Soạn bài ôn tập phần tập làm văn
Câu 1. Tập làm văn trong chương trình ngữ văn 9 có hai nội dung chính đã được học ở các lớp
trước nhưng được lặp lại và nâng cao cả kiến thức và kỹ năng:
a. Văn bản thuyết minh:
Trọng tâm: Luyện tập kết hợp thuyết minh với các phương thức khác như thuyết minh về kết hợp với lập
luận giải thích, thuyết minh kết hợp với miêu tả.
b. Văn bản tự sự:
Trọng tâm:
- Tự sự kết hợp với biểu cảm và miêu tả nội tâm; tự sự kết hợp với lập luận.
- Một số nội dung mơi trong văn bản tự sự: Đối thoại và độc thoại nội tâm trong văn tự sự. Người kể chuyện
và vai trò của người kể chuyện trong văn tự sự.
Câu 2. Vị trí, vai trò, tác dụng của giải thích và miêu tả trong văn bản thuyết minh.
Trong thuyết minh nhiều khi người ta phải giải thích để làm rõ sự vật cần giải thích, nhất là khi gặp các thuật
ngữ, các khái niệm chuyên môn hoặc nhưng nội dung trừu tượng và đương nhiên và cũng phải vận dụng
miêu tả để người nghe hình dung ra đối tượng. Yêu cầu giải thích và miêu tả là không thể thiếu trong văn
thuyết minh.
Ví dụ thuyết minh về ngôi chùa cỗ.
- Giải thích kết cấu, những đặc điểm kiến trúc, hoặc giải thích khái niệm nào đó trong quan niệm của nhà
Phật thể hiện ở cấu trúc ngôi chùa.
- Miêu tả để người nghe hình dung ra dáng vẻ, màu sắc, không gian hình khối, cảnh vật chung quanh ngôi
chùa.
Câu 3. Sự giống nhau giữa giải thích, thuyết minh và miêu tả.
- Giống nhau: Cùng làm cho người khác hiểu rõ về đối tượng.
- Khác nhau:
+ Thuyết minh: trung thành với đối tượng, đảm bảo tính khách quan khoa học, ít dùng tu từ, dùng nhiều số
liệu cụ thể chi tiết, ứng dụng nhiều trong cuộc sống, mang một ý nghĩa.
+ Miêu tả: Không nhất thiết phải trung thành với sự thật, dùng nhiều biện pháp tu từ, ít dùng số liệu cụ thể
chi tiết, mang cảm xúc chủ quan, dùng nhiều trong sáng tác văn chương nghệ thuật, mang tính đa nghĩa.
+ Giải thích: Làm cho người khác hiểu rõ nguồn gốc, nguyên nhân, tư tưởng đạo lý, đặc điểm của đối tượng,
mang tính khoa học, rõ ràng, chính xác, thường dùng cách nêu định nghĩa, kể ra các biểu hiện, so sánh đối
chiếu với các hiện tượng khác, chỉ ra mặt lợi mặt hại, nhằm nêu ra cách đề phòng hoặc noi theo.
Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản đổi ngay. Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi.
Về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ…
Nước mắt ông lão giàn ra. Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây. Ông lão nghĩ ngay đến mầy
thằng kì lí chuyên môn khue khoét ngày trước lại ra vào hống hách ở trong cái đình. Và cái đình lại như của
riêng chúng nó, lại thâm nghiêm ghê gớm, chứa toàn những sự ức hiếp, đè nén. Ngày ngày chúng đóng ra,
đóng vào, đánh tổ tôm mà bàn tư việc làng với nhau trong ấy. Những hạng khổ rách áo ôm như ông có đi
qua cũng chỉ dám liếc trộm vào, rồi cắm đầu xuống mà lủi đi. Anh nào ho he, hóc hách một tí thì chúng nó
tìm hết cách này đến cách khác để hại, cắt phần ruojojng, truất ngôi, trừ ngoại, tóng ra khỏi làng…
Ông Hai nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời đen tối, lầm than cũ nổi lên trong ý nghĩ của ông. Ông không thể về
cái làng ấy được nữa. Về bây giờ ra ông chịu mất hết à ?
Không thể được ! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù ».
(Kim Lân – trích Làng)
- Đoạn tự sự có lập luận
« Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các người đã biêt chưa ? Trong khoảng vũ trụ, đất
nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc
không phải nòi giống của nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc
của nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời
Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời
Minh có Lê Thái Tổ, các Ngài không nỡ ngồi nhìn chung làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy
nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam
riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ
như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước nay
người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống,
Nguyên, Minh ngày xưa vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri,
lương năng hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để làm nên công lớn. Chớ có quen thói cũ ăn ở hai lòng, nếu
việc phát giác ra, sẽ bị chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo ta không nói trước ».
(Ngô Gia Văn Phái – trích Hoàng Lê nhất thống chí).
- Đoạn tự sự có miêu tả nội tâm và lập luận :
bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát!
Ông Hai cúi gặm mặt xuống mà đi! Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà.
Về đến nhà, ông Hai nằm vật gia gường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác len lét đưa nhau ra đầu
nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.
Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làm Việt gian đấy ư? Chúng nó
cũng bị người ta hắt hủi rẻ rung đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu? … Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít
lên:
- Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái going Việt gian bán nước để nhục nhã thế
này.
Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đổ đốn đến
thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã
ở lại làng, quyết tâm một sống, một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy!”
(Kim Lân – trích Làng)