I. Đặt vấn đề
Văn học Việt Nam trải qua các thời đại khác nhau của lịch sử dân tộc đã thể hiện sự trưởng thành và phát triển không
ngừng qua những thành tựu to lớn đã đạt được.
Tuy nhiên mỗi một nền văn học vận động và phát triển không chỉ ở những tác động của bối cảnh lịch sử, văn hóa, chính
trị, xã hội hay sự giao thoa giữa các trào lưu văn học trong nước mà còn ở việc giao lưu, tiếp thu văn học nước ngoài.
Nếu như văn học trung đại Việt Nam tiếp thu nhiều thành tựu từ văn học Trung Quốc ở nhiều thể loại thì văn học hiện
đại Việt Nam lại tiếp thu nhiều thành tựu của văn học phương Tây để làm mới nền văn học dân tộc và đáp ứng nhu cầu
của thời đại.
Và vấn đề giao lưu của văn học Việt Nam với văn học phương Tây là vấn đề về nhiệm vụ hiện đại hóa nền văn học nước
nhà đồng thời với yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng con người trong suốt thế kỉ XX. Trước yêu cầu đặt ra, nhiều
văn nghệ sĩ của Việt Nam đã tiếp thu văn học phương Tây nói chung và văn học Pháp nói riêng ở cả hai diện nội dung và
hình thức. Và Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn đã có công lớn trong việc góp phần đổi mới và làm giàu cho
văn học Việt Nam qua việc tiếp thu những thành tựu của văn học Pháp, đặc biệt ở thể loại tiểu thuyết. Ông đã góp phần
hình thành tiểu thuyết Việt Nam trên chặng đường phôi thai bằng cách phóng tác các tác phẩm của văn học Pháp,
phương Tây để thể hiện nội dung mới về đời sống xã hội Việt Nam trên con đường vận động và biến đổi.
Trong số những sáng tác có tiếp thu văn học phương Tây của Hồ Biểu Chánh, có sự gặp gỡ về tư tưởng giữa nhà văn với
thiên tài tiểu thuyết Pháp Vichto Huygo. Điều đó thể hiện qua những giao điểm chung của hai tác phẩm “Những người
khốn khổ” và “ Ngọn cỏ gió đùa” đã tạo ra sự đặc trưng riêng trong cách thể hiện của mình. Ông không “ chuyển dịch”
tác phẩm của Vichto Huygo như bao tác giả khác đã làm mà biến nó thành cái riêng để thể hiện cuộc sống và con người
vùng đất Nam Bộ. Và cái riêng ấy của Hồ Biểu Chánh sẽ được thể hiện rõ trong thế so sánh với Vichto Huygo ở chủ đề
tư tưởng của hai tác phẩm “Những người khốn khổ” và “ Ngọn cỏ gió đùa”.
II. Giải quyết vấn đề
1. Sơ lược về hai tác giả:
Là nhà văn lãng mạn tiến bộ của Pháp, Hugo (1802-1885) xuất thân trong một gia đình quý tộc. Ông sống trong thời
đạivcách mạng tư sản 1789 đã thành công nhưng thế lực tàn dư của chế độ phong kiến vẫn còn đè nặng. Vì thế bản than
V. Huyo thời thơ ấu phải chịu những giằng xé do mâu thuẫn trong tư tưởng giữa cha và mẹ. Cha ông là một tướng lĩnh
cách mạng nhưng mẹ ông lại là một người mang nặng tư tưởng bảo hoàng. Tuy nhiên nét nổi bật trong cuộc đời của V.
Huygo là sự chuyển biến tư tưởng từ “ Bóng tối đến ánh sáng”. Cùng với các phong trào cách mạng diễn ra sôi động ở
Pháp cuối thế kỉ XIX, V. Huygo đã nhận thức được ánh sáng cách mạng và từ bỏ tư tưởng bảo hoàng.
Là người có trí thông minh và năng khiếu đặc biệt, Huy go là thiên tài nở sớm và soi sáng của Pháp và thế giới. Những
sáng tác của ông mang khuynh hướng lãng mạn độc đáo và cảm hứng nhân văn sâu sắc. Vì thế ông được xem là “hiện
Những người khốn khổ” đã ghi lại hiện thực xã hội Pháp vào khoảng năm 1830, phản ánh xã hội tàn bạo, đen tối qua
việc khắc họa những nhân vật phản diện như: Gia- ve, Tê-nac- đi- ê…Tác phẩm khắc họa đậm nét tình trạng cùng khổ
của người dân lao động với hoàn cảnh thương tâm của một người khổ sai, một người mẹ mất con, một đứa trẻ ở đợ cho
nhà giàu. Tuy nhiên tác phẩm không mang màu đen của lớp mây mù che phủ tất cả mà còn lại ánh sáng rạng rỡ với
những con người hiện lên chói ngời lí tưởng cách mạng. Và ánh sáng đó còn là ánh sáng sống dậy của Paris trong những
ngày cách mạng 1832.
Cũng mang cảm hứng nhân văn nhưng tác phẩm “Ngọn cỏ gió đùa” của Hồ Biểu Chánh lại ra đời trong một bối cảnh
khác. Đó là bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XIX thời vua Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức. Trong bối cảnh đó,
những mâu thuẫn nội bộ trong tầng lớp quan lại về lí tưởng trung quân lại nổi lên. Trong tác phẩm, cuộc khởi nghĩa của
Lê Văn Khôi tiêu biểu cho lí tưởng trung quân tức là chỉ trung khi vua biết trọng nghĩa của bầy tôi. Cuộc khởi nghĩa
không chỉ khẳng định cái lí của người dân biết trọng chữ nghĩa mà nó còn là sợi dây liên kết cuộc đời của các nhân vật
chính trong truyện. Đó là cuộc khởi nghĩa nổi dậy được Hồ Biểu Chánh ủng hộ đề cao.
Nhà văn Hồ Biểu Chánh viết “ Ngọn cỏ gió đùa” dựa trên cốt truyện “Những người khốn khổ” của V. Huygo nhưng cả
câu chuyện từ khung cảnh lịch sử cho đến tâm lí nhân vật, tư tưởng của nhà văn đều mang những nét rất riêng của Việt
Nam. Tác giả đã dành năm năm để dựng “ Ngọn cỏ gió đùa” để đến năm 1926 mới hoàn thành, tác phẩm được đánh giá
cao và đồ sộ nhất đương thời.
Nếu như “ Những người khốn khổ” mang bức tranh đời sống thành thị thì “Ngọn cỏ gió đùa” phác họa bức tranh đời
sống nông thôn của xã hội Việt Nam cũ trước thời kì Pháp thuộc. Và tiêu biểu trong bức tranh đó là Lê Văn Đó- một
nông dân nghèo với không ít những thăng trầm, chông gai của cuộc đời nhưng vẫn chói ngời một nhân cách cao đẹp, trái
tim chan chứa yêu thương.
III. So sánh tiểu thuyết “ Những người khốn khổ” của V. Huygo và “ Ngọn cỏ gió đùa” của Hồ Biểu Chánh về
mặt chủ đề tư tưởng.
1. Về tư tưởng tôn giáo
Vùng đất phương Tây, văn hóa phương Tây ở lĩnh vực tôn giáo mang nét đặc thù về Thiên Chúa giáo. Và “ Những
người khốn khổ” ra đời như là một bản anh hùng ca về đạo nhân của Thiên Chúa giáo, đặc biệt là Ki tô giáo. Tác giả thể
hiện điều đó gần như trọn vẹn thông qua hình ảnh, cuộc đời của giám mục Myrien. Và nhà văn đã dành trọn cả một
quyển ( quyển 1) để ca tụng đạo đức sáng ngời của vị đức giám mục này. Hình ảnh đức độ của giám mục Myrien được
thể hiện tập trung nhất và rõ nhất qua cách đối xử của ông với Giăng Van- giăng. Khi Giăng Van- giăng xuất hiện với bộ
dạng “xốc xếch”, tất cả mọi người nơi thành phố D đều miệt thị, xem thường không thèm tiếp đón mặc dù ông vẫn có
tiền để thuê chỗ trọ, ăn ngủ của mình. Ông chủ quán trọ mang bảng hiệu Croix- de- colbas “ ngạo nghễ nhìn ông với vẻ
và bình tích mà vẫn được hòa thượng cứu thoát. Đồng thời, những hành động, nghĩa cử của hòa thượng đối với Lê Văn
Đó, những lời hòa thượng dạy dỗ hai sa di Thiện thanh và Giác thế đã cho thấy được sự thể hiện rõ nét tư tưởng từ bi bác
ái, độ lượng của nhà Phật: "Cửa Phật phải mở ộng cho mọi người, dầu người hung dữ đến đây cũng phải chứa, chẳng
luận là kẻ đói lạnh. Ðạo chẳng nên nghi quấy cho người ta mà tổn công đức”. Và đây chính là ý đồ xây dựng của Hồ
Biểu Chánh. Nhà văn mượn triết lí Phật giáo để thể hiện ước muốn cải tạo xã hội bằng con đường tinh thần, thức tỉnh
con người bằng tình thương, sự độ lượng đó mới là sức mạnh to lớn.
Không dừng lại ở đó, tác phẩm còn thể hiện giá trị của tư tưởng tôn giáo qua những tư tưởng Nho giáo. Những giáo lí cơ
bản của Khổng Mạnh được Hồ Biểu Chánh đưa vào thể hiện nhân vật của mình. Đó là sự thể hiện đạo hiếu trong nhân
vật Ánh Nguyệt và đặc biệt là nét đẹp trong tiết hạnh của người phụ nữ phương Đông. Hay những quan điểm, tư tưởng
rõ ràng của những bậc quân tử như Thể Phụng, một người trai trẻ nhưng đầy nghĩa khí, đầy lí tưởng cao đẹp. Ở chàng
thể hiện chữ hiếu rất rõ. Thể Phụng phẫn nộ, uất ức vì ông ngoại đã đối xử bạc với cha mẹ chàng, chia cắt tình phụ tử
khiến chàng cứ tưởng cha mình đã chết. Thế nhưng, Thể Phụng vẫn giữ được chữ “ lễ ” của một con người là phận con
cháu, không giám cãi lời ông ngoại.
Như vậy, cả V. Huygo và Hồ Biểu Chánh đều mang tư tưởng tôn giáo vào tác phẩm để gửi gắm những thông điệp đến
người đọc. Thế nhưng, mỗi nhà văn lại có cách thể hiện riêng theo những nét đặc thù của mỗi nền văn hóa. Từ đó, ta
thấy Hồ Biểu Chánh đã xây dựng nên những hình tượng kì vĩ của con người nổi bật với tư tưởng của thời đại Việt Nam.
2. Về tư tưởng nhân văn
2.1 Ngợi ca lí tưởng của con người thời đại
Nếu như trong “ Những người khốn khổ”, V. Huygo ca ngợi những con người mang lí tưởng cao đẹp của thời đại cách
mạng dân chủ nhân quyền thì trong “ Ngọn cỏ gió đùa”, Hồ Biểu Chánh cũng ca ngợi lí tưởng của con người thời đại
khởi nghĩa nông dân chống phong kiến. Với “ Những người khốn khổ ”, V. Huygo đã trình bày sự đối lập giữa hai ý thức
hệ quân chủ và bảo hoàng trên cơ sở những tranh luận, mâu thuẫn ngay trong nội bộ gia đình giữa ông ngoại
Gileonomand, một đại trưởng giả đại diện cho tư tưởng bảo hoàng và người cháu ngoại Marius trung thành với lí tưởng
cộng hòa của cha mình là đại tá Ponmercy. Marius cùng những người bạn của mình sẵn sàng ra chiến lũy, chấp nhận
nguy hiểm để chiến đấu cho lí tưởng cao cả của thời đại. Marius vì theo đuổi lí tưởng đó và quan điểm tự do của mình
mà bị gia đình xa lánh. Hình ảnh Marius sáng ngời trên chiến lũy cùng những người bạn cùng là sinh viên với mình.
Không chỉ vậy, nổi bật lên lí tưởng cao đẹp ấy chứa đựng cả sự hi sinh vì tình yêu thương. Đó là sự hi sinh của Eponinh
con giá của Tenacdie. Vì yêu thầm Marius, vì sức mạnh của tình yêu khiến cô dũng cảm đúng vào hàng ngũ khởi nghĩa
trước hết là bảo vệ cho Marius và để chiến đấu cho lí tưởng mà Marius đã theo đuổi. Và cũng vì những lẽ đó, cô gái
Eponine đã chết hạnh phúc trên tay Marius sau khi hứng viên đạn thay cho anh. Ta thấy nhà văn không chỉ ngợi ca,
chỉ là cành củi khô, sau thì thành khúc gỗ cháy ”,“ Lúc vào tù anh run sợ, khóc lóc, đến khi ra thành người thản nhiên,
trơ như đá. Lúc vào lòng anh đau khổ, tuyệt vọng, bây giờ trở ra lòng anh đen tối, hung dữ ”. Chỉ muốn trả thù cuộc đời
và những bất công mà anh đã gánh chịu một cách vô lí. Sự thay đổi trong con người Giăng Van- giăng lúc ra tù chung
quy chỉ vì muốn trả thù, muốn dành lại công lí cho mọi người chứ không riêng bản thân mình. Với Giăng Van- giăng,
bước ngoặc quan trọng nhất đồng thời là cái duyên lớn nhất trong cuộc đời của anh đó chính là được gặp và được sự cảm
hóa của đức giám mục Myriel. Giám mục đã trân trọng lấy anh và tiếp thêm sức mạnh cho anh để anh có thể chiến đấu
dành lại công lí và cuộc sống tốt hơn cho những người khôn khổ. Nhờ Myriel mà anh không còn chiến đấu lòng căm thù
sôi sục nữa mà chiến đấu bằng cả trái tim nhân ái và tấm lòng yêu thương bao la của mình. Khi trở thành một thị trưởng
giàu có,Giăng van giăng không đè nén, không áp bức một một ai mà chỉ tìm cách cứu giúp những người khốn khổ, đem
lại công việc làm cho nhà người dân trong vùng. Ông chỉ chăm lo cho đời sống của họ bằng cách quyên tiền cho nhà
thương thêm giường bệnh, xây dựng trường học mới. Vì thế khắp vùng “ không còn cảnh thất nghiệp, nghèo đói nữa.
Không có cái túi áo xấu xí nào là không xủng xoảng ít tiền, không có nhà tranh tồi tàn nào không có tiếng cười vui.
Không chỉ vậy, Giăng Van- giăng vượt lên trên mọi nguy hiểm không chỉ để tự cứu thoát mình mà còn để thực hiện lời
hứa với người đã khuất, để cứu vớt một kẻ vô tội bị hàm oan, để mang đến hạnh phúc cho Codet. Chính vì luôn nghĩ vì
người khác, Giăng Van- giăng phải luôn dằn vặt đấu tranh nội tâm giữa việc đầu thú hay không đầu thú. Và điều đó
không vì an nguy của cảm nghĩ, giằng xé trong một đêm mà đầu đã bạc trắng với chân lí: “ cái lối để mặc cho số phận và
người đời nhầm lẫn, không ngăn cản nó lại, yên lặng để phụ họa với nó, không làm gì cả, tức là mình đã làm tất cả đấy !
Đó là một việc gian sảo đê mạt nhất ! Đó là một tội ác khốn nạn, hèn hạ, hiểm độc, đáng khinh, đáng tởm !”
Rồi Giăng Van- giăng chấp nhận kiếp độc thân để cưu mang, nuôi nấng Codet, và vun đắp hạnh phúc cho Codet với
Marius. Ông đã vượt qua sự ích kỉ của lòng mình cứu lấy Marius bị thương trên chiến lũy. Tất cả đã cho thấy, Giăng
Van- giăng hiện ra như một vị cứu tinh, một đấng cứu thế với “ đạo đức phi thường, cao cao cả mà hiền từ, mênh mông
mà khiêm tốn” và cả với những hi sinh “quên mình với những nổi đau khổ rất trần thế ”.
Với “ Ngọn cỏ gió đùa”, Hồ Biểu Chánh xây dựng Lê Văn Đó tương tự như Giăng Van- giăng. Con đường Lê Văn Đó
hoàn thiện mình cũng giống như Giăng Van- giăng. Sau khi ra tù nhờ nghĩa cử của hòa thượng Chánh Tâm. Lê Văn Đó
dùng năm nén bạc để lập thân, đổi tên mình thành Trần Chánh Tâm, phá rừng làm ruộng, thành một điền chủ giàu có có
nhân nghĩa, thương xót giúp đỡ mọi người, lập nhà tế bần, dưỡng lão, viện mồ côi… Gặp khi có loạn Lê Văn Khôi,
Chánh Tâm, vì có công nuôi lính nhà vua trong ba năm, để bao vây thành Gia Định. Dẹp xong loạn, Chánh Tâm tiếp tục
đoạn đời sống từ bi hỷ xả lấy của giúp người. Nhưng rồi lại chỉ vì thương người, nghĩ cho người khác ông đã từ bỏ tất cả
những gì mình đang có thể thú nhận mình Lê Văn Đó cứu Nguyễn Tư Vành đang bị tình nghi là mình. Lê Văn Đó một
lần nữa phải mất hết của cải và lại phải lâm cảnh tù tội như xưa, lưu đài biệt xứ. Lê Văn Đó không chịu cam tâm tù tội
Phăng tin.
Tuy số phận cay đắng và bị đày đọa, nhưng Phăngtin lại có một tinh thần chịu đựng, hi sinh và ban phát vô cùng cao cả
giống như Đức Mẹ. Bao nhiêu tình yêu trong cuộc đời, Phăng tin dồn cả vào Cô dét, chị sẵn sàng hi sinh tất cả cho con
mình. Để có tiền lo cho Cô dét, chị đã phải chấp nhận từ bỏ mọi thú vui khác, sống một cuộc sống kham khổ “Mùa đông
Phăng tin tập bỏ hẳn lò sưởi. Phăng tin dứt được với con chim nuôi chơi… chị học cách lấy váy làm chăn và lấy chăn
làm váy, cách ghé cửa sổ để ăn cơm dưới ánh đèn hàng xóm cho đỡ tốn nến nhà mình”. Chị phải làm việc cật lực, vắt
kiệt sức lao động của mình, “cứ ngày ngủ năm giờ, còn thì ngồi mà khâu may” với cái giá mười hai xu một ngày chẳng
thể đủ mà mua cơm ăn. Phăngtin chẳng hề nghĩ đến bản thân mà chỉ lo lắng cho con, mỗi lần vợ chồng Tênácđiê viện cớ
đòi tiền nuôi Cô dét chị lại phải tất tả kiếm tiền bằng mọi cách gửi cho chúng. Vì con, chị chấp nhận bán răng, bán tóc là
hai tài sản quý giá của mình, không có việc gì chị không dám làm để cho con được sung sướng. Cái quý giá nhất của
người phụ nữ là nhân phẩm và danh dự thì Phăng tin cũng không ngần ngại bán đi, chấp nhận làm “gái điếm” để có tiền
nuôi con. Khi còn hạnh phúc, sung sướng, nàng rất xinh đẹp với "vàng xếp trên mái tóc, ngọc giắt ở sau môi" nhưng một
khi lâm vào bước đường cùng thì vẻ đẹp ấy không còn nữa. Lúc đó, nàng chỉ còn là một cô gái điếm đầu trọc lóc với
"tiếng chửi rủa khàn khàn vì rượu văng ra từ một cái mồm đen ngòm thiếu hai cái răng". Và một kết thúc tất yếu là
Fantine phải chết, nàng đã quá kiệt sức vì nỗi đau khổ đè nặng cuộc đời mình, thêm vào đó là sự vất vả kiếm sống, bệnh
tật liên miên. Cuộc đời đầy đau khổ của chị tạo nên một ám ảnh xoáy sâu trên từng trang giấy, những câu văn viết về chị
như có máu chảy ở đầu ngọn bút khiến người đọc không khỏi rơi lệ. Trong con người Phăng tin mang hai vẻ đẹp lớn
nhất là tình yêu thủy chung và tình mẫu tử thì đi liền với nó là hai nỗi bất hạnh: bị người tình phụ bạc và phải xa con, yêu
con tha thiết nhưng cho đến chết cũng không được nhìn thấy mặt con.
Nhưng với Ánh Nguyệt thì lại khác, nàng xuất thân trong một gia đình Nho học, được dạy dỗ đàng hoàng, biết lễ nghi
phép tắc. Đặc biệt là chữ “ trinh tiết” của người phụ nữ, Ánh Nguyệt là một người con rất hiếu thảo, lo tiền cho cha đi
thi, rồi hay tin cha bệnh thì lập tức đi tìm, nhưng khi đến nơi thì cha đã qua đời lại bị vợ chồng Đỗ Cẩm đòi tiền, không
tiền trả nàng bị giải lên quan. Tại đây quan Huyện chỉ lo tìm cách dụ dỗ con gái nhà lành, mưu toan chiếm đoạt Ánh
Nguyệt, giữa lúc nàng đang rơi vào tình cảnh bế tắc.Nnhưng Ánh Nguyệt thì quyết giữ gìn tiết hạnh của mình. Để rồi
cuối cùng nàng bị xử phải đi ở cố công cho vợ chồng Đỗ Cẩm để trả nợ. Thời gian ở nhà Đỗ Cẩm nàng gặp Từ Hải Yếnmột kẻ đạo đức giả, nhiều lần gấp tâm muốn chiếm đoạt nàng. Và lại vì chữ Hiếu, đạo làm con nàng trì hoãn hôn nhân
với Hải Yến khi chưa hết tang cha.
Cứ ngỡ là hạnh phúc đã đến với Ánh Nguyệt khi làm vợ Hải Yến. Chỉ sống được một năm khi Hải Yến thi đỗ cử nhân
thì hắn quay lưng với Ánh Nguyệt, nói là về quê “vinh quy bái tổ” rồi trở lên rước nàng, nhưng thật chất hắn không có ý
định như thế. Hắn đi để lại cho Ánh Nguyệt năm nén bạc, trong khi đó nàng đang mang thai ba tháng. Mòn mỏi chờ đợi,
cuối cùng thì nàng biết được tin Hải Yến phụ bạc, thấy phận mình sao trớ trêu quá, muốn chết cho rồi, nhưng vì thương
Có khi trong bùn thối nhưng đầu anh vươn lên trong ánh sáng”.
Đại diện cho một thế hệ trẻ tiến bộ, Mariuýt là con người sống đầy nhiệt huyết, đam mê, cống hiến hết mình cho lí tưởng
tuy có những lúc lí tưởng của anh còn rất mơ hồ, chưa rõ ràng. Những năm tháng sống ở Paris, Mariuýt thường xuyên
gặp gỡ hội những người bạn trong nhóm ABC, nghe họ trò chuyện, thuyết trình để mở mang đầu óc. Anh biết đón nhận
cái mới một cách nhanh nhạy để tự thay đổi bản thân. Ban đầu, anh cho rằng khởi nghĩa là một cuộc nội chiến huynh đệ
tương tàn nên không muốn tham gia. Sau này, khi nghĩ về nhân loại, nghĩ đến những người bạn của mình, anh lại thấy đó
là việc vẻ vang và tham gia nhiệt tình. Chính vì thế mà sau này, Mariuýt sẽ trở thành người bảo vệ cho luật pháp tư sản
khi nó còn tiến bộ. và cũng chính là người mang lại hạnh phúc cho Codet.
Nhân vật Thể Phụng trong “Ngọn cỏ gió đùa” cũng mang dáng dấp như Mariut, là một thanh niên tiến bộ có lí tưởng.
Tuy sống với ông ngoại Đàm Tự Chấn mang tư tưởng phong kiến, trung quân một cách cứng nhắc và phản đối việc
nghĩa sĩ làm cách mạng trong cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi nhưng anh không hề tiêm nhiễm tư tưởng đó mà có nhận
thức đúng dắn lí tưởng của thời đại. Ban đầu anh chưa biết việc làm vì nghĩa của cha, nhưng sau rành rõ mọi việc anh
thương cha vô cùng. “Thể-Phụng biết được tâm chí của cha, hiểu được tâm sự của cha, thì kính phục hết sức, quyết ở
luôn nơi đây mà nuôi dưỡng cha, không chịu trở về nhà ông ngoại nữa. Thể-Hùng khuyên giải con, biểu trở về, bởi vì
nếu bạc ông ngoại, ông giận ông từ, thì ngày sau mất ăn gia tài. Thể-Phụng đáp rằng: "Cha tưởng gia tài đó quí cho bằng
cha hay sao. Con không màng đâu. Thử đem 10 cái gia tài như vậy mà đổi cha, coi con có thèm hay không mà!"
… “ Thưa, cháu có lòng dạ nào mà hưởng gia tài đó. Cháu nghĩ cháu oán cái gia tài đó lắm, vì nó mà cha cháu phải chịu
thương thầm thăm trộm cháu mười mấy năm nay, vì nó mà cháu chịu thất hiếu với cha, vì nó mà cha cháu chết không
thấy mặt cháu được. Gia tài như vậy mà cháu hưởng sao đành!”
Thể phụng hiếu thảo như vậy mà khi cha chết anh không được gặp mặt cha lần cuối, anh đau khổ rất nhiều và xung đột
với ông ngoại. Ông Đàm Tự Chấn tức giận đuổi Thể Phụng đi. “Ông Ðàm-tự-Chấn đã giận, mà thấy cháu vô lễ và
nghịch ý, thì ông càng giận thêm nữa, nên ông giựt cây chổi để trên ván rồi rượt mà đập lên đầu Thể-Phụng và mắng
rằng: "Ðồ phản nghịch, đồ ngụy Khôi đầu thai, mầy phải ra khỏi nhà tao cho mau. Tao đố mầy làm sao mà khỏi chết
đâm chết chém như thằng cha mầy đó."
Thể Phụng là người hiểu đạo lí, biết phân biệt đúng sai, phải quấy. “Thưa thầy, ví như cháu ăn ở đời mà cháu có làm đều
chi quấy, hoặc cháu có ở vô lễ hay là bất nghĩa với ông ngoại cháu thì ông ngoại cháu đánh chưởi mà sửa trị cháu, dường
ây cháu càng cảm ơn đức, cháu đâu dám phiền hà. Ngặc vì cháu không làm đều chi quấy, cháu chỉ muốn báo hiếu cho
cha mà thôi, mà ông ngoại cháu không thương, lại sỉ nhục vong hồn của cha cháu, thì cháu còn ở đó nữa mà làm chi. Xin
thầy xét đó mà coi, tình cha con mà ông ngoại cháu đành dứt, ngày trước lấy thế lực tiền tài mà ép cho cha cháu phải lìa
“Những người khốn khổ” là lời tố cáo, tố khổ, tác giả V.Huy-gô đã vạch ra nguyên nhân làm cho con người đau khổ, sự
bất công trong xã hội. Trong xã hội tình trạng bần cùng hóa đã xuất hiện “ bên dưới nhiều kẻ khốn cùng, bên trên thì
thiếu lòng bác ái”. Trong xã hội luật pháp đặt ra không nhằm bảo vệ công lí mà chỉ bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống
trị, gia cấp tư sản đã bảo vệ quyền lợi của mình bằng nhà tù và những hình thức khắc khe khác.
Sự bất công trong xã hội còn thể hiện qua vấn đề: kẻ giàu, kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu và kẻ nghèo khó, lẽ phải luôn thuộc
về kẻ có sức mạnh. Hiện thân cho sức mạnh của xã hội đó là Gia ve , nhân vật đại diện cho quyền lực, cho cái xấu, cái
ác. Theo Phùng Văn Tửu nhận xét “ Gia ve là hiện thân của xã hội tư sản vô nhân đạo, là pháp luật tư sản bất nhân, đúc
nguyên khối”. Có thể nói, cuộc đời nghèo khổ là một sự khốn khổ của những con người dưới đáy xã hội. Họ còn phải
chịu đau thương, mất mát, áp bức, bất công mặc dù họ cố gắng làm việc và sống tốt. Chính xã hội tư sản đã bóp nghẹt
đời họ mà Giave chính là hiện thân cho xã hội đó. Nếu Giăng Van – giăng là hiện thân của sự cao cả thì Giave là hiện
thân của cái tầm thường. Ở bất kì nẻo đường nào của lòng bác ái, Giăng Van Giăng đều chạm trán với Giave trong mối
tương phản sáng – tối.
Diện mạo của hắn được miêu tả bằng một ngòi bút hết sức độc đáo: “Mũi tẹt, có hai lỗ sâu hoắm .khi hắn cười, hoạ hoằn
lắm và cũng dễ sợ lắm, thì đôi môi mỏng dính dang ra, phơi bày nào răng nào lợi. Lúc ấy chung quanh cái mũi là cả một
vết nhăn nhúm man rợ, trông như mõm ác thú ." hoặc khái quát hơn: " Giave mà nghiêm nét mặt lại thì là một con chó
dữ. Khi cười thì lại là con cọp", và " . cả người hắn toát ra một vẻ oai nghiêm tàn ác". Thủ pháp thú vật hoá khiến bức
chân dung của Giave hiện lên khá cụ thể trước mắt người đọc, là hiện thân của những gì tối tăm, lạnh lùng, tàn nhẫn độc
ác mà một thanh tra mật thám cần phải có.
Thực ra, hắn cũng không phải là kẻ xấu xa, hèn hạ. Hắn sống rất khổ hạnh, cô độc, quên mình, trong sạch, không bao giờ
vui đùa. Hắn là hiện thân của nhiệm vụ tuyệt đối .là sự rình mò không hở một phút .là công lí dưới mặt mũi một hung
thần. Ở hắn có 2 ý thức rất đơn giản : tuyệt đối phục tùng cấp trên và thù hằn, khinh bỉ, ghê tởm tất cả những ai trót có
lần phạm vào pháp luật. cả đời hắn thu gọn trong hai chữ: tỉnh táo và canh phòng, hắn làm mật thám kính cẩn như người
ta làm mục sư. Tên thanh tra mật thám – chó săn này rất cực đoan, hắn không khoan thứ một biệt lệ nào. "Vô phúc cho
kẻ nào rơi vào tay hắn. Cha hắn vượt ngục, hắn cũng cứ bắt. Mẹ hắn phạm pháp, hắn cũng cứ tố giác. Hắn làm việc ấy
một cách đắc ý như người ta làm điều thiện ". Hắn phủ nhận bản chất tốt đẹp của con người, phủ nhận khả năng hướng
thiện của con người. Lòng độ lượng của Giăng Van Giăng khiến hắn hoang mang, đau khổ." Hắn buộc phải thừa nhận là
trên đời này quả có lòng nhân đức", và "bỗng nhiên thấy ở trong bộ ngực đồng đúc của mình một cái gì phi lý, na ná như
một trái tim" Giave là tay sai trung thành của xã hội tư sản. Suốt trong cả cuộc đời, Giave trước sau chỉ là một con người
công cụ. Hắn không thể hiểu được những gì đang xảy ra trong xã hội, không thể hiểu nổi Giăng Van Giăng. Thậm chí
đến lúc chót, hắn cũng không hiểu nổi chính mình. Mười lần chạm trán với Giăng Van Giăng cũng chính là quá trình tan
lập với cảnh giàu sang, ăn uống sung sướng của bọn nhà giàu, điển hình là nhà điền chủ là cành đói thảm thương của nhà
Lê Văn Đó và của cả huyện Tân Hòa. Năm mất mùa, cả nhà phải nhịn đói, phải ăn rau luộc, khi bị bắt, người nông dân
nghèo khổ này bị đánh đập, dù biện minh nhưng vẫn bị kết án. Bọn quan lại sống trên mồ hôi và nước mắt của người dân
nghèo, không quan tâm đến mạng sống của con người.
Sự bất công đó còn thể hiện qua bi kịch của nhân vật Lý Ánh Nguyệt và nhân vật Thiệt: Thiệt là một người đày tớ bị bóc
lọt sức lao động nhưng phải đi tù vì lí do là vu oan giết điền chủ Lãnh. Ánh Nguyệt vì phải trả nợ cho cha nên ở đợ nhà
Đỗ Cẩm, bị hành hạ và rơi vào bi kịch cuộc đời. Khi về quê để có tiền chuột con, chấp nhận đi đờn cho cậu Trinh Tường
nghe. Sau đó bị giải lên quan vì không nghe lời của hắn. Bọn quan lại không cần chứng cớ đã định tội nàng.
Cái nghèo đói đã đẩy con người vào bi kịch: Lê Văn Đó đi tù, mẹ mất, chị và các cháu lưu lạc, khi vào tù bị hành hạ,
đánh đập trở thành một con người khác. Ánh Nguyệt vì nợ phải làm thân tôi tớ, bị gạt lừa, cuối cùng đã chết khi chưa
gặp lại đứa con.
Sự bất công trong xã hội còn thể hiện qua sự thắng thế của kẻ giàu, kẻ có tiền, có quyền lực, ức hiếp kẻ nghèo hèn. Điển
hình là vợ chồng Đỗ Cẩm, bản chất xấu xa, độc ác, cho vay lãi nặng và ép buộc Ánh Nguyệt phải trả nợ cho cha 30 quan
(tiền trọ + đám tang). Tên quan dâm ô tìm cách dụ dỗ nàng. Quan Huyện đã không làm tròn bổn phận của kẻ “cầm cân
nẩy mực” mà chỉ lo tìm cách dụ dỗ con gái nhà lành, mưu toan chiếm đoạt Lý Ánh Nguyệt, giữa lúc nàng đang rơi vào
tình cảnh bế tắc. Lý Ánh Nguyệt thì quyết giữ gìn tiết hạnh. Trong khi đó, thói dâm dục đã biến lão quan Huyện thành
một tên ác quỷ, không muốn buông tha cho cô gái trẻ trung, trong trắng như nàng: “Ta thấy nàng nghèo hèn mà có sắc ta
thương, nên ta muốn làm phước cứu nàng. Vậy nàng ở đây hầu ta. Nàng khỏi trả nợ, khỏi ở đợ cực khổ, biết hôn? Đi xê
lại đây ta biểu một chút…” . Đối với quan lại thiếu đạo đức, mất nhân cách, đến cuối tác phẩm, tác giả thường để cho
những con người ấy phải chịu sự trừng phạt. Nhưng đó là sự trừng phạt theo quan niệm nhân quả, mà nhà văn rất tin
tưởng, chứ không phải là công bằng, công lí có được trong xã hội đương thời. Bên cạnh đó Từ Hải Yến – tên công tử nhà
giàu đã lừa gạt và bỏ rơi Ánh Nguyệt trong khi nàng đang mang thai. Đây cũng là một minh chứng cho kẻ giàu có nhưng
gian dối, độc ác và tàn nhẫn trước cái chết của Ánh Nguyệt.
Cùng với “ Những người khốn khổ” thì “Ngọn cỏ gió đùa” là lời tố cáo xã hội vộ nhân đạo, xã hội vì tiền không có tình
người. Chúng ta thấy, Đỗ Cẩm vì tiền thờ ơ trước số phận bất hạnh của Ánh Nguyệt bị đòi nợ và bị giải lên quan; khi Lê
Văn Đó ra tù vì không có tiền nên bị chủ quán đuổi đi, ngất xỉu giữa đường.
Qua “Ngọn cỏ gió đùa”, Hồ Biểu Chánh còn phản ánh hệ thống pháp luật của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là một hệ
thống pháp luật khắc khe, không chỉ tập trung qua nhân vật Phạm Kỳ mà ở đó cả một hệ thống quan lại. Nhân vật Phạm
Bản chất xấu xa đó còn được phản ánh qua nhân vật Hải Yến. Một công tử giàu có, học vấn tài giỏi, say mê nhan sắc
Ánh Nguyệt và tìm mọi cách cưới nàng làm vợ. Bản chất sở khanh của nhận vật này bộc lộ ngay từ khi gặp Ánh Nguyệt.
Hải Yến đã bày mưu lừa gạt niềm tin của Ánh Nguyệt trong kế “anh hung cứu mĩ nhân”. Đến khi hắn đỗ cử nhân thì
thay lòng, bội nghĩa bỏ Ánh Nguyệt và đứa con chưa chào đời về nhà và xem như nàng chưa hề chung sống với hắn.
Hồ Biểu Chánh là nhà văn phản ánh hiện thực một cách trung thực. Ngòi bút của ông không hề bị bẻ cong khi viết về
những gì đang diễn ra trong xã hội. Tuy nhiên, ở điểm này, cho thấy thế sự được ông cảm nhận còn chủ quan. Cái xấu ở
giai cấp thống trị đương thời được ông quan niệm như những hiện tượng tiêu cực, mang tính đơn lẻ, chưa làm nên bản
chất của giai cấp. Nó thể hiện phần nào sự bại hoại về đạo đức của người đời. Do đó, ông mạnh dạn phê phán những
quan lại bất nhân, thất nghĩa. Đồng thời mong muốn dùng đạo đức để cảm hoá, dẫn dắt những kẻ sâu dân mọt nước trở
lại con đường chính nghĩa.
IV. Kết thúc vấn đề
Như vậy, những điểm giống nhau và khác nhau về chủ đề tư tưởng của “ Những người khốn khổ” và “ Ngọn cỏ gió đùa”
đã cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp đối với văn học Việt Nam. V.Huygo viết “
Những người khốn khổ” để mang yêu thương cứu khổ, phò nguy và xoa dịu nỗi đau, sự nghèo đói của những người khốn
cùng trong xã hội tư sản bất công vô nhân đạo. Và sứ mệnh ấy, không chỉ là sứ mệnh của riêng V.Huygo những nhà văn
Pháp đương thời mà còn là sứ mệnh chung cho những người cầm bút. Chính vì thê, Hồ Biểu Chánh mượn cốt truyện của
“ Những người khốn khổ”, mượn lí tưởng tình thương của V.Huygo để phản ánh xã hội Việt Nam.
Việc so sánh hai tác phẩm không phải để đề cao hay đánh giá thấp tác phẩm nào mà là để khẳng định giá trị riêng của nó
trong bối cảnh xã hội khác nhau của hai nền văn hoa khác nhau. Hồ Biểu Chánh đã thực hiện “Ngọn cỏ gió đùa” như sự
giao lưu văn hóa Pháp Việt sâu sắc nhưng đồng thời tác phẩm của ông cũng lại chia biệt hai nẻo khác nhau giữa tâm hồn
văn hóa phương Đông và phương Tây. Dù cùng mục đích là thể hiên lòng bát ái tương thân giữa người và người nhưng
sự đề cập hai tư tưởng tôn giáo khác nhau, Phật giáo và Thiên chúa giáo đã thể hiện sự khác nhau giữa hai nền văn hóa
qua những triết lí sống trong đó. “Ngọn cỏ gió đùa” cho ta thấy sự khác biệt sâu xa giữa sự đấu tranh dân chủ và nhân
quyền trong xã hội Pháp thế kỉ XIX và khuynh hướng đấu tranh cho lòng trọng nghĩa khinh tài, cho lí tưởng ái quốc nơi
những người cấp tiến trong xã hội miền Nam Việt Nam dưới triều đình nhà Nguyễn.
Một lần nữa ta khẳng định, Hồ Biểu Chánh đã phóng tác “ Những người khốn khổ” thành “Ngọn cỏ gió đùa” nhưng thể
hiện được những nét rất riêng và để lại những giá trị rất riêng trong việc phản ánh xã hội Việt Nam. Đồng thời Hồ Biểu
Chánh đã đóng góp to lớn cho việc mở đường và phát triển tiểu thuyết Việt Nam, Hồ Biểu Chánh đã tạo ra Lê Văn Đó và