Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong thời gian qua đã thu được những kết
quả bước đầu quan trọng. Việt Nam không những đã vượt qua được sự khủng
hoảng triền miên trong thập kỷ 80 mà còn đạt được những thành tựu to lớn trong
phát triển kinh tế xã hội. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân năm
6,94% (sau 17 năm đổi mới 1986-2003). Công nghiệp giữ nhịp độ tăng giá trị
sản xuất bình quân hàng năm 13,5%, lạm pháp đẩy lùi, đời sống đại bộ phận
nhân dân được cải thiện về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Có được thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này, là nhờ phần đóng góp lớn
của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên vào những năm trở lại đây, do
ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ đã xẩy ra ở một số nước trong khu
vực. Cộng với mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài
ở các nước như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan ...Đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam có phần giảm thiểu về số lượng lẫn chất lượng. Do đó đã ảnh
hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế xã hội.
Trước tình hình đó, vấn đề chúng ta phải có sự nhìn nhận và đánh giá
đúng đắn về đầu tư trực tiếp vào nước ngoài trong thời gian qua, để thấy được
những tác động tích cực hay tiêu cực của đất nước. Trên cơ sở đó đề ra hệ thống
những giải pháp cụ thể, kịp thời nhằm thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam trong những năm tới, góp phần thực hiện mục tiêu chiến
lược mà Đảng và Nhà Nước ta đã đề ra: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành một nước phát triển.
Để nhận rõ hơn vấn đề này, em chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng huy
động vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian qua”.
Vì khả năng còn hạn chế bài viết không thể không tránh khỏi những thiếu
sót, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô để bài viết này được hoàn thiện
hơn.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
2.2. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiền bên
nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vón, cùng kinh doanh, cùng
hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh
được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp
nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu
tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua chiếm 65% trong tổng ba
hình thức đầu tư (trong đó hình thức hợp tác kinh doanh chiếm 17%, Doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18%).
Thông qua hợp tác liên doanh với các đối tác Việt Nam, các nhà đầu tư
nước ngoài tranh thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác Việt
Nam trên thị trường mà họ chưa quen biết trong quá trình làm ăn của họ tại Việt
Nam. Mặt khác do môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều bất chắc nên các
nhà đầu tư nước ngoài không muốn gánh chịu rủi ro mà muốn các đối tác Việt
Nam cùng chia sẻ với họ nếu có. Liên doanh với một đối tác ở bản địa, các nhà
đầu nước goài yên tâm hơn trong kinh doanh vì họ đã có một người bạn đồng
hành.
Những năm gần đây, xu hướng của các nhà đầu tư nước ngoài giảm sự
quan tâm đến hình thức này và các dự án 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
lại có xu hướng tăng lên. Đó là do sau thời gian tiếp xúc với thị trường Việt
Nam, các nhà đầu tư nước ngoài đã hiểu rõ hơn về luật pháp, chính sách và các
quy định khác của Việt Nam. Thậm chí họ còn hiểu rõ về phong tục tập quán và
thói quen trong đó thói quen tiêu dùng của người Việt Nam cũng như cách thức
kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Mặt khác khả năng tham gia liên
doanh của các đối tác Việt Nam ngày càng bị hạn chế bởi thiếu cán bộ giỏi,
thiếu vốn đóng góp. Do vậy các nhà đầu tư nước ngoài muốn được điều hành
trong quản lý doanh nghiệp.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
thêm cho thủ tục xuất khẩu và bị xếp vào hàng rào xuất khẩu khác.
Chính sách thuế và ưu đãi. Chính sách ưu đãi thường được áp dụng để thu
hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Chính sách kinh tế vĩ mô. Chính sách này, mà ổn định thì sẽ góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư bản xứ lẫn nước ngoài.
Nếu không có những biện pháp tích cực chống lạm pháp thì có thể các nhà đầu
tư thích bỏ vốn vào nước này. Nếu giá cả tăng nhanh ngoài dự kiến thì khó có
thể tiên định được của kết quả hoạt độnh kinh doanh.
3.1.2. Luật đầu tư
Yếu tố này có thể làm hạn chế hay cản trở hoạt động của các công ty nước
ngoài trên thị trường bản địa. (Luật này thường bảo vệ lợi ích của các nhà bản
xứ). Nhiều nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo các điều kiện giống
như cho các nhà đầu tư bản xứ.
Ở Việt Nam, luật khuyến kích đầu tư nước ngoài triển khai còn chậm và
không đáp ứng được sự mong mỏi bởi mức độ ưu đãi và khuyến khích còn hạn
chế, chưa nhất quán.
3.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng khác
Yếu tố hàng đầu là đặc điểm của thị trường bản địa (quy mô, dung lượng
của thị trường sức mua của dân cư bản xứ và khả năng mở rộng quy mô đầu tư).
Đặc điểm của thị trường nhân lực. Công nhân lao động là mối quan tâm
hàng đầu ở đây, đặc biệt đối với những nhà đầu tư nước ngoài muốn bỏ vốn vào
các lĩnh vực cần nhiều lao động, có khối lượng sản xuất lớn. Trình độ nghề
nghiệp và học vấn của các công nhân đầu đàn (có tiềm năng và triển vọng) có ý
nghĩa nhất định.
Khả năng hồi hương vốn đầu tư. Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên
giới (hồi hương) là tiền đề quan trọng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.ở một số
nước mang ngoại tệ nước ngoài phải xin giấy phép của ngân hàng trung ương
khá rườm rà.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn”đó là:
Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và rồi hậu quả thu lại là
thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn mà các
nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo ta kinh tế hiện đại. Nhiều nước
lâm vào tình trạng trì trệ của nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra điểm đột
phá chính xác. Một mắt xích của “vòng luẩn quẩn” này.
Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các nước kém phát triển là
vốn đầu tư và kỹ thuật. Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước,
đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động vv...Từ đó tạo tiền đề tăng
thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì
hậu quả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do
đó vốn nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp ghần đột phá vào cái “vòng luẩn
quẩn” đó. Đặc biệt là FDI nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn
mà không gây nợ cho các nước nhận đầu tư. Không như vốn vay nước đầu tư
chỉ nhận một phần lợi nhuận thích đáng khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu
quả. Hơn nữa lượng vốn này còn có lợi thế hơn nguồn vốn vay ở chỗ. Thời hạn
trả nợ vốn vay thường cố định và đôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư,
còn thời hạn vốn FDI thì linh hoạt hơn.
Theo mô hình lý thuyết “hai lỗ hổng” của Cherery và Stront có hai cản trở
chính cho sự ta của một quốc gia đó là: Tiết kiệm không đủ đáp ứng cho nhu cầu
đầu tư được gọi là “lỗ hổng tiết kiệm”.Và thu nhập của hoạt động xuất khẩu
không đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu được gọi là “lỗ hổng
thương mại”.
Hầu hết các nước kém phát triển, hai lỗ hổng trên rất lớn. Vì vậy FDI góp
phần làm tăng khả năng cạnh tranhvà mở rộng khả năng xuất khẩu của nước
nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ
các hoạt dộng dịch vụ cho FDI.
1.2. Chuyển giao công nghệ
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển muốn
thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh ta kinh tế. Đây cũng là
điểm nút để các nước đang phát triển khoát ra khỏi các vòng luẩn quẩn của sự
đói nghèo. Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các quốc gia nào
thực hiện chiến lược kinh tế mở của với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác
dụng của các nhân tố bên ngoài biến nó thành những nhân tố bên trong thì quốc
gia đó tạo được tốc độ tăng cao.
Mức tăng trưởng ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng đầu
tư, nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng suất lao
động cũng tăng lên theo. Vì vậy có thể thông qua tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước
ngoài đối với ta kinh tế.
Rõ ràng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần tích cực thúc
đẩy ta kinh tế ở các nước đang phát triển. Nó là tiền đề, là chỗ dựa để khai thác
những tiềm năng to lớn trong nước nhằm phát triển nền kinh tế.
1.4. Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế
Yêu cầu dịch chuyển nền kinh tế không chỉ đòi hỏi của bản thân sự phát
triển nội tại nền kinh tế, mà còn là đòi hỏi của xu hứng quốc tế hóa đời sống
kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong bộ phận quan trọng của hoạt
động kinh tế đối ngoại. Thông qua các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào
quá trình phân công lao động quốc tế. Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các
nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước
cho phù hợp với sự phân công lao dộng quốc tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế
của nước phù hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động đầu tư nước ngoài. Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần
thúc đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Bởi vì: Một là, thông qua
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành
kinh tế mới ở các nước nhận đầu tư. Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp vào
phép khai thác và sử dụng các tiềm năng về lao động. ở một số nước đang phát
triển số người làm việc trong các xí nghiệp chi nhánh nước ngoài so với tổng
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
người có việc làm đạt tỷ lệ tương đối cao như Singapore 54,6%, Brazin 23%,
Mehico 21%. Mức trung bình ở nhiều nước khác là 10%. ở Việt Nam có khoảng
trên100 nghìn người đang làm trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Đây là con số khá khiêm tốn.
Tuy nhiên sự đóng góp của FDI đối với việc làm trong nước nhận đầu tư
thụ thuộc rất nhiều vào chính sach và khả năng lỹ thuật của nước đó.
2. Những ảnh hưởng tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1. Chuyển giao công nghệ
Khi nói về vấn đề chuyển giao kỹ thuật thông qua kênh đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở phần trên,chểng ta đã đề cập đến một nguy cơ là nước tiếp nhận
đầu tư sẽ nhận nhiều kỹ thuật không thích hợp. Các công ty nước ngoài thường
chuyển giao những công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị cũ. Điều này
cũng có thể giải thich là: Một là, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật cho nên máy móc công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu. Vì vậy
họ thường chuyển giao những máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư để
đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chát lượng của sản phẩm của
chính nước họ.Hai là, vào giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều
sử dụng công nghệ, sự dụng lao động.Tuy nhiên sau một thời gian phát triển giá
của lao động sẽ tăng, kết quả là giá thánhản phẩm cao. Vì vậy họ muốn thay đổi
công nghệ bằng những công nghệ có hàm lượng cao để hạ giá thành sản phẩm.
Do vậy việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nước nhận
đầu tư như là:
Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó.
Do đó nước đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh
nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận.
Gây tổn hại môi trường sinh thái. Do các công ty nước ngoài bị
càng lớn . Và nếu nền kinh tế dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự
phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo. Sự phồn vinh có được bằng cái
của người khác.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhưng vấn đề này có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào chính sách và
khả năng tiếp nhận kỹ thuật của từng nước. Nếu nước nào tranh thủ được vốn,
kỹ thuật và có ảnh hưởng tích cực ban đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà
nhanh chòng phát triển công nghệ nội đại, tạo nguồn tích lũy trong nước, đa
dạng hóa thị trrường tiêu thụ và tiếp nhận kỹ thuật mới cũng như đẩy mạnh
nghiên cứu và triển khai trong nước thì sẽ được rất nhiều sự phụ thuộc của các
công ty đa quốc gia.
2.3. Chi phí cho thu hểt FDI và sản xuất hàng hóa không thích hợp
Một là: Chi phí của việc thu hút FDI
Để thu hút FDI, các nước đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà
đầu tư như là giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần
lớn các dự án đầu tư nước ngoài. Hoặc việc giảm tiền cho họ cho việc thuê đất,
nhà xưởng và một số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư
trong nước. Hay trong một số lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan....
Và như vậy đôi khi lợi ích của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà
nhận được. Thế mà, các nhà đầu tư còn tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho
các yếu tố đầu vào. Các nhà đầu tư thường tính giá cao cho các nguyên vật
liệu,bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư. Việc
làm này mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư chẳng hạn như trốn được
thuế, hoặc giấu được một số lợi nhuận thực tế mà họ kiếm được. Từ đó hạn chế
cạnh tranh của các nhà đầu tư khác xâm nhập vào thị trường. Ngược lại, điều
này lại gây chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng
hóa do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn.
Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ sảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin,
trình độ kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc các chính
mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI. Bởi vì mức độ thiệt hại của
FDI gây ra cho nước chủ nhà nhiều hay ít lại phụ thuộc rất nhiều vào chính sách,
năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN FDI VÀO VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA
I. TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN FDI
Hiện nay, xu hướng toàn cầu khu vực nền kinh tế đang diễn ra trên khắp
thế giới.Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo phát triển chung đó. Ngày
nay có nhiều công ty, tổ chức quốc tế vào Việt Nam và nguồn vốn này đã trở
thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế Việt Nam.Sau đây là bức
tranh tổng thể về FDI.
1. Một số dự án và số vốn đầu tư
Trong hơn 10 năm qua từ năm 1989 đến năm 2003 đã có 3660 dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDT) đựợc cấp giấy phép đăng ký đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng
ký 44 tỷ USD trong đó có hơn 3000 dự án còn hiệu lực .Với tổng số vốn đăng
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ký trên 47 tỷ USD số vốn thục hiện .Đến nay đạt gần 30 tỷ USD bằng 44,5% số
vốn đăng ký, trong đó số vốn nước ngoài là 18 tỷ USD theo số liệu thống kê của
bộ kế hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các giai đoạn
1989-2003 đuợc thể hiện qua sơ đồ sau:
Biểu 1: Tổng số vốn đầu tư và số dự án FDI vào Việt Nam qua các
năm
1989-2003
Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư
(Triệu USD)
Tổng số thực hiện