Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam không chỉ được biết đến như một quốc gia ổn định về chính trị mà
còn tăng trưởng ngoạn mục về kinh tế. Để đạt được những thành tựu kinh tế to lớn đó
không thể không kể đến sự nỗ lực và đóng góp đáng kể của cộng đồng các doanh
nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm khoảng 96% tổng số doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp, đóng góp khoảng 26% GDP, 31%
giá trị tổng sản lượng công nghiệp và chiếm 26% lực lượng lao động trong cả
nước). Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển nền kinh tế. Với những ưu điểm như bộ máy tổ chức gọn nhẹ,
không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, dễ thích ứng với những biến động của thị trường,
… các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ngày càng phát triển phù hợp với yêu cầu đổi
mới ở nước ta hiện nay. Đồng thời các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn là nền tảng
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xác định được tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với phát
triển kinh tế đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trong những năm trở lại
đây, Chính phủ đã có nhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy đến mức cao
nhất hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình doanh
nghiệp này. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng được hưởng nhiều chính sách
ưu đãi và bình đẳng hơn. Đặc biệt, ở yếu tố quan trọng có tính chất sống còn với sự
tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc tiếp cận với những
nguồn vốn đã được mở thông thoáng hơn rất nhiều so với những năm trước đây.
Nhiều ngân hàng đã xác định cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bước
chuyển đổi tích cực trong cơ cấu tài sản.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh
chưa cao, vốn tự có của doanh nghiệp còn rất hạn chế, vốn vay ngân hàng đã, đang và
còn là nguồn vốn quan trọng để tăng cường đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Tuy
nhiên với nhiều lý do khác nhau, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn
cầu đang diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp nhỏ và
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Tín dụng là phạm trù có nội dung rộng. Chuyên đề chỉ tập trung nghiên cứu về
mở rộng cho vay đối với DNVVN tại NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà nội. Lấy
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
thực tiễn hoạt động cho vay đối với DNVVN tại NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà
nội giai đoạn 2007 – 2009 làm cở sở minh chứng.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Chuyên đề đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học để
phân tích lý luận và thực tiễn đó là: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
duy vật lịch sử, suy luận logic, phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phương
pháp phân tích kinh tế,…
5. Kết cấu đề tài:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cho vay đối với DNVVN của NHTM.
Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay đối với DNVVN tại ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà nội.
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với DNVVN tại ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà nội.
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
trước những biền động của thị trường, dễ dàng chuyển hướng kinh doanh để phù hợp
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
với điều kiện mới. Tuy nhiên, với vốn tự có ít, nên các DNVVN phụ thuộc rất lớn
vào nguồn vốn ở bên ngoài trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và đổi
mới công nghệ.
1.1.2.2 Lĩnh vực kinh doanh của DNVVN:
DNVVN hoạt động đa dạng ở mọi ngành nghề, trong mọi thành phần kinh tế.
Nó có sức mạnh lan toả mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. DNVVN với
quy mô nhỏ, có khả năng xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực kinh doanh mà các doanh
nghiệp lớn không muốn hoặc không thể tham gia, vì vậy nó có khả năng thoả mãn
mọi nhu cầu về sản phẩm dịch vụ dù là nhỏ nhất của mọi tầng lớp dân cư. Đây là một
lợi thế mạnh của các DNVVN.
1.1.2.3 Cơ cấu tổ chức của DNVVN:
DNVVN có bộ máy tổ chức sản xuất, quản lý đơn giản, gọn nhẹ nhưng mang
lại hiệu quả cao. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ phù hợp với điều kiện về vốn và lao động
hạn chế trong các DNVVN, góp phần tiết kiệm chi phí hành chính và quản lý cho
doanh nghiệp đồng thời trở nên linh hoạt hơn trước những biến động của thị trường.
Bộ máy quản lý gọn nhẹ cùng với mối quan hệ mật thiết giữa các thành viên trong
doanh nghiệp tạo nên mối quan hệ điều hành trực tiếp, làm các quyết định quản trị
được đưa ra nhanh chóng giúp doanh nghiệp kịp thời nắm bắt các cơ hội nhằm phát
triển sản xuất kinh doanh.
1.1.2.4 Lao động và trình độ quản lý của DNVVN:
Số lượng lao động trong các DNVVN thường không lớn, trình độ tay nghề
còn hạn chế, chuyên môn hoá trong lao động chưa phát triển, một người có thể tham
gia nhiều khâu trong quá trình sản xuất cũng như quản lý. Đội ngũ cán bộ còn nhiều
hạn chế về trình độ, khả năng quản lý chưa được đào tạo nên đã bộc lộ nhiều lúng
túng trong điều hành hoạt động kinh doanh, khả năng thu thập, phân tích thông tin và
Như vậy, với quy mô vốn nhỏ, khả năng tiếp cận với các nguồn tài chính bên
ngoài lại khó khăn nên tiềm lực tài chính của các DNVVN đã thấp nay lại càng thấp
hơn, do đó DNVVN gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất kinh doanh và
nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
1.1.3 Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế :
Đi lên từ DNVVN chính là xu thế phát triển tất yếu của bất kỳ nền kinh tế
nào, không một công ty hay một tập đoàn lớn nào trên thế giới lại không có khởi
điểm từ quy mô vừa và nhỏ. Lịch sử đã chứng minh vai trò hết sức quan trọng của
DNVVN đối với nền kinh tế, và khu vực kinh tế vừa và nhỏ đã và đang trở thành
xương sống trong nền kinh tế của nhiều quốc gia. Thực tế đã cho thấy khu vực
DNVVN là nhân tố quan trọng thúc đẩy mở rộng cạnh tranh, đảm bảo ổn định kinh tế
và phòng chống nguy cơ khủng hoảng.
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
Ở mỗi quốc gia, các DNVVN được hoạt động trong môi trường chính sách và
pháp lý hợp lý sẽ đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Vai trò của DNVVN được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
* DNVVN đóng góp quan trọng vào GDP và quá trình tăng trưởng kinh tế:
Việc phát triển DNVVN đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh
tế, đặc biệt với các nước đang phát triển. Với một số lượng đông đảo, chiếm tỷ trọng
lớn trong nền kinh tế của các quốc gia, các DNVVN có đóng góp quan trọng vào
GDP, góp phần đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế. Ở nhiều quôc gia
trên thế giới, DNVVN thường đóng góp 25 – 33% vào giá trị GDP hàng năm. Các
DNVVN ở Việt Nam cũng đóng góp khoảng 30% GDP hàng năm, 30% giá trị sản
phẩm công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá,
100% tổng giá trị sản lượng hàng hoá ở một số ngành như: giày dép, thủ công mỹ
nghệ….
doanh nghiệp mà chủ yếu là các DNVVN được thành lập tại các vùng nông thôn ra
thành thị làm việc, đồng thời làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá – hiện đại hoá, giảm tỷ trọng nhành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công
nghiệp và dịch vụ.
* DNVVN góp phần tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động:
DNVVN có số lượng lớn, lĩnh vực hoạt động đa dạng, ở nhiều nhành nghề
khác nhau, do đó, DNVVN có khả năng tạo ra được khối lượng việc làm lớn cho xã
hội, giải quyết việc làm cho người lao động ở các vùng miền với những trình độ tay
nghề khác nhau, hạn chế tình trạng thất nghiệp, góp phần làm ổn định xã hội.
* DNVVN góp phần đảm bảo tính năng động cho nền kinh tế:
Với quy mô kinh doanh gọn nhẹ, vốn nhỏ, DNVVN trở nên năng động và linh
hoạt trước những thay đổi của thị trường, các DNVVN dễ dàng chuyển hướng kinh
doanh, thay đổi quy mô sản xuất để đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường mà ít gây
biến động lớn, ít chịu ảnh hưởng và có khả năng phục hồi nhanh sau những cuộc
khủng hoảng kinh tế trên góc độ kinh tế quốc gia. Số lượng loại hình doanh nghiệp
này gia tăng sẽ góp phần tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nền kinh tế, thúc đẩy
đổi mới công nghệ, phát triển ý tưởng và kỹ năng mới, thúc đẩy sự đầu tư giữa các
nền kinh tế trong và ngoài khu vực.
* DNVVN góp phần làm ổn định nền kinh tế:
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
Ở nhiều nền kinh tế, các DNVVN là những nhà thầu phụ cho các doanh
nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế
có được sự ổn định. Các DNVVN tham gia và quá trình sản xuất, giảm tải cho các
doanh nghiệp lớn, đẩy hiệu quả đến mức cao nhờ khả năng tập trung hoá. Điền kín
vào những khe thị trường mà các doanh nghiệp lớn còn bỏ ngỏ, sẵn sàng tham gia thế
chỗ khi có mảng thị trường được nhường lại. Vì thế DNVVN được ví như thanh
giảm sốc của nền kinh tế.
cung cấp thêm các dịch vụ: bảo lãnh, thanh toán, chuyển tiền L/C
* Rủi ro trong hoạt động cho vay đối với DNVVN
Hoạt động tín dụng luôn ẩn chứa những rủi ro. Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng
đối với các DNVVN thường có rủi ro lớn hơn so với các doanh nghiệp lớn, do
DNVVN có những hạn chế về năng lực tài chính, trình độ công nghệ và thiếu tài sản
bảo đảm. Khi cho vay các DNVVN thường là những khách hàng chưa có uy tín trên
thị trường, cố tình lừa dối ngân hàng hoặc câu kết với cán bộ ngân hàng nhằm chiếm
đoạt tài sản, các khoản vay cũng có thẻ được sử dụng không đúng mục đích, cùng với
sự lơi là trong việc kiểm tra, giám sát sau khi vay của ngân hàng có thể dẫn đến hậu
quả xấu…
Tuy nhiên, những rủi ro đó thường không có tính hệ thống và không gây ảnh
hưởng lớn mang tính đe doạ đến sự tồn tại của ngân hàng vì nó thường là những
khoản vay với quy mô nhỏ và thường có tài sản đảm bảo.
*Chi phí thẩm định các khoản cho vay đối với DNVVN
Chi phí thẩm định của một khoản cho vay đối với DNVVN được đánh giá là
tương đối cao trong tương quan với giá trị khoản vay đó. Những khoản cho vay đối
với các DNVVN thường có quy mô nhỏ, thời hạn ngắn, tuy nhiên để đảm bảo chất
lượng tín dụng, các cán bộ tín dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong quy
trình tín dụng như các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp lớn. Điều này làm cho
chi phí thẩm định trong cho vay với DNVVN cao hơn một cách tương đối so với tín
dụng đối với doanh nghiệp lớn.
1.2.3 Vai trò của cho vay ngân hàng đối với DNVVN
*Cho vay ngân hàng góp phần thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của các DNVVN
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là cung cấp một lượng giá trị trên
cơ sở lòng tin mà còn phải hoàn trả lượng giá trị đó trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc
và lãi. Vì vậy khi doanh nghiệp sử dụng vốn cho vay của ngân hàng phải cân nhắc
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và được thị trường chấp nhận. Có như vậy doanh nghiệp mới đạt chỉ tiêu tối đa hoá
lợi nhuận.
*Cho vay ngân hàng là trung gian thu hút vốn và tài trợ cho các DNVVN,
đảm bảo cho hoạt động của các DNVVN diễn ra liên tục
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, các DNVVN cần một lượng
vốn đầu tư để duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong khi nguồn
vốn chủ sở hữu của các DNVVN nhỏ và việc tiếp cận các nguồn vốn khác rất khó
khăn, thì nguồn vốn tín dụng ngân hàng thực sự là nguồn vốn quan trọng đảm bảo
cho sự hoạt đông liên tục của các DNVVN. Thực hiện vai trò của mình, tín dụng
ngân hàng đã tích cực góp phần tích cực hình thành đồng bộ hệ thống thị trường, các
yếu tố “ đầu vào” và “đầu ra” cho các DNVVN. Tín dụng ngân hàng bù đắp lượng
vốn thiếu hụt cần thiết để DNVVN mua nguyên vật liệu, vật tư hàng hoá đầu vào
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Mặt khác tín dụng ngân hàng cũng tác
động vào việc tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp thông qua việc mở rộng cho
vay tiêu dùng, cho vay bảo lãnh hay bảo lãnh để các tổ chức kinh tế, cá nhân hoạt
động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá. Tín dụng ngân hàng cũng góp phần quan
trọng trong việc cung cấp nguồn vốn để doanh nghiệp duy trì, bảo dưỡng và đổi mới
máy móc, thiết bị, đào tạo đội ngũ lao động, nâng cao trình độ quản lý nhằm đảm bảo
cho doanh nghiệp hoạt động liên tục và có hiệu quả.
*Cho vay ngân hàng góp phần tăng nguồn vốn, nâng cao khả năng cạnh
tranh của các DNVVN
Một trong những quy luật khách quan của kinh tế thị trường là cạnh tranh và
quy luật này ngày càng có ảnh hưởng quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của các doanh nghiệp, trong đó có các DNVVN. Do những đặc điểm của mình,
các DNVVN gặp không ít khó khăn trong việc phát triển thị phần, tạo niềm tin và tạo
dựng hình ảnh của mình, trong khi những doanh nghiệp lớn đã khẳng định được vị
nhất đã thoả thuận trước. Như vậy khách hàng và ngân hàng bớt được thủ tục vay
vốn, khách hàng được đáp ứng vốn kịp thời.
+ Cho vay theo HMTD: Theo cách này khách hàng được phép rút tiền thành
nhiều lần và cho tới khi hết hạn thanh toán, rất thuận lợi cho khách hàng vì mất ít thời
gian cho việc xin vay vốn nhiều lần, qua nhiều công đoạn, thủ tục, vốn vay nhanh
chóng được giải ngân, phục vụ khách hàng trong việc bổ sung hợp đồng.
+ Cho vay từng lần: Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, bổ sung thiếu hụt
tạm thời của doanh nghiệp. Mỗi khi có nhu cầu vay vốn, doanh nghiệp phải lập hồ sơ
xin vay tới ngân hàng.
+ Cho vay chiết khấu: Ngân hàng thực hiện chiết khấu, tạm chiết khấu các
thương phiếu chưa đến hạn thanh toán giúp khách hàng thu hồi vốn nhanh ngân hàng
hưởng lãi từ chênh lệch và hoa hồng phí giá thương phiếu được thanh toán, khi đến
hạn. Khi thương phiếu đến hạn trả, ngân hàng thu hồi nợ trực tiếp từ nguời mắc nợ
ghi trên thương phiếu.
*Cho vay trung và dài hạn
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
Cho vay trung hạn áp dụng cho khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Cho vay dài hạn sử dụng cho khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm. Cho vay trung -
dài hạn phục vụ mục đích mua sắm tài sản cố định, máy móc, cải tiến đổi mới. Kỹ
thuật mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, có khả năng thu hồi vốn chậm.
+ Cho vay từng lần: Khách hàng thoả thuận vói ngân hàng sẽ trả cả gốc và lãi
một lân khi đến hạn hoặc trả lãi từng kỳ, gốc trả một lần khi đến hạn…
+ Cho vay thuê mua( thường gọi là tín dụng thuê mua ): Ngân hàng cam kết
mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài
sản. Bên thuê được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản và hưởng lợi từ tài
sản đồng thời có nghĩa vụ trả tiền thuê trong suốt quá trình thuê. Hết hạn hợp đồng
tuỳ thoả thuận của hai bên mà tài sản có thể được cho thuê tiếp hoặc bán lại cho bên
sử dụng sai mục đích. Và ngược lại, nếu nguồn vốn tín dụng không đáp ứng đủ nhu
cầu sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Do vậy, đòi hỏi ngân
hàng cần có những đánh giá chính xác, những tính toán hợp lý khi đưa ra những
quyết định tín dụng sao cho khối lượng tín dụng đáp ứng nhu cầu của khách hàng
một cách hợp lý nhất.
Việc thoả mẫn tối đa nhu cầu hợp lý của khách hàng còn được xác dịnh trên
cơ sở đa dạng hoá các lĩnh vực cấp tín dụng như ngoài cho vay cầm cố, thế chấp
thông thường, ngân hàng còn có thể thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh, thuê mua hay
tài trợ xuất khẩu…
Thứ hai, mở rộng cho vay cũng có nghĩa là sự đa dạng hoá các đối tượng
khách hàng.
Điều này có nghĩa là ngân hàng không chỉ tiến hành cho vay đối với khách
hàng thuộc một thành phần kinh tế mà nguồn vốn cho vay sẽ được san sẻ cho các
khách hàng thuộc thành phần kinh tế khác nhau. Hoạt động tín dụng cũng không chỉ
bó hẹp trong phạm vi một số đối tượng nhất định, một số ngành nghề kinh doanh
nhất định mà ngân hàng có thể thực hiện việc mở rộng cho vay trên cơ sở thiết lập
mối quan hệ tín dụng với các khách hàng thuộc nhiều ngành nghề kinh doanh khách
nhau như: Nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ. vận tải, xây dựng.
Thứ ba, mở rộng cho vay đồng nghĩa với việc đa dang hoá các sản phẩm tín
dụng
Mỗi doanh nghiệp tuỳ theo đặc điểm và nhu cầu của mình cũng có những nhu
cầu khác nhau đối với nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở thiết lập nhiều hình
thức cho vay như cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo các phương thức khác
nhau như: Cho vay theo hạn mức tín dung, cho vay từng lần, cho vay theo dự án đầu
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
tư, cho vay trả góp…các doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn các hình thức phù
hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của mình.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
- Chỉ tiêu doanh số thu nợ: Doanh số thu nợ DNVVN là số tiền mà các
DNVVN đã trả cho ngân hàng trong kỳ từ các khoản vay. Chỉ tiêu này phản ánh hiệu
quả trong công tác thu nợ của ngân hàng, đồng thời cũng thể hiện tình hình kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng mở rộng cho vay đối với DNVVN.
Khả năng mở rộng cho vay của ngân hàng đối với DNVVN chịu ảnh hưởng
của rất nhiều nhân tố từ những yếu tố khách quan tới nhân tố chủ quan xuất phát từ
bản thân các ngân hàng và doanh nghiệp.
1.3.3.1 Nhân tố khách quan
*Kinh tế
Hoạt động cho vay ngân hàng vốn là lĩnh vực nhạy cảm nhất trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Mọi biến động của nền kinh tế trong nước và quốc tế đều
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động cho vay.
Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, cùng với sự ổn định của lạm phát, sự phù
hợp của chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái,…số lượng doanh nghiệp và nhu cầu
vay vốn sẽ tăng lên. Sự lạc quan, tin tưởng vào khả năng phát triển đã khiến các
doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư sản xuất, mở rộng quy mô, do vậy nhu cầu vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kỳ này là rất lớn. Ngân hàng có cơ hội lớn
để mở rộng cho vay đối với DNVVN. Ngược lại, khi giảm nhu cầu đầu tư, các
DNVVN do năng lực tài chính thấp sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề, nhiều doanh nghiệp
kinh doanh thua lỗ, phá sản, nhu cầu vay vốn giảm mạnh, quy mô tín dụng ngân hàng
sẽ bị thu hẹp.
*Chính trị, pháp luật
Môi trường chính trị ổn định luôn là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định và
phát triển của nền kinh tế nói chung, cho ngân hàng và các DNVVN nói riêng. Một
môi trường chính trị ổn định sẽ giúp cho các doanh nghiệp có môi trường kinh doanh
an toàn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và tạo nên tâm lý yên tâm
Các doanh nghiệp đều hoạt động trong các khu vực, các ngành nghề cụ thể mà
hoạt động sản xuất kinh doanh của họ dù ít hay nhiều cũng chịu sự tác động của môi
trường tự nhiên. Đối với hoạt động cho vay ngân hàng, sự biến động tiêu cực và bất
khả kháng của điều kiện tự nhiên có thể gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng khi nó
gây tổn thất nặng nề và làm mất khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn. Vì
vậy, điều kiện tự nhiên cũng có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng tín dụng và chủ
trương mở rộng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp hoạt động trong từng
khu vực từng ngành nghề cụ thể gắn vơi điều kiện tự nhiên đó.
1.3.3.2 Các nhân tố chủ quan
*Về phía ngân hàng
- Khả năng huy động vốn: Để mở rộng cho vay, ngân hàng cần đảm bảo có
nguồn vốn đầy đủ để giải ngân cho doanh nghiệp theo hợp đồng tín dụng. Mở rộng
hoạt động cho vay cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng cần chuẩn bị một lượng vốn
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
lớn hơn cho mục đích đó của mình. Cùng với đó, quy mô, thời hạn và lãi suất của
nguồn vốn huy động sẽ quyết định đến với quy mô, thời hạn và lãi suất cho vay từ đó
ảnh hưởng đến khả năng mở rộng cho vay ngân hàng đối với các DNVVN
- Chính sách tín dụng: Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM
trên thị trường tiền tệ nhu hiện nay thì một chính sách tín dụng linh hoạt là hết sức
quan trọng. Nó giúp ngân hàng đáp ứng được nhu cầu đa dạng về vốn của các loại
hình doanh nghiệp từ đó thực hiện thành công mục tiêu mở rộng và nâng cao hiệu quả
tín dụng
- Quy trình tín dụng: Một quy trình tín dụng từ khi tiếp cận khách hàng đến khi
giải ngân và thu hồi nợ là một quá trình thẩm định thận trọng, kỹ càng và quản lý món
vay chặt chẽ và có thời gian. Vì vậy quá trình tín dụng khép kín, thủ tục đơn giản, chặt
chẽ, không quá nhiều phiền hà, và linh hoạt với từng đối tượng khách hàng sẽ là yếu tố
quan trọng góp phần thu hút khách hàng mở rộng cho vay và nâng cao chất lượng tín
đảm bảo cho hoạt động tín dụng, tránh rủi ro, mang lại hiệu quả. Không những vậy,
thông qua kiểm tra, kiểm soát nội bộ, ngân hàng sẽ phát hiện những sai phạm yếu
kém trong hoạt động tín dụng để có biện pháp xử lý, chỉnh sửa, uốn nắn kịp thời tạo
điều kiện mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng.
*Về phía DNVVN
-Sự hiểu biết của DNVVN về ngân hàng: DNVVN muốn tiếp cận nguồn vốn thì
trước hết phải tìm hiểu về ngân hàng như: mục tiêu, các nguyên tắc hoạt động của ngân
hàng, các dịch vụ ngân hàng cung cấp, quy trình và thủ tục tín dụng. Từ đó, doanh
nghiệp sẽ chuẩn bị những điều kiện cần thiết theo yêu cầu ngân hàng để có thể vay vốn
và tiết kiệm thời gian làm thủ tục vay vốn vì các cán bộ tín dụng không phải giới thiệu và
hướng dẫn lại cho khách hàng. Bên cạnh đó, việc doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ của
ngân hàng sẽ giúp cho việc thiết lập mối quan hệ tín dụng.
-Trình độ và năng lực quản lý: Trình độ và năng lực quản lý của doanh nghiệp
quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh, đến khả năng xây dựng các phương án
sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư – điều kiện quan trọng trong việc tiếp cận nguồn
vốn tín dụng ngân hàng.
-Việc thực hiện các chế độ và nguyên lý kế toán, kiểm toán sẽ đảm bảo sự
chính xác, sự đầy đủ của các số liệu, đảm bảo tính minh bạch của các báo cáo tài
chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, từ đó ảnh hưởng tới công tác thẩm định
của cán bộ tín dụng, đồng thời cũng ảnh hưởng đến sự tín nhiệm của ngân hàng đối
với doanh nghiệp.
-Thiện chí và tính trung thực của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin,
sử dụng vốn vay và hoàn trả vốn. Thiện chí và tính trung thực của doanh nghiệp
trong việc cung cấp thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng trong công tác
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
thẩm định và giám sát khoản vay, giúp cho việc thiết lập quan hệ tín dụng giữa ngân
hàng và doanh nghiệp trở nên thuận lợi hơn, đặc biệt trong điều kiện nguồn thông tin
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thị Bích Điệp Chuyên đề tốt nghiệp
luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
Trong chiến lược phát triển của NHNo & PTNT Việt Nam giai đoạn 2001 –
2010, mục tiêu quan trọng nhất là huy động được nguồn vốn dồi dào phục vụ cho
phát triển nông nghiệp nông thôn. Để thực hiện mục tiêu này trung tâm điều hành
quyết định thành lập một số chi nhánh lớn ở các thành phố lớn, nhằm thu hút vốn,
chiếm lĩnh thị phần và phục vụ cho các doanh nghiệp chế biến nông sản ở thành thị.
Các chi nhánh này sẽ được tổ chức theo mô hình hiện đại trên thế giới, được trang bị
công nghệ tiên tiến để có thể cạnh tranh trong địa bàn hoạt động của mình.
Chi nhánh NHNo & PTNT Nam Hà nội ra đời theo chủ trương trên của trung
tâm điều hành và được xếp là chi nhánh cấp I loại 2 trong hệ thống NHNo & PTNT
Việt nam. Chi nhánh được thành lập ngày 12/03/2001 chính thức đi vào hoạt động
ngày 08/05/2001 theo đề án phát triển kinh doanh trên đô thị loại I. Chi nhánh có trụ
sở tại toà nhà 11 tầng, C3 Phương Liệt, Giải phóng, Thanh Xuân - Hà nội. Số vốn
được cấp là 129 tỷ, với tổng số cán bộ công nhân viên là 36 cán bộ từ khắp nơi trong
hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp chuyển về. Theo đề án khi thành lập thì Chi nhánh
sẽ được bao cấp 2 năm đầu và đến năm thứ 3 sẽ nhận khoán trực tiếp từ NHNo &
PTNT Việt nam, nhưng sau 8 tháng hoạt động chi nhánh đã có những kết quả tốt và
chi nhánh đã nhận khoán với TW ngay từ năm 2002. Sau gần 9 năm hoạt động, trên
địa bàn thành phố với sự canh tranh gay gắt của hệ thống các ngân hàng thương mại,
đến nay Chi nhánh đã tạo dựng được một nền tảng kinh doanh ổn định, vững chắc
với màng lưới giao dịch gồm 7 phòng nghiệp vụ tại Hội sở và 10 phòng giao dịch tại
những vị trí thuận lợi, khang trang. Đến 31/12/2009 tổng số còn bộ công nhân viên
chi nhánh là 152 người.
Phương châm hoạt động của ngân hàng là gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả và an
toàn. Chính phương châm này đã giúp chi nhánh Nam Hà nội tự hoàn thiện mình,
tiếp thu thực tế, trau dồi kinh nghiệm, hoạt động sáng tạo, dám nghĩ dám làm để kinh
doanh có lãi.
KHTH
Phòng
DV&
MKT
Phòng
KNTQ
Phòng
Tín
Dụng
Phòng
TTQT
Giám
đốc
Phó
Giám Đốc
Phó
Giám Đốc
Phó
Giám Đốc
PGD
GIảng
Võ
PGD
Số 1
PGD
Số 2
PGD
Số 3
PGD
Khâm
đặc trưng cơ bản là “ đi vay để cho vay ” do đó nguồn vốn huy động hay còn gọi là
đầu vào của ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, là điều kiện tiên quyết cho hoạt động
của ngân hàng. Nhận thức được tầm quan trọng đó, NHNo & PTNT – Chi nhánh
Nam Hà nội luôn coi trọng công tác huy động vốn dưới mọi hình thức, để đảm bảo
quy mô nguồn vốn, tiếp tục tăng trưởng nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Ta có thể thấy rõ hơn ở bảng sau:
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại NH No Nam Hà nội trong 2 năm 2008 – 2009:
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009
Chênh
lệch 09/08
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền %
Tổng NV huy động 6,994 100 6,243 100 -751 -0,11
1. Theo đối tượng
-Dân cư 3,515 50,26 3,427 54,89 -88 -0,03
Khoa Ngân hàng Lớp NHG - CD24
25