Chuyên đề tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, những nước càng có mức sống cao thì nhu cầu tiêu thụ
sản phẩm trái cây càng lớn đặc biệt là hoa quả tươi. Chúng là một phẩn không
thể thiếu trong mỗi bữa ăn của họ. Hoa quả tươi là một món ăn rất có ích nó
không chỉ cung cấp chất khoáng và nhiều loại Vitamin khác nhau, hoa quả
còn có tác dụng rất tốt trong việc tiêu hoá thực phẩm.
Ở một nước phát triển, cây ăn quả được coi là một ngành kinh tế quan
trọng, thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế xã
hội nói chung. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nước
không có điều kiện để phát triển cây ăn quả hoặc trình độ sản xuất cây ăn quả
nằm ở mức thấp, không tự đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng hoa quả do đó
Nhà nước phải có những chính sách nhập khẩu quả tươi. Sự điều phối thị
trường mua bán hoa quả cả sản phẩm tươi cũng như sản phẩm chế biến, tạo
nên sự giao lưu hàng hoá ngày càng rộng rãi và trở thành một nhân tố kích
thích cho sự phát triển cây ăn quả trên phạm vi toàn thế giới.
Ở Việt Nam, sau khi vấn đề lương thực được giải quyết một cách cơ
bản thì nhu cầu trái cây tươi ngày càng một gia tăng ( bình quân tiêu dùng trái
cây/ đầu người một năm là 60kg trong năm 2000 và dự báo đến năm 2010 là
70kg). Sự giao lưu hàng hoá trái cây giữa các vùng miền trong cả nước diễn
ra khá sôi động. Tạo ra một thị trường trái cây phong phú và đa dạng.
Trong những năm trước đây việc sản xuất trái cây chưa đựơc quan tâm
đúng mực, tốc độ phát triển chậm và còn mang tính tự phát, kim ngạch xuất
khẩu trái cây thấp, ngay cả tiêu thụ nội địa cũng chưa đáp ứng nhu cầu. Ngày
nay đời sống được nâng lên đồng nghĩa với việc nhu cầu trái cây đang có xu
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 2
hướng ngày càng tăng đứng trước điều đó nhà nước ta nhận thấy được tầm
quan trọng của ngành cây ăn trái đối với nền kinh tế.
Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long được coi là vựa trái cây lớn nhất cả
Mối quan hệ giữa thị trường trái cây trong và ngoài nước. Các nhân tố
thúc đẩy phát triển, các nhân tố đang là rào cản và từ đó đưa ra các phương
hướng và giải pháp phát triển.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tiến hành trên phạm vi toàn bộ vùng Đồng Bằng
Sông Cửu Long
4. Nội dung của đề tài bao gồm
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương I: Vai trò của ngành trông cây ăn quả trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Chương II: Phân tích thực trạng và quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành trồng cây ăn quả tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Chương III: Định hướng và một số giải pháp thay đổi cơ cấu cây ăn
quả tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
KẾT LUẬN
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 4
NỘI DUNG
Chương I: Vai trò của ngành trông cây ăn quả trong quá trình
phát triển Điều kinh tế xã hội tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
1.1 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội của Vùng Đồng
Bằng Sông Cửu Long:
Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cực Nam nước ta, kéo dài từ 11
0
đến
khoảng 8
0
30
’
Nhờ có đường biên giáp Campuchia, là phần nối tiếp của Đông Nam Bộ theo
chiều dài của đất nước, các tỉnh duyên hải của Tây Nam Bộ giáp biển, có
đường giao thông hàng không và hàng hải quốc tế giữa Đông Á và Nam Á,
Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Do đó Đồng Bằng Sông Cửu Long có
điều kiện giao lưu và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nền kinh tế
năng động trong khu vực để phát triển kinh tế.
Đồng Bằng Sông Cửu Long được phủ lên một mạng lưới sông rạch,
kênh đào dày đặc. Tổng lượng nước ngọt của hệ thống sông Cửu Long là 5 tỷ
m
3
. Lượng nước phân bổ không đều theo mùa mưa, bắt đầu từ tháng 7 tháng
8, kết thúc vào tháng 11 tháng 12 dễ gây ngập lụt; mùa khô, nguồn nước giảm
dần. Lượng nước ngầm có trữ lượng lớn khoảng 84 triệu m
3
/ ngày, hiện chỉ
khai thác và sử dụng 1triệu m
3
/ngày. Nước được sử dụng vào tưới tiêu, tẩy
mặn, rửa chua.
Vùng có 736km bờ biển với nhiều cửa sông và vịnh, điều kịên thuận lợi
để phát triển rừng ngập mặn chủ yếu là tràm, dừa, khoảng 150.000ha là môi
trường sinh thái tự nhiên có ý nghĩa lớn về phương diện kinh tế.
Cấu trúc địa hình đất đai ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có đặc trưng là
những sống đất ven sông và đất vùng duyên hải cao ráo, do có sự bồi đắp phù
sa mạnh mẽ của Sông Cửu Long đổ về sông Tiền, sông Hậu ở Nam Bộ và qua
một mạng lưới kênh rạch và cửa sông. Do đặc điểm địa hình của vùng sóng
triều tác động sâu vào đất liền, chu kỳ của thủy triều cũng đã ảnh hưởng rất
lớn tới lưu thông đường thủy, cũng như hoạt động sinh hoạt hàng ngày của
người dân trong vùng.
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ở Đồng Bằng Sông Cửu Long phát triển
không đều và còn nhiều yếu kém, chưa đủ sức đáp ứng vai trò thúc đẩy sự
chuyển biến kinh tế nông thôn. Nếu so với tình hình chung cả nước, thì cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây còn nhiều yếu tố bất cập rất lớn trong
phát triển kinh tế tương ứng với vị thế của vùng đất có vị trí kinh tế quan
trọng, ẩn chứa những tiềm năng kinh tế nhất định. Đặc biệt trong phát triển
nông nghiệp, tình trạng lũ lụt, phèn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long đòi hỏi
phải có hệ thống thuỷ lợi khả năng cải tạo được tự nhiên mới đảm bảo cho
nông nghiệp phát triển theo hướng đa canh, thâm canh để nâng cao số lượng,
chất lượng nông phẩm.
1.1.2.2 Về dân số và lao động
Tính đến năm 2007, diện tích vùng đồng bằng Sông Cửu Long là
40604.7 km
2
dân số vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gần 17.415 triệu người,
mật độ dân số là 429 người/km
2
. Thành phần dân tộc chủ yếu là người Việt,
dân tộc ít người chủ yếu là người Khơme.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và cơ học những năm qua đều cao. Sự gia
tăng dân số đã góp phần cung cấp thường xuyên nguồn nhân lực cho việc
phát triển kinh tế. Tuy vậy, khi nền kinh tế ở trình độ còn thấp kém, kinh tế
nông nghiệp là chủ yếu, công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển, thì sự gia
tăng dân số sẽ gây sức ép đối với nền kinh tế. Tình trạng dân số tăng, nhưng
đất đai canh tác lại có giới hạn nên vấn đề việc làm của toàn xã hội.
Dân cư phân bố không đều, sự chênh lệch thể hiện giữa các tỉnh khá rõ
nét. Chính sự phân bố không đều về dân cư cũng gây ra hiện tượng thừa,
thiếu lao động giữa các địa phương trong vùng. Mặt khác con người là yếu tố
quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng học vấn của dân cư ở đây lại
thấp và ngày càng tụt hậu so với các vùng đô thị.
Chuyên đề tốt nghiệp 9
nhanh, có khả năng tác động tạo đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn, thu hút
lao động thừa trong nông nghiệp.
Ngành du lịch, cơ sỏ vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, hoạt động còn
đơn điệu, khả năng thu hút khách còn hạn chế.
Nhìn chung, tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP có giảm, nhưng giá
trị tuyệt đối vẫn tăng, điều này phản ánh hiện trạng kinh tế với nông nghiệp là
cơ bản, công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ, xu hướng tăng chậm. Nhiều
vùng nông thôn sản xuất còn mang tính thuần nông, kinh tế tự cấp, tự túc còn
chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế. Sản xuất ở nông thôn phân tán theo
quy mô hộ gia đình, với lao động thủ công là phổ biến. Do vậy, phần lớn cư
dân và lao động thủ công vẫn tập trung ở khu vực nông nghiệp nông thôn.
Lao động thừa ở nông thôn tràn ra thành thị lam gay gắt thêm tình trạng thừa
lao động ở đô thị.
1.2 Vai trò của ngành nông nghiệp và ngành trồng cây ăn quả
1.2.1 Vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc
dân.
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học -
kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm
năng sinh học – cây trồng, vật nuôi.
Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành
chăn nuôi, ngành dịch vụ. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng thì còn bao
gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản.
1.2.1.1 Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu
xã hội.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong
việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển.
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 10
của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp,
ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong đó thuế có vị trí rất quan
trọng.
1.2.1.3 Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ
Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp. Ở
hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu
dùng và tư liệu sản xuất Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông
thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát
triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăng
sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng,
thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của
nông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới.
1.2.1.4 Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu
Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn.
Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với
các hàng hóa công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất
khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản. Tuy nhiên
xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới
có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên,
tỷ giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng
mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và
đô thị.
Gần đây một số nước đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại
nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước.
1.2.1.5 Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 12
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển
bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi
trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn. Nông nghiệp sử dụng
nền sản xuất nông nghiệp từ độc canh lương thực sang nền nông nghiệp đa
canh có nhiều sản phẩm hàng hoá giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị
trường và góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
1.2.2.2 Vai trò của ngành trồng cây ăn quả
Từ xưa đến nay trái cây luôn là nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên của
con người, giá trị dinh dưỡng và sinh tố của các loại quả đã khiến trái cây
luôn đựơc con người sử dụng ngày càng nhiều trong cuộc sống đời thường.
Theo tài liệu nghiên cứu của FAO sản lượng các loại trái cây toàn thế giới
thời kỳ 1989-1991 là 352 triệu tấn/năm, đến năm 2000 đã tăng lên đạt 429.4
triệu tấn/năm (tăng 22%). Năm 2000 sản lượng bình quân đầu người trên thế
giới là 73kg. Năm 2000 tốc độ tiêu thụ trái cây tăng lên rõ rệt, trong khi các
loại nông sản chủ yếu khác đều giảm đi.
Rau quả chiếm vị trí đáng kể trong cơ cấu nông sản xuất khẩu ở nhiều
nước trên thế giới. Theo FAO tỷ trọng rau quả trong tổng giá trị nông sản
xuất khẩu năm 1996 ở một số nước như sau: Trung Quốc 23.8%; Thái Lan
18.1% ; Hàn Quốc 14.4%.
Theo số liệu thống kê trong những năm gần đây (1996-2000), diện tích
cây ăn quả cả nước tăng lên nhanh và liên tục, từ 260.9 ngàn ha năm 1996 lên
đến 438.8 ngàn ha vào năm 2000
Giá trị sản xuất cây ăn quả trong 5 năm qua cũng tăng lên liên tục, song
tốc độ tăng chưa tương xứng với mức tăng diện tích trồng, vì cây ăn quả phải
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 14
trải qua một thời kỳ chăm sóc từ 2 đến 4 năm mới bắt đầu có quả và năng suất
sẽ tăng lên dần. Do vậy tỷ trọng cây ăn quả trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng
trọt trong 5 năm qua không tăng, bình quân là 8.3%. Tính ra năm 2000 cây ăn
quả mới chiếm 7.9% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước.
1.2.3 Kinh nghiệm một số nước về phát triển ngành trồng cây
ăn quả
Đầu tư vào việc nghiên cứu và ứng dụng các loại trái cây có chất
lượng cao kể cả việc nhập khẩu các loại giống cây có chất lượng cao từ các
nước có nền nông nghiệp phát triển. Thái Lan đã xây dựng những trung tâm
nghiên cứu và phát triển các giống cây trồng và vật nuôi chất lượng cao như
giống lúa, sắn lát và các loại gia súc gia cầm.
Đầu tư vào khâu chế biến và bảo quản đồng bộ đặc biệt là việc đầu tư
vào việc thiết kế và sản xuất bao bì hấp dẫn người mua. Các cơ sở chế biến
nông sản của Thái Lan thường có quy mô lớn.
Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và xuất khẩu nông sản như
thành lập các điểm thu mua trái cây, kho chứa, bến bãi, cảng chuyên dùng cho
xuất khẩu trái cây. Các chi phí bốc xếp hàng nông sản xuất khẩu và các chi
phí có liên quan ở Thái Lan thấp hơn ở Việt Nam hai lần.
Đầu tư vào khâu tiêu thụ, quảng bá và phát triển thương hiệu sản phẩm
trong và ngoài nước.
Đa dạng hóa các sản phẩm trái cây xuất khẩu. Bên cạnh việc xuất khẩu
trái cây, Thái Lan còn phát triển mạnh các sản phẩm được chế biến từ trái
cây.
Coi trọng việc học tập kinh nghiệm của các nước có nền nông nghiệp
phát triển. Thái Lan là một nước có quan hệ thân thiện với Mỹ - một nước có
nền nông nghiệp phát triển cao. Thái Lan đã coi trọng việc học tập kinh
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 16
nghiệm của Mỹ là một có nền nông nghiệp đã được thương mại hoá khá cao
và chú trọng việc khai thác thị trường xuất khẩu quan trọng của Mỹ.
Điểm nổi bật đối với trường hợp của Thái Lan là Thái Lan đặc biệt coi
trọng đến việc nâng cao giá trị gia tăng của nông sản trong khâu tiêu thụ
thông qua việc quảng bá, phát triển thương hiệu. Thái Lan coi trọng rất lớn
đến việc phát triển nhãn hiệu thương mại của sản phẩm theo từng thị trường.
Việc tạo dựng thương hiệu các sản phẩm theo từng thị trường. Việc tạo dựng
thương hiệu các sản phẩm của Thái Lan trên thị trường thế giới có thể do yếu
cầu sản phẩm trái cây trên thế giới để phục vụ cho việc nâng cao giá trị gia
tăng của sản phẩm trái cây xuất khẩu. Các xu hướng này chi phối việc xây
dựng các chính sách, chương trình và kế hoạch nâng cao giá trị gia tăng hàng
nông sản xuất khẩu đặc biệt là các sản phẩm từ trái cây được xuất khẩu. Đây
là những xu hướng được Trung Quốc cân nhắc và sử dụng làm tiêu điểm để
điều chỉnh các chính sách hiện có và xây dựng các chính sách mới. Các xu
hướng được Trung Quốc cân nhắc và sử dụng làm tiêu điểm để điều chỉnh:
Cải tạo kỹ thuật đối với những giống cây trồng truyền thống, thúc đẩy
phát triển những giống cây trồng mới.
Liên kết bốn nhà (vườn, vận chuyển, chế biến, tiêu thu) để cùng phát
triển ngành trồng trọt
Tăng cường nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu
triển khai.
Phát triển khoa học – kỹ thuật nông nghiệp là một quốc sách
Coi trọng việc mở rộng giao lưu, hợp tác khoa học – kỹ thuật trên lĩnh
vực nông nghiệp trên toàn thế giới.
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 18
Có thể nói, các xu hướng phát triển của nền nông nghiệp thế giới xoay
quanh việc làm gia tăng giá trị hàng nông sản kể cả các mặt hàng trái cây xuất
khẩu trên cơ sở ứng dụng các kết quả nghiên cứu trên lĩnh vực khoa học –
công nghệ.
Trọng điểm phát triển khoa học – kỹ thuật nông nghiệp thế giới cũng
đã được Trung Quốc tiếp cận hợp lý và tập trung đầu tư thỏa đáng. Các trọng
điểm được áp dụng cho phù hợp như:
Tận dụng hết tiềm lực và tính di truyền của giống cây ăn quả
Duy trì và nâng cao độ màu mỡ của đất
Bảo vệ và sử dụng hữu hiệu nguồn nước
Nâng cao trình độ canh tác và trồng trọt một cách khoa học
Cải tiến kỹ thuật chế biến, bảo quản và vận chuyển trái cây
cây ăn quả Việt Nam trong những năm tới đây.
2.1 Phân tích thực trạng phát triển ngành trồng cây ăn quả của
Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
2.1.1 Thực trạng phát triển ngành trồng cây ăn quả của Vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Đồng Bằng Sông Cửu Long có lợi thế là một trong những vùng đồng
bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam Á và trên thế giới. Điều kiện tự
nhiên là một trong những lợi thế: đất đai màu mỡ, nguồn nước tưới dồi dào và
thời gian chiếu sang quanh năm rất thuận lợi để sản xuất nông nghịêp. Với
diện tích tự nhiên là 4060.4 nghìn ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp
chiếm 2575.9 nghìn ha tương ứng là 63.4%, diện tích đất lâm nghiệp là 356.2
nghìn ha tương ứng là 8.8%, đất chuyên dùng là 219.5 nghìn ha chiếm 5.4%
và đất ở chiếm 2.7%.
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 20
Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng ở đất của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Đơn vị: nghìn ha
tổng diện
tích
trong đó
đất sx nông
nghiệp
đất lâm
nghiệp
đất chuyên
dùng
đất ở
4060.4 2575.9 356.2 219.5 1085.5
100% 63.40% 8.80% 5.40% 2.70%
Nguồn: Niêm giám thống kê 2006
về cơ bản đã được thực hiện. Đầu tư cho phát triển đã được tăng cường
(trong 5 năm 2000-2005, đầu tư phát triển từ ngân sách khoảng 31790 tỷ
đồng, chiếm khoảng 17% so với cả nước - tăng hơn 1,7 lần so với 5 năm
1996-2000). Kinh tế Đồng Bằng Sông Cửu Long đã tăng trưởng đáng kể -
nếu tính theo giá cố định 1994 thì trong giai đoạn 2000-2006 GDP toàn
vùng tăng bình quân hàng năm 9%.
2.1.1.1 Diện tích trồng cây ăn quả
Trong cơ cấu đất nông nghiệp ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long: đất
trồng lúa – màu chiếm 71.68%, đất nuôi trồng thuỷ sản chiếm 21.02%, đất
trồng cây ăn trái chiếm 7.3%.
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu đất nông nghiệp vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
71.68%
21.02%
7.30%
đất trồng lúa
đất nôi trồng
thuỷ sản
đất trồng cây
ăn trái
Nguồn số liệu theo báo nhà nông.net
Cơ cấu đất nông nghiệp chuyển biến theo hướng tích cực, đã có sự
thay đổi đáng kể theo hướng giảm đất lúa, tăng đất trồng cây ăn trái và các
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 22
loại rau màu thực phẩm. Theo số liệu thống kê, diện tích trồng cây ăn trái
của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long trong những năm gần đây tăng khá
nhanh, với tốc độ tăng bình quân đạt trên 8.5 %/năm. Hiện nay diện tích cây
ăn trái ứơc khoảng 300 ngàn ha, sản lượng đạt 2.93 triệu tấn (chiếm 35.1%
về diện tích cây ăn trái cả nước và 46.1% về sản lượng trái cây cả nước).
2.1.1.2 Về giống cây trồng
giới.
2.1.1.2 Sản lượng trái cây
Việt Nam là một trong những nước ở Đông Nam Á được thiên nhiên ưu
đãi, có nhiều loại trái cây đặc sản, trong đó nhiều và đa dạng nhất ở các tỉnh
Nam bộ. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 755.000 ha diện tích trồng cây ăn trái
với sản lượng đạt 6,5 triệu tấn. Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng có
diện tích cây ăn quả lớn nhất, với gần 300 ngàn ha, sản lượng đạt 2,39 triệu
tấn, chiếm 35,1% về diện tích và 46,1% về sản lượng trái cây cả nước, trong
đó có một số loại trái cây có tiềm năng đạt sản lượng lớn như:
Cam sành: được trồng tập trung ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, với
diện tích 28,7 ngàn ha, cho sản lượng trên 200 ngàn tấn. Địa phương có sản
lượng lớn nhất là tỉnh Vĩnh Long: năm 2005 cho sản lượng trên 47 ngàn tấn.
Tiếp theo là các tỉnh Bến Tre (45 ngàn tấn) và Tiền Giang (42 ngàn tấn).
Thanh long: được trồng tập trung chủ yếu ở Tiền Giang, có 2 ngàn ha.
Thanh long là loại trái cây có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất so với các loại
quả khác.
Bưởi: Tổng diện tích bưởi Năm Roi là 9,2 ngàn ha, phân bố chính ở
tỉnh Vĩnh Long (diện tích 4,5 ngàn ha cho sản lượng 31,3 ngàn tấn, chiếm
48,6% về diện tích và 54,3% về sản lượng bưởi Năm Roi cả nước); trong đó
tập trung ở huyện Bình Minh: 3,4 ngàn ha đạt sản lượng gần 30 ngàn tấn.
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp 24
Xoài: cũng là loại cây trồng có tỷ trọng diện tích lớn của Việt Nam.
Hiện có nhiều giống xoài đang được trồng ở nước ta; giống có chất lượng cao
và được trồng tập trung là giống xoài cát Hoà Lộc. Xoài cát Hoà Lộc được
phân bố chính dọc theo sông Tiền (cách cầu Mỹ Thuận khoảng 20-25 km) với
diện tích 4,4 ngàn ha đạt sản lượng 22,6 ngàn tấn. Diện tích xoài Hoà Lộc tập
trung chủ yếu ở tỉnh Tiền Giang (diện tích 1,6 ngàn ha, sản lượng 10,1 ngàn
tấn); tiếp theo là tỉnh Đồng Tháp (873 ha, sản lượng 4,3 ngàn tấn).
Măng cụt: là loại trái cây nhiệt đới rất ngon và bổ. Măng cụt phân bố ở
259
284.9
0
500
1000
1500
2004 2005 2006 2007
năm
triệu USD
Nguồn số liệu theo báo nhà nông.net
Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của mặt hàng này trong xuất khẩu còn
nhiều vấn đề cần quan tâm. Ở nước ta rau quả là một trong những ngành hàng
có tiềm năng xuất khẩu lớn nhưng hiện trạng xuất khẩu rau quả của Việt Nam
vẫn còn nhiều khó khăn. Nguyên nhân là chi phí vận chuyển tăng cao, phương
tiện vận chuyển và bảo quản còn nhiều yếu kém gây ảnh hưởng đến chất
lượng và tiêu chuẩn, giá thành không có tính cạnh tranh, không đủ khối lượng
cung ứng theo nhu cầu, không có thương hiệu, chất lượng không cao và
không đồng đều, phương thức thanh toán không linh hoạt...
Giá rau quả Việt Nam thường đắt hơn so với rau quả cùng loại của các
nước nhiệt đới khác. Trong tháng 12/2001, khi sầu riêng Mongthon hạt lép
Sinh viên: Vũ Thanh Ly Khoa kế hoạch và phát triển