn huy động hay còn gọi là
đầu vào của ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, là điều kiện tiên quyết cho hoạt động
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
đồng (43,38%) giảm 418 tỷ đồng, tương ứng giảm 13%. Tiền gửi của các tổ chức tín
dụng đạt 108 tỷ đồng (1,73%), giảm mạnh 245 tỷ đồng, tương ứng giảm 69% so với
cùng kỳ năm 2008. Theo thời hạn, tiền gửi không kỳ hạn đạt 830 tỷ đồng (13,29%) ,
giảm 58 tỷ đồng, tương ứng giảm 7%. Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng đạt 1,307 tỷ
đồng (20,94%), giảm mạnh 226 tỷ, tương ứng giảm 15%. Tiền gửi có kỳ hạn trên 12
tháng đạt 4,106 tỷ đồng (65,77%), giảm 467 tỷ đồng, tương ứng giảm 10% so với
năm 2008. Tiền gửi năm 2009 giảm do một số nguyên nhân sau:
- Ngân hàng hoạt động trên địa bàn có nhiều ngân hàng, với đủ các loại hình
ngân hàng thương mại, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt trên
nhiều mặt: lãi suất huy động, phí cho vay, phí dịch vụ…
- Một số kênh đầu tư như: chứng khoán, bất động sản, vàng, USD…cũng là
nguyên nhân dẫn đến ngân hàng khó huy động vốn
- Do ảnh hưởng của nền kinh tế nên người dân không mặn mà với các khoản
tiền gửi kỳ hạn
Tất cả đã ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng.
2.1.3.3 Về tình hình sử dụng vốn:
Song song với hoạt động huy động vốn thì hoạt động sử dụng vốn có vai trò
hết sức quan trọng đối với trong quá trình huy động kinh doanh của ngân hàng. Nếu
như huy động vốn được coi là điều kiện cần thì sử dụng vốn được coi là điều kiện đủ,
quyết định đến sự sống còn của ngân hàng. Ngân hàng huy động vốn để cho vay nên
huy động nhiều mà không cho vay được thì dẫn đến hậu quả “ ách tắc vốn” nhưng
ngược lại cho vay được mà không thu hồi được nợ thì lại càng không tốt. Do vậy,
nghiệp vụ sử dụng vốn chỉ cần một sai lầm nhỏ có thể dẫn tới hậu quả khôn lường,
thậm chí có thể dẫn tới phá sản bất cứ ngân hàng nào.
Năm 2009 hoạt động của chi nhánh Nam Hà nội và hoạt động tín dụng nói
riêng tiếp tục đi vào ổn định. Tổng dư nợ đến ngày 31/12/2009 của chi nhánh đạt
95,7% so với kế hoạch dư nợ được giao. Số lượng doanh nghiệp đang có quan hệ với
chi nhánh hiện nay đạt con số 116 doanh nghiệp. Nợ quá hạn của chi nhánh chiếm
384,5 triệu đồng, chiếm 14,5% trên tổng dư nợ cho vay. Số dư nợ đã xử lý rủi ro đến