1. Về tư tưởng tôn giáo:
Vùng đất phương Tây, văn hóa phương Tây ở lĩnh vực tôn giáo mang nét đặc thù về Thiên Chúa giáo. Và “ Những
người khốn khổ” ra đời như là một bản anh hùng ca về đạo nhân của Thiên Chúa giáo, đặc biệt là Ki tô giáo. Tác giả thể
hiện điều đó gần như trọn vẹn thông qua hình ảnh, cuộc đời của giám mục Myrien. Và nhà văn đã dành trọn cả một
quyển ( quyển 1) để ca tụng đạo đức sáng ngời của vị đức giám mục này.
Hình ảnh đức độ của giám mục Myrien được thể hiện tập trung nhất và rõ nhất qua cách đối xử của ông với Giăng Vangiăng. Khi Giăng Van- giăng xuất hiện với bộ dạng “xốc xếch”, tất cả mọi người nơi thành phố D đều miệt thị, xem
thường không thèm tiếp đón mặc dù ông vẫn có tiền để thuê chỗ trọ, ăn ngủ của mình. Ông chủ quán trọ mang bảng hiệu
Croix- de- colbas “ ngạo nghễ nhìn ông với vẻ dè chừng”, hỏi chuyện với “ giọng xấc xược”, “ gay gắt”. Rồi Giăng Vangiăng còn trở thành tâm điểm chú ý của “ tất cả những người khách trong quán và tất cả những người đi đường”,với “
những cái nhìn dè chừng và sợ sệt” như ông đã cảm nhận được. Thế nhưng giám mục Myrien lại khác. Đối lập hoàn toàn
với cách đối xử lạnh nhạt của những người trong thành phố, Myrien đã đón tiếp Giăng Van- giăng với tất cả tấm lòng
cảm phục và sự ân cần. Sự đức độ của đức giám mục Myrien thể hiện qua giọng nói “ dịu dàng và trầm trọng”, qua cái
nhìn “ đăm đăm bằng đôi mắt lặng lẽ”. Myrien vẫn ân cần nhẹ nhàng bảo người chuẩn bị chỗ ngủ và bàn ăn chu đáo cho
Giăng Van- giăng mặc cho Giăng Van- giăng luôn miệng trình bày không giấu diếm thân phận thật của mình: “ Ông hãy
xem đây, những gì người ta ghi lên giấy thông hành của tôi, để tôi đọc cho ông nghe bởi tôi biết đọc mà, tôi đã học trong
tù”. Thế là Giăng Van- giăng đọc: “Giăng Van- giăng, tù khổ sai, được trả tự do,, sinh trưởng tại Pon- ta- lier, đã ở trong
nhà tù mười chín năm. Năm năm về tội phá hoại. Mười bốn năm về tội toan vượt ngục bốn lần. Con người này rất nguy
hiểm”.
“ Bà Mag- loi- re”, vị giáo sĩ nói, vẫn giọng dịu dàng, “ Bà hãy trải những tấm ra trắng lên chiếc giường trong buồng.
Đoạn quay sang người đàn ông. Mời ông ngồi và sưởi ấm trong chốc lát chúng ta sẽ ăn bữa khuya. Trong lúc đó người
làm giường cho ông”. Không chỉ vậy, Myrien còn đối xử nhẹ nhàng với ông ngay cả khi Giăng Van- giăng ăn cắp “ mớ
chén dĩa bằng bạc”. Vị linh mục chẳng những không bắt tội mà còn cứu thoát ông khỏi vòng pháp luật bằng cách xác
minh đó là vật ông đã tặng cho Giăng Van- giăng chứ không phải là đồ ăn cắp.
Như vậy, bằng tất cả tấm lòng yêu thương con người, Myriel đã cảm hóa được Giăng Van- giăng trở thành một con
người lương thiện. Từ đó ta thấy được dụng ý của nhà văn V. Huygo khi xây dựng nhân vật Myriel để khẳng định sức
mạnh của tình yêu thương.
Trở lại với văn hóa Việt Nam, sự du nhập của nhiều tôn giáo khác nhau vào đất nước đã không tạo ra sự xung đột mà đã
kết tinh những giá trị lớn lao trong việc tiếp thu có chọn lọc của người Việt Nam. Trong số những tôn giáo đó, Phật giáo
và Nho giáo là một minh chứng. Và trong tác phẩm “Ngọn cỏ gió đùa” nhà văn Hồ Biểu Chánh đã đề cập đến tư tưởng
của hai tôn giáo này để làm nổi bật lên giá trị tư tưởng của tác phẩm qua sự thể hiện của nhân vật. Nếu như “Những
người khốn khổ” tư tưởng Thiên chúa giáo thể hiện qua giám mục Myriel thì “Ngọn cỏ gió đùa” tư tưởng Phật giáo được
nông dân nghèo đói. Hai nhân vật tuy có số phận giống nhau đều mang số phận nghèo khổ, bị coi khinh, miệt thị vì án tù
đày nhưng mỗi nhân vật lại là một điển hình cho những người khốn cùng của hai xã hội khác nhau.
Và nổi bật nhất trong nhân cách của hai nhân vật này đó là tình yêu thương đối với người khác trong cuộc sống vì người
khác hơn là vì bản thân mình. Giăng Van- giăng vì thương đàn cháu đói khát mà trở thành tên tù khổ sai. Anh bị kết án
khổ sai và chỉ được thả sau 19 năm năm ngồi tù nhưng phải mang giấy thông hành màu vàng của người đã từng có tiền
án. Rồi khỏi nhà tù. Giăng Van- giăng mang tâm trạng hằn học, căm thù: “ Trước thì ngớ ngẩn, sau thì thành độc ác, xưa
chỉ là cành củi khô, sau thì thành khúc gỗ cháy ”,“ Lúc vào tù anh run sợ, khóc lóc, đến khi ra thành người thản nhiên,
trơ như đá. Lúc vào lòng anh đau khổ, tuyệt vọng, bây giờ trở ra lòng anh đen tối, hung dữ ”. Chỉ muốn trả thù cuộc đời
và những bất công mà anh đã gánh chịu một cách vô lí. Sự thay đổi trong con người Giăng Van- giăng lúc ra tù chung
quy chỉ vì muốn trả thù, muốn dành lại công lí cho mọi người chứ không riêng bản thân mình. Với Giăng Van- giăng,
bước ngoặc quan trọng nhất đồng thời là cái duyên lớn nhất trong cuộc đời của anh đó chính là được gặp và được sự cảm
hóa của đức giám mục Myriel. Giám mục đã trân trọng lấy anh và tiếp thêm sức mạnh cho anh để anh có thể chiến đấu
dành lại công lí và cuộc sống tốt hơn cho những người khôn khổ. Nhờ Myriel mà anh không còn chiến đấu lòng căm thù
sôi sục nữa mà chiến đấu bằng cả trái tim nhân ái và tấm lòng yêu thương bao la của mình. Khi trở thành một thị trưởng
giàu có,Giăng van giăng không đè nén, không áp bức một một ai mà chỉ tìm cách cứu giúp những người khốn khổ, đem
lại công việc làm cho nhà người dân trong vùng. Ông chỉ chăm lo cho đời sống của họ bằng cách quyên tiền cho nhà
thương thêm giường bệnh, xây dựng trường học mới. Vì thế khắp vùng “ không còn cảnh thất nghiệp, nghèo đói nữa.
Không có cái túi áo xấu xí nào là không xủng xoảng ít tiền, không có nhà tranh tồi tàn nào không có tiếng cười vui.
Không chỉ vậy, Giăng Van- giăng vượt lên trên mọi nguy hiểm không chỉ để tự cứu thoát mình mà còn để thực hiện lời
hứa với người đã khuất, để cứu vớt một kẻ vô tội bị hàm oan, để mang đến hạnh phúc cho Codet. Chính vì luôn nghĩ vì
người khác, Giăng Van- giăng phải luôn dằn vặt đấu tranh nội tâm giữa việc đầu thú hay không đầu thú. Và điều đó
không vì an nguy của cảm nghĩ, giằng xé trong một đêm mà đầu đã bạc trắng với chân lí: “ cái lối để mặc cho số phận và
người đời nhầm lẫn, không ngăn cản nó lại, yên lặng để phụ họa với nó, không làm gì cả, tức là mình đã làm tất cả đấy !
Đó là một việc gian sảo đê mạt nhất ! Đó là một tội ác khốn nạn, hèn hạ, hiểm độc, đáng khinh, đáng tởm !”
Rồi Giăng Van- giăng chấp nhận kiếp độc thân để cưu mang, nuôi nấng Codet, và vun đắp hạnh phúc cho Codet với
Marius. Ông đã vượt qua sự ích kỉ của lòng mình cứu lấy Marius bị thương trên chiến lũy. Tất cả đã cho thấy, Giăng
Van- giăng hiện ra như một vị cứu tinh, một đấng cứu thế với “ đạo đức phi thường, cao cao cả mà hiền từ, mênh mông
mà khiêm tốn” và cả với những hi sinh “quên mình với những nổi đau khổ rất trần thế ”.
từ trong quần chúng ”. Tuy không được ai nuôi dạy, nhưng Phăngtin lại biết sống rất đúng mực, không lả lơi ong bướm.
Trong bốn cô gái chơi với nhau, chỉ mình Phăngtin là “gái ngoan” còn ba cô kia là “gái khôn”. Một vẻ đẹp đáng quý
trong tâm hồn của Phăngtin là chị biết yêu hết mình và yêu chung thủy, nhưng đó cũng là bất hạnh lớn nhất trong cuộc
đời chị. Với yêu chân thật, chị đã trao tất cả những gì mình có cho Tôlômiét và có con với hắn. Nhưng tên sở khanh chỉ
coi Phăng tin như một “thói quen phong nguyệt”, hắn ruồng bỏ chị, để mặc cho người mẹ trẻ phải đơn độc xoay sở với
cuộc sống khắc nghiệt. Nỗi bất hạnh bị người yêu ruồng bỏ là mở màn cho một chuỗi đau khổ khác đến với số phận của
Phăng tin.
Tuy số phận cay đắng và bị đày đọa, nhưng Phăngtin lại có một tinh thần chịu đựng, hi sinh và ban phát vô cùng cao cả
giống như Đức Mẹ. Bao nhiêu tình yêu trong cuộc đời, Phăng tin dồn cả vào Cô dét, chị sẵn sàng hi sinh tất cả cho con
mình. Để có tiền lo cho Cô dét, chị đã phải chấp nhận từ bỏ mọi thú vui khác, sống một cuộc sống kham khổ “Mùa đông
Phăng tin tập bỏ hẳn lò sưởi. Phăng tin dứt được với con chim nuôi chơi… chị học cách lấy váy làm chăn và lấy chăn
làm váy, cách ghé cửa sổ để ăn cơm dưới ánh đèn hàng xóm cho đỡ tốn nến nhà mình”. Chị phải làm việc cật lực, vắt
kiệt sức lao động của mình, “cứ ngày ngủ năm giờ, còn thì ngồi mà khâu may” với cái giá mười hai xu một ngày chẳng
thể đủ mà mua cơm ăn. Phăngtin chẳng hề nghĩ đến bản thân mà chỉ lo lắng cho con, mỗi lần vợ chồng Tênácđiê viện cớ
đòi tiền nuôi Cô dét chị lại phải tất tả kiếm tiền bằng mọi cách gửi cho chúng. Vì con, chị chấp nhận bán răng, bán tóc là
hai tài sản quý giá của mình, không có việc gì chị không dám làm để cho con được sung sướng. Cái quý giá nhất của
người phụ nữ là nhân phẩm và danh dự thì Phăng tin cũng không ngần ngại bán đi, chấp nhận làm “gái điếm” để có tiền
nuôi con. Khi còn hạnh phúc, sung sướng, nàng rất xinh đẹp với "vàng xếp trên mái tóc, ngọc giắt ở sau môi" nhưng một
khi lâm vào bước đường cùng thì vẻ đẹp ấy không còn nữa. Lúc đó, nàng chỉ còn là một cô gái điếm đầu trọc lóc với
"tiếng chửi rủa khàn khàn vì rượu văng ra từ một cái mồm đen ngòm thiếu hai cái răng". Và một kết thúc tất yếu là
Fantine phải chết, nàng đã quá kiệt sức vì nỗi đau khổ đè nặng cuộc đời mình, thêm vào đó là sự vất vả kiếm sống, bệnh
tật liên miên. Cuộc đời đầy đau khổ của chị tạo nên một ám ảnh xoáy sâu trên từng trang giấy, những câu văn viết về chị
như có máu chảy ở đầu ngọn bút khiến người đọc không khỏi rơi lệ. Trong con người Phăng tin mang hai vẻ đẹp lớn
nhất là tình yêu thủy chung và tình mẫu tử thì đi liền với nó là hai nỗi bất hạnh: bị người tình phụ bạc và phải xa con, yêu
con tha thiết nhưng cho đến chết cũng không được nhìn thấy mặt con.
Nhưng với Ánh Nguyệt thì lại khác, nàng xuất thân trong một gia đình Nho học, được dạy dỗ đàng hoàng, biết lễ nghi
phép tắc. Đặc biệt là chữ “ trinh tiết” của người phụ nữ, Ánh Nguyệt là một người con rất hiếu thảo, lo tiền cho cha đi
thi, rồi hay tin cha bệnh thì lập tức đi tìm, nhưng khi đến nơi thì cha đã qua đời lại bị vợ chồng Đỗ Cẩm đòi tiền, không
hổ thẹn bất công, những tủi nhục thấm thía của nghèo khổ” nhưng Mariuýt không hề nhụt chí. Trái lại, anh biết lấy
những khó khăn đó để tôi luyện cho mình, biến cảnh bần cùng từ ‘mẹ ghẻ” thành “mẹ thật”, lấy đau khổ để nuôi dưỡng
tâm hồn. Đói khổ chính là chiến trường sản sinh người anh hùng Mariuýt. Nghị lực giúp anh không chùn bước, thà đói
chứ anh nhất quyết không quay về sống với người ông bảo thủ. Mariuýt là người rất coi trọng nhân phẩm. Dù đói, dù
nghèo anh vẫn cố giữ gìn nhân phẩm cho mình, “thà anh nhịn đói chứ không vay nợ”. Anh cho rằng “mang nợ là bắt đầu
làm nô lệ”. Mariuýt lại hoàn toàn giữ được mình, “chân anh bước trong đau khổ, khó khăn; trên gạch đá, trên chông gai.
Có khi trong bùn thối nhưng đầu anh vươn lên trong ánh sáng”.
Đại diện cho một thế hệ trẻ tiến bộ, Mariuýt là con người sống đầy nhiệt huyết, đam mê, cống hiến hết mình cho lí tưởng
tuy có những lúc lí tưởng của anh còn rất mơ hồ, chưa rõ ràng. Những năm tháng sống ở Paris, Mariuýt thường xuyên
gặp gỡ hội những người bạn trong nhóm ABC, nghe họ trò chuyện, thuyết trình để mở mang đầu óc. Anh biết đón nhận
cái mới một cách nhanh nhạy để tự thay đổi bản thân. Ban đầu, anh cho rằng khởi nghĩa là một cuộc nội chiến huynh đệ
tương tàn nên không muốn tham gia. Sau này, khi nghĩ về nhân loại, nghĩ đến những người bạn của mình, anh lại thấy đó
là việc vẻ vang và tham gia nhiệt tình. Chính vì thế mà sau này, Mariuýt sẽ trở thành người bảo vệ cho luật pháp tư sản
khi nó còn tiến bộ. và cũng chính là người mang lại hạnh phúc cho Codet.
Nhân vật Thể Phụng trong “Ngọn cỏ gió đùa” cũng mang dáng dấp như Mariut, là một thanh niên tiến bộ có lí tưởng.
Tuy sống với ông ngoại Đàm Tự Chấn mang tư tưởng phong kiến, trung quân một cách cứng nhắc và phản đối việc
nghĩa sĩ làm cách mạng trong cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi nhưng anh không hề tiêm nhiễm tư tưởng đó mà có nhận
thức đúng dắn lí tưởng của thời đại. Ban đầu anh chưa biết việc làm vì nghĩa của cha, nhưng sau rành rõ mọi việc anh
thương cha vô cùng. “Thể-Phụng biết được tâm chí của cha, hiểu được tâm sự của cha, thì kính phục hết sức, quyết ở
luôn nơi đây mà nuôi dưỡng cha, không chịu trở về nhà ông ngoại nữa. Thể-Hùng khuyên giải con, biểu trở về, bởi vì
nếu bạc ông ngoại, ông giận ông từ, thì ngày sau mất ăn gia tài. Thể-Phụng đáp rằng: "Cha tưởng gia tài đó quí cho bằng
cha hay sao. Con không màng đâu. Thử đem 10 cái gia tài như vậy mà đổi cha, coi con có thèm hay không mà!"
… “ Thưa, cháu có lòng dạ nào mà hưởng gia tài đó. Cháu nghĩ cháu oán cái gia tài đó lắm, vì nó mà cha cháu phải chịu
thương thầm thăm trộm cháu mười mấy năm nay, vì nó mà cháu chịu thất hiếu với cha, vì nó mà cha cháu chết không
thấy mặt cháu được. Gia tài như vậy mà cháu hưởng sao đành!”
Thể phụng hiếu thảo như vậy mà khi cha chết anh không được gặp mặt cha lần cuối, anh đau khổ rất nhiều và xung đột
với ông ngoại. Ông Đàm Tự Chấn tức giận đuổi Thể Phụng đi. “Ông Ðàm-tự-Chấn đã giận, mà thấy cháu vô lễ và
“Những người khốn khổ” là bức tranh rộng lớn về cuộc sống của những người lao động nghèo khổ ở Pháp thế kỉ XIX.
Đồng thời, tác phẩm là bản cáo trạng xã hội tư sản với cả một mạng lưới pháp luật, tòa án, nhà trẻ, quân lính cảnh sát,
những kẻ giàu sang, những tên lưu manh. Chính XHTS là nguyên nhân gây ra bao cảnh khổ cho nhân dân. Xã hội ấy
hiện hình tập trung nhất trong bộ mặt gớm ghếc và tâm hồn chai cứng của Gia ve.
“Những người khốn khổ” là lời tố cáo, tố khổ, tác giả V.Huy-gô đã vạch ra nguyên nhân làm cho con người đau khổ, sự
bất công trong xã hội. Trong xã hội tình trạng bần cùng hóa đã xuất hiện “ bên dưới nhiều kẻ khốn cùng, bên trên thì
thiếu lòng bác ái”. Trong xã hội luật pháp đặt ra không nhằm bảo vệ công lí mà chỉ bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống
trị, gia cấp tư sản đã bảo vệ quyền lợi của mình bằng nhà tù và những hình thức khắc khe khác.
Sự bất công trong xã hội còn thể hiện qua vấn đề: kẻ giàu, kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu và kẻ nghèo khó, lẽ phải luôn thuộc
về kẻ có sức mạnh. Hiện thân cho sức mạnh của xã hội đó là Gia ve , nhân vật đại diện cho quyền lực, cho cái xấu, cái
ác. Theo Phùng Văn Tửu nhận xét “ Gia ve là hiện thân của xã hội tư sản vô nhân đạo, là pháp luật tư sản bất nhân, đúc
nguyên khối”. Có thể nói, cuộc đời nghèo khổ là một sự khốn khổ của những con người dưới đáy xã hội. Họ còn phải
chịu đau thương, mất mát, áp bức, bất công mặc dù họ cố gắng làm việc và sống tốt. Chính xã hội tư sản đã bóp nghẹt
đời họ mà Giave chính là hiện thân cho xã hội đó. Nếu Giăng Van – giăng là hiện thân của sự cao cả thì Giave là hiện
thân của cái tầm thường. Ở bất kì nẻo đường nào của lòng bác ái, Giăng Van Giăng đều chạm trán với Giave trong mối
tương phản sáng – tối.
Diện mạo của hắn được miêu tả bằng một ngòi bút hết sức độc đáo: “Mũi tẹt, có hai lỗ sâu hoắm .khi hắn cười, hoạ hoằn
lắm và cũng dễ sợ lắm, thì đôi môi mỏng dính dang ra, phơi bày nào răng nào lợi. Lúc ấy chung quanh cái mũi là cả một
vết nhăn nhúm man rợ, trông như mõm ác thú ." hoặc khái quát hơn: " Giave mà nghiêm nét mặt lại thì là một con chó
dữ. Khi cười thì lại là con cọp", và " . cả người hắn toát ra một vẻ oai nghiêm tàn ác". Thủ pháp thú vật hoá khiến bức
chân dung của Giave hiện lên khá cụ thể trước mắt người đọc, là hiện thân của những gì tối tăm, lạnh lùng, tàn nhẫn độc
ác mà một thanh tra mật thám cần phải có.
Thực ra, hắn cũng không phải là kẻ xấu xa, hèn hạ. Hắn sống rất khổ hạnh, cô độc, quên mình, trong sạch, không bao giờ
vui đùa. Hắn là hiện thân của nhiệm vụ tuyệt đối .là sự rình mò không hở một phút .là công lí dưới mặt mũi một hung
thần. Ở hắn có 2 ý thức rất đơn giản : tuyệt đối phục tùng cấp trên và thù hằn, khinh bỉ, ghê tởm tất cả những ai trót có
lần phạm vào pháp luật. cả đời hắn thu gọn trong hai chữ: tỉnh táo và canh phòng, hắn làm mật thám kính cẩn như người
rình mò trên xác chết của chiến trường để lùn sụt hôi của, gỡ đồng hồ trên cánh tay những người chết, gỡ răng vàng, móc
túi người chết. Hắn là biểu tượng rung rợn nhất của những xã hội đã suy tồn tính người. Đồng thời là một điển hình sâu
thẳm về cái tâm địa tham lam dù hắn khoát dưới bất cứ hình dáng nào.
Đến với “ Ngọn cỏ gió đùa” Hồ Biểu Chánh đã phơi bày hiện thực xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn với những biểu
hiện tiêu cực. Sự bất công trong xã hội, đặc biệt là sự đối lập giữa giàu và nghèo thể hiện qua một số nhân vật. Đầu tiên
là nhân vật Lê Văn Đó vì cảnh nghèo đói phải lấy cắp nồi cháo heo, bị bắt, bị đánh 100 trượng và phải đi tù 5 năm. Đối
lập với cảnh giàu sang, ăn uống sung sướng của bọn nhà giàu, điển hình là nhà điền chủ là cành đói thảm thương của nhà
Lê Văn Đó và của cả huyện Tân Hòa. Năm mất mùa, cả nhà phải nhịn đói, phải ăn rau luộc, khi bị bắt, người nông dân
nghèo khổ này bị đánh đập, dù biện minh nhưng vẫn bị kết án. Bọn quan lại sống trên mồ hôi và nước mắt của người dân
nghèo, không quan tâm đến mạng sống của con người.
Sự bất công đó còn thể hiện qua bi kịch của nhân vật Lý Ánh Nguyệt và nhân vật Thiệt: Thiệt là một người đày tớ bị bóc
lọt sức lao động nhưng phải đi tù vì lí do là vu oan giết điền chủ Lãnh. Ánh Nguyệt vì phải trả nợ cho cha nên ở đợ nhà
Đỗ Cẩm, bị hành hạ và rơi vào bi kịch cuộc đời. Khi về quê để có tiền chuột con, chấp nhận đi đờn cho cậu Trinh Tường
nghe. Sau đó bị giải lên quan vì không nghe lời của hắn. Bọn quan lại không cần chứng cớ đã định tội nàng.
Cái nghèo đói đã đẩy con người vào bi kịch: Lê Văn Đó đi tù, mẹ mất, chị và các cháu lưu lạc, khi vào tù bị hành hạ,
đánh đập trở thành một con người khác. Ánh Nguyệt vì nợ phải làm thân tôi tớ, bị gạt lừa, cuối cùng đã chết khi chưa
gặp lại đứa con.
Sự bất công trong xã hội còn thể hiện qua sự thắng thế của kẻ giàu, kẻ có tiền, có quyền lực, ức hiếp kẻ nghèo hèn. Điển
hình là vợ chồng Đỗ Cẩm, bản chất xấu xa, độc ác, cho vay lãi nặng và ép buộc Ánh Nguyệt phải trả nợ cho cha 30 quan
(tiền trọ + đám tang). Tên quan dâm ô tìm cách dụ dỗ nàng. Quan Huyện đã không làm tròn bổn phận của kẻ “cầm cân
nẩy mực” mà chỉ lo tìm cách dụ dỗ con gái nhà lành, mưu toan chiếm đoạt Lý Ánh Nguyệt, giữa lúc nàng đang rơi vào
tình cảnh bế tắc. Lý Ánh Nguyệt thì quyết giữ gìn tiết hạnh. Trong khi đó, thói dâm dục đã biến lão quan Huyện thành
một tên ác quỷ, không muốn buông tha cho cô gái trẻ trung, trong trắng như nàng: “Ta thấy nàng nghèo hèn mà có sắc ta
thương, nên ta muốn làm phước cứu nàng. Vậy nàng ở đây hầu ta. Nàng khỏi trả nợ, khỏi ở đợ cực khổ, biết hôn? Đi xê
lại đây ta biểu một chút…” . Đối với quan lại thiếu đạo đức, mất nhân cách, đến cuối tác phẩm, tác giả thường để cho
những con người ấy phải chịu sự trừng phạt. Nhưng đó là sự trừng phạt theo quan niệm nhân quả, mà nhà văn rất tin
tưởng, chứ không phải là công bằng, công lí có được trong xã hội đương thời. Bên cạnh đó Từ Hải Yến – tên công tử nhà
giàu đã lừa gạt và bỏ rơi Ánh Nguyệt trong khi nàng đang mang thai. Đây cũng là một minh chứng cho kẻ giàu có nhưng
người nghèo. Thể hiện nỗi cay đắng và khổ ải của những kiếp người phải vật lộn với việc mưu sinh. Họ bị đẩy vào cái
thế: con người như muốn trở lại bản năng sinh vật, níu lấy sự sống bằng bất cứ giá nào. Hành động bưng trộm nồi cháo
heo của nhà địa chủ, giựt cơm của hai vợ chồng người ăn mày, Lê Văn Đó tỏ ra liều lĩnh. Anh ta buộc phải liều để sinh
tồn. Thật xót xa cho một kiếp con người! Với trường hợp của anh, đúng là “bần cùng sinh đạo tặc”. Điều chua chát ở đây
không chỉ là phải làm đạo tặc, mà còn là làm đạo tặc để được cái gì? Thân phận con người bỗng trở nên thấp hèn, rẻ rúng
tột cùng! Đánh đổi cả danh dự, tính mạng để có được thức ăn mà nhà giàu dành cho súc vật. Thế nhưng, nào có được!
Bản chất xấu xa đó còn được phản ánh qua nhân vật Hải Yến. Một công tử giàu có, học vấn tài giỏi, say mê nhan sắc
Ánh Nguyệt và tìm mọi cách cưới nàng làm vợ. Bản chất sở khanh của nhận vật này bộc lộ ngay từ khi gặp Ánh Nguyệt.
Hải Yến đã bày mưu lừa gạt niềm tin của Ánh Nguyệt trong kế “anh hung cứu mĩ nhân”. Đến khi hắn đỗ cử nhân thì
thay lòng, bội nghĩa bỏ Ánh Nguyệt và đứa con chưa chào đời về nhà và xem như nàng chưa hề chung sống với hắn.
Hồ Biểu Chánh là nhà văn phản ánh hiện thực một cách trung thực. Ngòi bút của ông không hề bị bẻ cong khi viết về
những gì đang diễn ra trong xã hội. Tuy nhiên, ở điểm này, cho thấy thế sự được ông cảm nhận còn chủ quan. Cái xấu ở
giai cấp thống trị đương thời được ông quan niệm như những hiện tượng tiêu cực, mang tính đơn lẻ, chưa làm nên bản
chất của giai cấp. Nó thể hiện phần nào sự bại hoại về đạo đức của người đời. Do đó, ông mạnh dạn phê phán những
quan lại bất nhân, thất nghĩa. Đồng thời mong muốn dùng đạo đức để cảm hoá, dẫn dắt những kẻ sâu dân mọt nước trở
lại con đường chính nghĩa.