B
TR
GIÁO D C VÀ ÀO T O
NG
I H C KINH T TP.HCM
PHAN TH THANH TH Y
LU N V N TH C S KINH T
TP. H Chí Minh – N m 2000
Mục Lục
Trang
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………………………………………………1
Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÀNH DU LỊCH……………………………………………. 3
I. LÝ THUYẾT KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH………………………………………………………………..3
I.1 Khái niệm và đặc điểm ngành du lòch…………………………………………………………….3
I.2 Thò trường du lòch…………………………………………………………………………………………………….4
I.3 Sản phẩm- đặc trưng của sản phẩm du lòch…………………………………………………..4
I.4 Các loại hình du lòch……………………………………………………………………………………………….6
II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH………………………………………………………………………….7
II.1 Các sắc thái của du lòch quốc tế hiện nay…………………………………………………
I.1 Những quan điểm phát triển du lòch sinh thái……………………………………………36
I.2 Những nguyên tắc………………………………………………………………………………………………36
II GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÙNG ĐBSCL…………37
II.1 Giải pháp xây dựng các tuyến điểm du lòch sinh thái…………………………….37
II.2 Giải pháp tổ chức các chương trình du lòch sinh thái trọn gói….……….41
II.3 Giải pháp phát triển du lòch sinh thái bền vững………………………………………43
II.4 Tổ chức các phương tiện vui chơi, nghỉ ngơi tại các điểm
du lòch sinh thái……………………………………………………………………………………………………44
II.5 Tổ chức các hoạt động quảng cáo, bán và thực hiện các
chương trình du lòch sinh thái………………………………………………………………………….46
KIẾN NGHỊ…………………………………………………………………………………………………………………………………49
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………………………………………………51
2
LỜI MỞ ĐẦU
Du lòch được biết đến là một trong những ngành tăng trưởng nhanh nhất
trên thế giới góp phần tạo ra việc làm, tăng nguồn thu, cải thiện cơ sở hạ tầng,
nâng cấp các di sản văn hóa, khuyến kích phát triển kinh tế v.v…
Vai trò vò trí và hiệu quả nhiều mặt của du lòch đã thuyết phục được chính
phủ và người dân của chúng ta chấp nhận du lòch là một ngành kinh tế mũi nhọn
của Việt Nam.
Chúng ta đã biết dù phát triển bất cứ loại hình du lòch nào đều phải dựa
vào môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn. Loại hình du lòch sinh thái,
một xu thế tất yếu của du lòch thế giới hiện nay, và nhất là các nước đang phát
triển như ở Việt Nam có tác động mạnh mẽ tới môi trường cả nhân văn lẫn tự
nhiên điều đáng quan tâm là những tác động tiêu cực sẽ dẫn đến suy giảm môi
Chương III
: Những giải pháp thúc đẩy phát triển Du lòch sinh thái vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long
Với tất cả sự tận tình giúp đỡ của Thầy hướng dẫn, sự nỗ lực của bản thân
cùng các kiến thức được trang bò. Tôi đã hoàn thành cuốn luận án, mặt nào đó
vẫn còn thiếu sót. Vì vậy rất mong được sự đóng góp chỉ dẫn của tất cả các thầy
cô giáo và đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn.
4
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÀNH DU LỊCH
I. LÝ THUYẾT KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH
I. 1. Khái niệm và đặc điểm ngành du lòch
Ngành du lòch là một ngành kinh tế - dòch vụ có nhiệm vụ chủ yếu là
phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi tìm hiểu thiên nhiên, đất nước,
con người đồng thời kết hợp với các dạng nhu cầu khác như: nghiên cứu khoa
học, khảo cổ, thể thao, tiếp thò v.v…
Với mức sống ngày càng nâng cao, thì ngành du lòch ngày càng phát triển.
Ngành du lòch càng phát triển thì sự giao lưu của người dân giữa các vùng, các
khu vực, giữa các quốc gia càng xích lại gần nhau và càng hiểu biết nhau nhiều
hơn. Từ đó cho thấy sự phát triển ngành du lòch không chỉ đơn thuần mang lại
hiệu quả kinh tế cho đất nước mà còn có ý nghóa chính trò sâu sắc trong việc
củng cố nền hòa bình trên toàn thế giới.
Các đặc điểm của ngành du lòch.
đầu có ý nghóa quyết đònh. Nhu cầu này phụ thuộc vào mức thu nhập, khác nhau
của khách hàng về tập quán, nhu cầu tâm sinh lý, về giá cả, nhưng chủ yếu phụ
thuộc vào yếu tố thu nhập. Đã có cầu xuất hiện ắt phải có cung đáp ứng.
Vậy cung du lòch được hiểu là khả năng cung cấp sản phẩm du lòch do đơn
vò kinh doanh du lòch thực hiện.
Quan hệ giữa cung và cầu trên thò trường du lòch ràng buộc lẫn nhau, tác
động qua lại lẫn nhau. Cung tác động lên cầu qua khối lượng và cơ cấu của nó,
cầu ảnh hưởng đến sự phát triển của cung qua việc tăng tiêu thụ và phân hóa
của cầu. Xu hướng đặc trưng của thò trường du lòch là sự cân bằng tương ứng
giữa cung và cầu du lòch.
I. 3. Sản phẩm - đặc trưng của sản phẩm du lòch.
I.3.1 Sản phẩm du lòch là loại sản phẩm mang tính chất tổng hợp, gồm
nhiều dòch vụ: vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí.
Như vậy sản phẩm du lòch của một quốc gia được cấu thành bởi sản phẩm
du lòch của đòa phương, sản phẩm du lòch đòa phương được cấu thành từ sản
phẩm khách sạn, phục vụ của ngành du lòch.
6
Các yếu tố cấu thành sản phẩm du lòch
- Các di sản thiêng liêng, tài nguyên thiên nhiên (rừng, núi, biển, bờ
biển).
- Các di sản do con người tạo ra: các công trình kiến trúc, các lăng tẩm, di
tích lòch sử, viện bảo tàng,... tôn giáo, phong tục tập quán...
- Hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc phục vụ du lòch.
- Những cơ số vật chất kỹ thuật phục vụ ngành du lòch, khách sạn nhà
hàng, khu vui chơi, giải trí...
Như vậy, có thể nói sản phẩm du lòch được cấu thành bởi hai yếu tố
chính:
có vò trí đặc biệt trong ngành du lòch.
I. 4. Các loại hình du lòch:
Từ các yếu tố cấu thành của sản phẩm du lòch mà hình thành các loại du
lòch khác nhau:
- Tham quan: để xem phong cảnh đẹp hưởng niềm vui được hiểu biết
thêm về đất nước con người. Thông thường tham quan đi đôi với giải trí để con
người được thoải mái hơn.
- Nghỉ ngơi: để thỏa mãn nhu cầu thư giãn nhằm lấy lại sức làm việc.
Nghó ngơi cũng đi đôi với giải trí và hoạt động tham quan. Song cần thấy rằng
tham quan, giải trí chỉ là phụ mà nghó ngơi là chủ yếu.
- Thể thao: Những môn thể thao của hoạt động du lòch: săn bắn, leo núi,
bơi lội, lướt ván, bơi thuyền...
- Nghiên cứu chuyên đề: người ta kết hợp du lòch với nghiên cứu sinh học,
sử học, dân tộc học, kinh tế và quản lý, y học và các hoạt động khoa học khác.
Loại hình đang được chú ý vì có nhu cầu ngày càng tăng.
- Du lòch công vụ, du lòch thương mại: khi đi du lòch thường kết hợp với đi
công việc như đàm phán, giao dòch, ngoại giao, nghiên cứu tìm cơ hội, tìm đối tác
đầu tư. Trong điều kiện kinh tế mở hiện nay các loại hình du lòch này đặc biệt
phát triển mạnh.
- Du lòch thăm viếng v.v….
8
II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH.
Hoạt động du lòch đã xuất hiện từ lâu.
Trong thời kỳ cổ đại Ai Cập và Hy lạp, hoạt động du lòch mang tính chất
tự phát. Tới đế chế La Mã, du lòch phát triển ở hai hình thức cá nhân và tập thể.
Lúc này đã bắt đầu xuất hiện những cuốn sách ghi chép và hướng dẫn về các
tuyến hành trình, các suối nước nóng của các tác giả như Sêza, Taxit...
thuật, phát triển như vũ bão. Mức sống của dân cư thế giới đã được nâng lên
nhiều lần do đó nhu cầu du lòch của dân cư càng trở nên cấp thiết. Du lòch đã trở
thành vấn đề mang tính chất toàn cầu. Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lòch của
dân cư là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của cuộc sống. Tùy theo vò trí tiềm
năng có nước coi du lòch như là một nền kinh tế mũi nhọn. WTO dự báo vào
năm 2000 con số du khách toàn cầu sẽ lên đến 660 triệu người trong đó du
khách Đức, Mỹ, Anh, Nhật, Pháp,.... sẽ tràn ngập các điểm du lòch hấp dẫn nhất
trên thế giới. Tỉ lệ tăng trưởng của ngành công nghiệp du lòch sẽ tăng xắp xỉ
4,4%”.
Như vậy ta có thể tin chắc rằng ngành du lòch thế giới sẽ tiếp tục phát
triển và mang lại nguồn lợi khổng lồ cho nhiều quốc gia trên thế giới.
II. 1. Các sắc thái của du lòch quốc tế hiện nay.
-
Hướng đi của du khách thay đổi :
Vào đầu thế kỷ 20 một nhà ngoại giao Hoa kỳ đã nói: “ Đòa Trung Hãi là
vùng biển của quá khứ , Đại Tây Dương là vùng biển của hiện tại, Thái Bình
Dương là vùng biển của tương lai”. Thật vậy, trung tâm kinh tế đang chuyển từ
Đại Tây Dương sang Châu Á Thái Bình Dương. Trong đó khu vực phát triển với
tốc độ cao và năng động nhất là Đông Nam Á. Do vậy, ngày nay du khách đang
chuyển hướng du lòch về vùng Châu Á -Thái Bình Dương nhiều hơn. Hội đồng
giao thông và du lòch thế giới trụ sở tại Brussel dự đoán tổng thu nhập do du lòch
hàng năm ở Châu Á và Thái Bình Dương (do khách du lòch chi cộng với đầu tư
vốn vào công nghiệp du lòch) sẽ tăng từ 800 tỉ USD vào năm 1995 lên tới 2000 tỉ
USD tới 2005. Điều này sẽ làm tăng tỉ trọng của thò trường đi lại và du lòch của
Châu Á - Thái Bình Dương từ 23% len 27% vượt lên Mỹ và sát nút sau Tây Âu.
-
Các quốc gia Châu Á có nền công nghiệp du lòch phát triển như:
1992 (triệu người)
1993 (triệu người)
1994 (triệu người)
1995 (triệu người)
Brunei
0,50
0,57
0,58
0,5
Indonesia
3,06
3,4
4,0
4,5
Malaysia
5,14
5,76
6,13
6,6
(Nguồn: báo cáo năm 1995 về công nghiệp du lòch ASEAN - Tài liệu của
ban thu ký ASEAN tại Jakarta).
Ngành du lòch ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền
kinh tế của các nước thành viên. Năm 1994, cùng với đà tăng trưởng kinh tế,
ngành du lòch các nước ASEAN đã thu được những thành quả nổi bật. Số lượng
11
quốc tế đến khu vực AESAN năm 1994 là 26 triệu lượt khách, tăng 9% so với
năm 1993 (23,46 triệu người). Khách du lòch các nước ASEAN chiếm 4,9% tổng
số khách du lòch toàn thế giới, so với 4,7% năm 1993. Về thu nhập từ du lòch,
theo tính toán của các cơ quan du lòch quốc gia ASEAN thì tổng thu nhập từ du
lòch của các nước ASEAN vượt 21 tỷ USD trong 1994 (so với 18,7 tỷ USD năm
1993).
Hiện nay, Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước Đông Nam Á
có tốc độ tăng trưởng khách du lòch lớn nhất thế giới, mở ra triển vọng to lớn cho
sự phát triển ngành công nghiệp du lòch của các nước ASEAN. Ngành du lòch là
một ngành được ưu tiên phát triển và đầu tư trong các nước ASEAN.
- Sự quốc tế hóa du lòch:
Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay, nền kinh tế thế giới trải qua
những bước thăng trầm và không ngừng phát triển đi lên. Song song với việc
phát triển kinh tế, hoạt động du lòch càng trở nên nhộn nhòp và mang lại hiệu
doanh thu ngành du lòch.
- Du lòch và sự phát triển đòa phương:
Việc phát triển công nghiệp dẫn đến đô thò hóa dân chúng có khuynh
hướng rời bỏ làng mạc hoặc những vùng đất phì nhiêu để sinh sống. Những việc
phát triển du lòch tại một đòa phương nào đó sẽ kéo theo các ngành khác phát
triển, giải quyết lực lượng lao động dư thừa, đổi mới bộ mặc xã hội, các cơ sở hạ
tầng được kiến tạo để thích hợp với du khách. Du lòch, một ngòi nổ để phát triển
các ngành khác. Chúng ta có th ể giữ tầm quan trọng của du lòch khi biết chính
phủ Singapo đang triển khai kế hoạch chi hơn 13 tỉ USD để nâng cấp ngành du
lòch có sự tham gia của 12 bộ trong chính phủ. Tại Australia với mạng lưới gồm
22 nghìn khách sạn, 52 nghìn nhà nghó tư nhân, có 39 nghìn hiệu cà phê, có 1500
bãi tắm và hồ bơi, 5000 sân quần vợt, 200 phòng thể dục thể thao, 60 trường leo
núi, 601 trường trượt tuyết, 80 vườn bách thảo và nhiều cơ sở sản xuất các hàng
hóa tiêu dùng , thủ công mỹ nghệ.... đã đem lại hàng triệu công ăn việc làm cho
người lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa - dòch vụ thỏa mãn nhu cầu
khách quốc tế và dân sở tại, thu về một nguồn lợi lớn cho nhà nước Úc.
II. 2. Quá trình hình thành và phát triển ngành du lòch ở nước ta:
Có thể nói rằng du lòch của người dân trên đất nước ta đã có từ lâu đời.
Người Việt đã biết du lòch nghóa là đi chơi một cách lòch lãm và đã đúc rút được
thú vui đặc trưng khi đi du lòch đó là: “trà tam tửu tứ du hành nhò”. Tuy nhiên, nó
chỉ là nhu cầu du lòch vốn có tiềm ẩn trong con người nói chung, song ngành du
lòch Việt Nam thì mãi 1960 mới được hình thành. Có thể chia quá trình hình
thành và phát triển ngành du lòch Việt Nam thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn đầu từ 1960 - 1975: Cơ sở vật chất kó thuật, trang thiết bò vật tư
còn nhiều thi ếu thốn, đội ngũ cán bộn nhân viên phục vụ chưa nhiều kinh
nghiệm, trình độ chuyên môn nghi ệp vụ còn hạn chế. Do tính chất nhiệm vụ
của đất nước trong giai đoạn này mà du lòch chưa có điều kiện phát triển.
13
này phát triển tương đối nhanh. So với thời kỳ 1976-1980 thì khách du lòch nội
đòa thơì kỳ 1981-1985 tăng 15,6 lần và thời kỳ 1989 tăng 21,7 lần.
14
Nhìn chung hoạt động du lich giai đoạn này vẫn mang nặng tính chất phục
vụ theo cơ chế của nền kinh tế tập trung bao cấp, đặc biệt là trong lónh vực du
lòch nội đòa.
Giai đoạn từ 1990 đến nay: trong giai đoạn này ngành du lòch có sự
chuyển biến khá mạnh mẽ.
Tình hình hoạt động kinh doanh: Lượng khách quốc tế tăng từ 250 ngàn
ngừơi năm 1990 lên 1 triệu năm 1994 và 1,3 triệu năm 1995.Khách nội điạ tăng
từ 1 triệu năm 1995 lên 3,5 tiệu năm 1994 và 5-5,5 triệu năm 1995; 1997-1998
trên 8.000 tỷ.
Du khách từ các nước vào Việt Nam tham quan du lòch, tìm hiểu cơ hội
đầu tư; kinh doanh buôn bán, Việt kiều về thăm quê hương .v.v… ngày càng
đông dẫn đến tổng doanh thu từ du lòch ngày càng cao. Tổng thu nhập của xã hội
từ du lòch là khoảng 8.000tỷ năm 1995 (800triệu USD) và 9.500 tỷ (1996); 1998
là 8.200tỷ.
Bảng kết quả kinh doanh du lòch qua các năm:
Năm
Khách quốc tế
(triệu người)
Khách nội đòa
(triệu người)
Doanh thu (tỷ
1.350
50
1993
670.000
2.700.000
2.500
120
1994
1.018.000
3.200.000
4.000
210
1995
1.300.000
5.000.000
8.200
500
(Nguồn : Tổng cục du lòch)
Có được kết qua như vậy là nhờ chính sách mở cửa, ổn đònh chính trò, phát
triển kinh tế của đất nước. Đó cũng là kết quảcủa những có gắng phấn đấu trong
toàn ngành du lòch cũng như các ngành có liên quanđến cải tiến cơ chế quản lý,
đổi mới chính sách hoàn thiện tổ chức, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh
doanh dòch vụ du lòch.
15
So với các nước, số lượng khách du lòch Quốc tế vào Việt Nam chưa
nhiều, nhưng đó là con số rất có ý nghóa của ngành du lòch Việt Nam. Nhòp độ
tăng trung bình hàng năm là 40% là rất khả quan cho ngành du lòch. Tuy nhiên
khi so sánh về số lượng khách du lòch Quốc tế đến các nước lân cận thuộc khố
ASEAN, ta có thể nhận thấy một cách dễ dàng rằng Việt Nam đi chậm rất nhiều
so với các nước trong khu vực .
Bảng : Tăng trưởng số lượng khách du lòch Quốc tế đến các nước thuộc
ASEAN và Việt Nam.
Lượng khách du lòch Quốc tế đến
Các nươcù ASEAN
Việt Nam
Thò phần tươngđối của
1993
23.600.314
670.000
2,84
1994
24.500.000
1.018.000
4,16
1995
28.856.000
1.300.000
4,51
(năm)
(Nguồn : Tổng cục du lòch)
Về cơ sở vật chất, hiện nay đã có trên 2.300 cơ sở lưu trú với 42.000
phòng. Trong đó có 22.000 phòng đủ tiêu chuẩn phục vụ khách Quốc tế, với một
số khu du lòch, cơ sở vui chơi giải trí được hình thành, các phương tiện vận
điểm là vao giữa năm 1998. Chỉ nói riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh khi hai đại
khách sạn Sotifel Plaza & Delta Caravelle đưa thêm 620 phòng vào khai thác
nâng tổng số phòng lên 14.867 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế, dẫn đến cơn bão
“hạ giá phòng”, tình trạng cạnh tranh phòng không lành mạnh giữa các khách
sạn, các công ty lữ hành … Đã làm chao đảo trong kinh doanh du lòch suốt hai
năm qua.
- Việc mở ra đủ loại dòch vụ khác nhau để gọi là “kinh doanh du lòch”
nhưng chất lượng các dòch vụ còn thấp hoặc bò biến tướng không phù hợp với yêu
cầu về thuần phong mỹ thuật, văn hóa dân tộc, gây nên sự lộn xôn thiếu mỹ
quan… Điều này đã làm xấu đi những cảnh quan du lòch, thậm chí làm ảnh hưởng
đến cả một số di tích lòch sử, văn hóa của dân tộc, gây ô nhiễm môi trường, làm
giảm bớt giá trò của sản phẩm du lòch Việt Nam đối với khách du lòch quốc tế.
- Về trình độ tổ chức quản lý, kinh nghiệm sẵn có cũng như trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của những người làm công tác du lòch chưa đáp ứng được
yêu cầu. Các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân các công ty TNHH…
đổ xô nhau vào làm du lòch mà không nhận thức đúng đắn về du lòch, gây xáo
trộn mất trật tự, không thể quản lý nỗi. Từ đó sẽ dẫn đến giá phải trả không thể
lường trước được.
17
- Du khách đến Việt Nam so với các nước chưa phải là nhiều song đã phát
sinh nhiều chuyện phải bàn, không phải chí có trách nhiệm của riêng ngành du
lòch. nó liên quan đến các ngành nội vụ, ngoại giao, hải quan, hàng không, giao
thông, văn hóa, ngân hàng, tài chính, thương mại… rồi nội bộ ngành du lòch cũng
có những mâu thuẫn, cạnh tranh nhau, tạo nên những sơ hở về mặt quản lý cấp
nhà nước.
Tất cả những thiếu sót nói trên, cần được sự phối hợp của nhiều bộ, nhiều
ngành cùng hiệp đồng giải quyết. Tất nhiên, bản thân ngành du lòch trước hết
phải nỗ lực phát huy, khai thác mọi yếu tố nội lực của mình để vượt qua những
Và du lich sinh thái phát triển sẽ dẫn đến tình trạng nền văn hoá mai một hoặc
bò pha tạp. Vì mục đích kinh doanh, người ta di dời dân đòa phương đi nơi khác.
Sự lai căng văn hóa từ nhiều nơi mang đến là điều không thể tránh khỏi.
Như vậy: Du lòch sinh thái đòi hỏi ngành du lòch và khách du lòch ý thức
bảo vệ môi sinh và con người. Đối với chính quyền, các cơ quan chức năng cần
quản lý chặt chẽ các dự án phát triển du lòch, các công trình xây dựng khách
sạn, cơ sở hạ tầng cùng các tiện nghi du lòch không được ảnh hưởng đến sinh
thái thiên nhiên.
Du lòch sinh thái còn có những tên gọi khác nhau như:
-
Du lòch thiên nhiên
-
Du lòch dựa vào thiên nhiên
-
Du lòch môi trường
-
Du lòch xanh
-
Du lòch có trách nhiệm.
Thống kê năm1996 của tổ chức du lòch thế giới (WTO) cho biết, trong
và cao nguyên với nhiều loài chim thú. Khí hậu Việt nam ôn hoà, bốn muà
thuận lợi cho du lòch, tham quan, giải trí ngoài trời. Việt Nam sẽ trở thành một
trong những điểm du lòch sinh thái hấp dẫn trong khu vực và trên thế giới . Cụ
thể:
Bắc bộ: Có Vònh Hạ Long nổi tiếng là một kỳ quan thế giói, rừng Cúc
Phương nguyên sinh được bảo tồn. Tam đảo có khí hậu ôn đới, bãi biển Đồ Sơn
không bò ô nhiễm, Hà Nội có hồ gươm, có các công trình và di tích cổ xưa như
Văn Miếu
Trung bộ: Có sông Hương, núi Ngự, chùa Thiên Mụ, phố cổ Hội An.
Trong các bãi biển miền Trung phải kể đến bãi biển Nha Trang cát trắng. Đi
bằng đường bộ, đường sắt , hàng không hay đường biển, du khách sẽ thấy bãi
20
biển Đại Lãnh vơí hình trăng non cách Nha Trang 80 km về phía Bắc. Và 40 km
về phía Nam thò trấn Tuy Hoà lấp lánh nước biển trong xanh dưới răng thông rì
rào. Nếu khách đi qua bằng xe lửa sẽ qua bảy đường hầm xuyên núi liên tục ,có
hầm đá đen nổi tiếng dài gần 1000m phong canh thiên nhiên chưa bò con người
tàn phá .
Miền cao nguyên trung bộ với Pleiku, Kontum, Daklak đất đỏ bazan thuận
lợi cho việc trồng cây công nghiệp. Đà Lạt với những đồi thông, thác nước thiên
nhiên hùng vó, hồ nước có phong cảnh ngoạn mục, ngoài ra, khí hậu ở đây là tài
nguyên có một không hai ở Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam Á. Ởû đây
khí hậu có thể cảm nhận được bốn mùa trong một ngày. Bảo Lộc có rừng
nguyên sinh Nam Cát Tiên với nhiều muông thú (gần đây đã phát hiên được loài
tê giác 1 sừng).
Nam Bộ: Đồng Nai có suối nước nóng Bình Châu ở Xuyên Mộc là nơi
ngoài việc du lòch còn có khả năng chữa bệnh bằng nước khoáng, các căn cứ
thời chiến tranh của Thái Lan, Nam Triều Tiên và Úc, nay được phục hồi rất
phù hợp với khách du lòch cựu chiến binh về thăm những kỷ niện xưa.
nằm bên trái Quốc Lộ 1với nền văn hóa mạng đậm nét Khơme và người Hoa.
Ngoài các vườn chim như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Sóc Trăng
còn có Chùa Dơi, được xây dựng trên 300 năm với hàng trăm ngàn con đơi bay
đi ăn trái cây ở nơi khác mà không hề phá vườn cây trái quanh chùa.
Ta thấy ,Việt Nam có tiềm năng về du lòch sinh thái hay du lòch thiên
nhiên rất phong phú và đa dạng. Môi trường thiên nhiên gần như nguyên vẹn
không có ô nhiễm bởi sự phát triển công nghiệp và đô thò hoá thích hợp với các
loại hình du lòch trên. Riêng đồng bằng sông Cửu Long có khả năng phát triển
mạnh loại hình du lòch sinh thái sông nước.
III. ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN
VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC DU LỊCH SINH THÁI VÙNG ĐỒNG
BẰNG SÔNG CƯỦ LONG.
III. 1. Phương pháp đánh giá tài nguyên du lòch tự nhiên.
III. 1.1 Phương pháp đánh giá:
- Xác đònh khả năng thuận lợi (tốt, trung bình, kém) của các loại tài
nguyên du lòch đối với hoạt động du lich.
- Xác đònh khả năng khai thác loại hình du lòch, qui mô hoạt động (quốc
tế; đòa phương) nhằm thiết kế các tuyến du lòch.
III. 1.2. Các chỉ tiêu đánh giá
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu và đánh giá có từ trước đến nay của
các ngành khoa học (Đặng Duy Lợi: 1992; Nguyễn Minh Tuệ: 1993; Trần Văn
Thành: 1995), để xây dựng thang đánh giá theo 3 chỉ tiêu thu hút khách du lòch
22
(tính hấp dẫn, tính an toàn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật ) và 4 chỉ tiêu quản lý khác
(sức chứa, tính thời vụ, tính liên kết và tính bền vững). Các chỉ tiêu được đánh
giá theo 4 bậc tương ứng với mức độ thuận lợi, áp dụng đánh giá tài nguyên du
lòch tự nhiên (TNDLTN).
Chỉ tiêu này có ý nghóa quyết đònh đến hoạt động du lòch (HĐDL). Thiếu
nó, dù tài nguyên du lòch có hấp dẫn, độc đáo đến đâu cũng vẫn chỉ tồn tại ở
dạng tiềm năng, không thể khai thác cho hoạt động du lòch, hoặc nếu triển khai
thì sẽ có những tác động tiêu cực làm tổn hại đến tính bền vững của môi trường
tự nhiên (MTTN).
a. Rất tốt: CSHT & VCKT đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế
(khách sạn đạt từ 3 sao trở lên, phương tiện giao thông liên lạc quốc tế).
b. Khá: CSHT & VCKT đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế
(khách sạn đạt từ 1-2 sao trở lên, phương tiện giao thông liên lạc tại
chổ).
c. Trung bình: có được một số CSHT & VCKT nhưng chưa đồng bộ, chưa
đủ tiện nghi.
d. Kém: Còn thiếu nhiều CSHT & VCKT, nếu có thì chất lượng thấp và
có tính quyết đònh đối với việc thu hút khách du lòch.
Ba tiêu chuẩn trên về tính hấp dẫn, tính an toàn và CSHT & VCKT có
tính quyết đònh đối với việc thu hút khách du lòch.
- Tính bền vững:
Tính bền vững của môi trường tự nhiên nói lên khả năng bền vững của
các thành phần và bộ phận tự nhiên trước áp lực của hoạt động du lòch của
khách du lòch và các hiện tượng tự nhiên tiêu cực hoặc thiên tai.
a. Rất bền vững: Không có thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bò phá
hoại (rừng, đất, động vật,…), khả năng tự phục hồi cân bằng sinh thái
của môi trường nhanh, tài nguyên du lòch tự nhiên tồn tại vững chắc
trên một trăm năm hoạt động du lòch diễn ra liên tục.
b. Khá bền vững: có 1 đến 2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bò phá
hoại ở mức độ không đáng kể, có khả năng tự phục hồi nhanh, tài
nguyên du lòch tự nhiên tồn tại vững chắc trên 50-100 năm hoạt động
du lòch diễn ra thường xuyên.
c. Trung bình: có từ 1-2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bò phá
hoại ở mức độ đáng kể phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới