Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập điện học bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí 9 Trung học cơ sở - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------&-----------------

DƯƠNG VĂN THẬT

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐIỆN HỌC
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VẬT LÍ 9 TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGHỆ AN - NĂM 2012

1


BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------&-----------------

DƯƠNG VĂN THẬT

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐIỆN HỌC
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VẬT LÍ 9 TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LL&PPDH BM VẬT LÍ
MÃ SỐ: 601410

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM THỊ PHÚ


Phụ lục 1b. Đề thi HSG cấp Phòng GD Lấp Vò...............................................PL3
Phụ lục 1c. Đề thi HSG cấp Tỉnh Đồng Tháp.................................................. PL9
Phụ lục 2. Phụ lục giáo án 3,5,6....................................................................PL13
Phụ lục 3a. Kết quả kỳ thi HSG cấp Huyện năm 2011 - 2012.........................PL23
Phụ lục 3b. Kết quả kỳ thi HSG cấp Tỉnh năm 2011 - 2012............................PL24

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Cụm từ-Kí hiệu
BT
BTVL
CĐSP

Thuật ngữ
Bài tập
Bài tập Vật lí
Cao đẳng Sư phạm
4


CĐDĐ
CH
Đtr
ĐH
GV

HĐT
HS
HSG
Nt
NXB

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rõ về phương
pháp giáo dục phổ thông như sau: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm từng
lớp học, từng môn học, bồi dưỡng năng lực tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS”.
Đất nước ta đang bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Mọi ngành nghề đều có những bước thay đổi đáng kể, trong đó sự thay đổi trong
ngành giáo dục là rất quan trọng vì nó sẽ đào tạo cho đất nước những con người có đủ
5


kiến thức, kỹ năng, năng lực sáng tạo, trí tuệ và phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng được
yêu cầu của nền kinh tế tri thức.
Trong đó khâu quan trọng không kém để góp phần phát triển tư duy, rèn cho HS có
kỹ năng, năng lực sáng tạo và góp phần đào tạo nhân tài và nguồn nhân lực trong bộ
môn Vật lí là Bồi dưỡng HSG Vật lí. Đặc thù của chương trình Vật lí THCS nói chung
và Vật lí 9 nói riêng là các tiết BT rất hạn chế, cụ thể theo phân phối chương trình
hiện hành của Sở giáo dục tỉnh Đồng Tháp thì tổng cộng số tiết BT chỉ có 6/74 tiết và
số tiết ôn tập là 6/74 (trong ôn tập có giải BT). Nhưng trên thực tế thì lượng BT trong
chương Điện học Vật lí 9 là rất nhiều, trong đó một phần không nhỏ là BT lồng ghép
chung trong các bài học (BT thể hiện trong nội dung của các câu C). Vì nhiều lý do
chủ quan và khách quan nên thực tế phần lớn là GV chỉ chú trọng đến việc dạy để
hoàn thành nội dung kiến thức của bài học, chứ chưa quan tâm nhiều đến việc rèn kỹ
năng giải BT cho HS; nếu có quan tâm thì không đủ thời gian để làm việc đó, vì thực
tế thì nội dung và kiến thức ở các bài học là rất nhiều, vì vậy trong 45 phút GV hoàn
thành và triển khai bài bản đầy đủ hết nội dung của bài học cho HS tiếp nhận một cách
dễ hiểu và khắc sâu kiến thức được trong não của các em là cả một sự phấn đấu và nỗ
lực rất lớn của GV đứng lớp.

lí học cho HS.

5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Cơ sở lý luận về dạy học phân hoá, bồi dưỡng HSG, HS năng khiếu;
5.2. Tìm hiểu thực trạng bồi dưỡng HSG THCS tỉnh Đồng Tháp, một số trường
THCS huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp: tài liệu bồi dưỡng, đề thi chọn HSG cấp
Trường, cấp Phòng, cấp Tỉnh, thực trạng dạy và học bồi dưỡng HSG;
5.3. Cơ sở lý luận về dạy học BT Vật lí;
5.4. Đề xuất các tiêu chí BT bồi dưỡng HSG;
5.5. Xây dựng hệ thống BT luyện tập và BT sáng tạo chương Điện học 9 dùng cho
bồi dưỡng HSG;
5.6. Xây dựng các phương án giảng dạy hệ thống BT đã xây dựng để bồi dưỡng
HSG Vật lí lớp 9;
5.7. Thực nghiệm sư phạm.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7


- Phương nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp điều tra, tổng hợp, so sánh.
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm dạy học (BT Vật lí)
7. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Đề xuất các tiêu chí BT bồi dưỡng HSG.
- Xây dựng được hệ thống 20 BT luyện tập – nâng cao và 10 BT sáng tạo chương
Điện học lớp 9 đa dạng có nội dung giáo khoa, nội dung thực tế, nội dung kỹ thuật để
bồi dưỡng HSG lớp 9.
- Đề xuất các phương án sử dụng hệ thống BT đã xây dựng để phát hiện và bồi
dưỡng: Bài học luyện tập giải BT trên lớp, tự học cá nhân, giải BT theo nhóm, lập đề
thi tuyển chọn HSG Vật lí THCS.
- Thiết kế giáo án dạy học sử dụng các BT đã xây dựng để bồi dưỡng HSG.

- Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm.
- Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trong đóng góp xã
hội.
- Phát triển phẩm chất lãnh đạo.
9


Đặc trưng của con người là hoạt động có ý thức. Năng suất lao động của mỗi người
phụ thuộc rất nhiều vào tri thức của người đó. Nhà khoa học giỏi có thể phát minh
những máy móc, quy trình, phương pháp giúp cho năng suất lao động tăng lên hàng
chục, hàng trăm, hàng nghìn lần.
Nhà quản lý hay chính trị gia giỏi có thể tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh của hàng
trăm, hàng triệu người. Vì vậy, nhân tài có vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc
xây dựng xã hội văn minh. Những nước văn minh đều quan tâm bồi dưỡng chiêu mộ,
tập hợp và sử dụng nhân tài [25].
Đảng ta quan niệm “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” và rất coi trọng việc bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước.
Bộ giáo dục và Đào tạo cũng có những chủ trương mới về công tác bồi dưỡng HSG.
Đó là tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống các trường chuyên một cách hoàn thiện
hơn, khuyến khích và tôn vinh các HS xuất sắc đạt thành tích cao. Vận dụng cách dạy
học phân hóa vào bồi dưỡng HSG: Các trường chuyên có thể xây dựng phân phối
chương trình riêng phù hợp với khả năng tiếp thu của HS. Các em HS có năng khiếu
có thể được học với chương trình có tốc độ cao hơn HS bình thường...[25]
Còn ở các trường THCS thì có truyền thống coi trọng công tác bồi dưỡng HSG để
tham dự các kỳ thi HSG cấp huyện, tỉnh là công tác mũi nhọn. Nó có tác dụng thiết
thực và mạnh mẽ trong việc bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
của đội ngũ thầy cô giáo, nâng cao chất lượng giáo dục, khẳng định thương hiệu của
nhà trường, tạo ra khí thế hăng say vươn lên học tập giành đỉnh cao trong HS. [25]
1.2. Khái niệm HSG Vật lí, HS năng khiếu Vật lí
1.2.1. HSG Vật lí

- Trắc nghiệm chỉ số IQ ở mức độ cao
- Có tư duy logic tốt trong HĐ Vật lí, thể hiện năng lực vận hành các thao tác tư
duy chính xác, nhanh và bộc lộ nhũng ưu điểm về phẩm chất tư duy.
- Bộc lộ những đặc trưng của năng lực HĐ sáng tạo: đề xuất các phương án hay,
mới lạ, lập luận logic ở mức độ cao.
- HS có hứng thú, yêu thích môn học. Có khả năng tập trung say sưa với HĐ học,
có tính bền bỉ và ổn định trong các giờ lí thuyết cũng như thực hành. HS nghiêm túc
thực hiện các nhiệm vụ mà GV giao cho, các nhiệm vụ đạt hiệu quả tốt. Kết quả học
tập lý thuyết và thực hành có điểm số cao nhất so với HS cùng lớp.
- Dựa vào kết quả thi HSG Vật lí theo khối lớp, cấp trường, cấp huyện và cấp tỉnh.
HS có năng khiếu Vật lí thể hiện qua 3 mặt: [23; 55]
+ Năng lực khái quát quá các quan sát riêng lẻ để đề xuất mô hình Vật lí (năng lực
lí thuyết)
+ Năng lực tổ chức và tiến hành thí nghiệm để phát hiện và kiểm tra, đề xuất các
hiệu ứng Vật lí vào kĩ thuật (năng lực thực nghiệm)
11


+ Năng lực tính toán, xử lí số liệu để suy ra kết quả từ mô hình Vật lí (năng lực tính
toán).
1.3. Bồi dưỡng HSG - một hình thức dạy học phân hoá
Theo Nguyễn Bá Kim có thể tóm tắt như sau: “Dạy học phân hóa xuất phát từ sự
biện chứng của thống nhất và phân hóa, từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt tất cả các
mục tiêu dạy học, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng
của từng cá nhân” [25]
Việc kết hợp giữa giáo dục diện “đại trà” với giáo dục diện mũi nhọn trong dạy học
Vật lí ở trường phổ thông được tiến hành theo các quan điểm sau: [25]
- Lấy trình độ phát triển chung của HS làm nền tảng. Nội dung và phương pháp dạy
học trước hết phải thiết thực với trình độ và điều kiện chung đó.
- Sử dụng những biện pháp phân hóa đưa diện HS Trung bình-Khá lên trình độ

Trong thực tế dạy học, người ta thường gọi một vấn đề không lớn được giải quyết
nhờ những suy lý logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và
các phương pháp Vật lí là một BT Vật lí. Thật ra, trong các giờ học Vật lí, mỗi một
vấn đề xuất hiện khi nghiên cứu tài liệu giáo khoa (bài học xây dựng kiến thức mới) là
một BT đối với học sinh. Sự tư duy định hướng một cách tích cực “luôn luôn là việc
giải BT” hiểu theo nghĩa rộng của mệnh đề đó.
Trong những tài liệu sách giáo khoa cũng như những tài liệu phương pháp bộ môn,
người ta thường hiểu những BT được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ
yếu là nghiên cứu các hiện tượng Vật lí, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy
Vật lí của HS và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tiễn là những
BT Vật lí.
1.4.1.2. Ý nghĩa tác dụng của BT Vật lí [25]
Trong việc dạy học không thể thiếu BT, sử dụng BT là một biện pháp hết sức quan
trọng để nâng cao chất lượng dạy học. BTVL có những ý nghĩa, tác dụng to lớn về
nhiều mặt.
a. Về mặt trí dục
Làm chính xác hoá các khái niệm Vật lí, củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức
một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào việc
giải BT, HS mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc.
Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất. Khi ôn tập, HS sẽ
không tập trung nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức. Thực tế cho thấy HS chỉ thích
giải BT trong giờ ôn tập.
Rèn luyện các kỹ năng Vật lí như giải BT, tính toán theo công thức Vật lí … Nếu
là BT thực nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật
13


tổng hợp cho học sinh.
Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất
và bảo vệ môi trường.


BTVL là phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn luyện tư duy, bồi
dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho HS bởi vì giải BTVL là hình thức làm
việc căn bản của HS. Trong quá trình giải BTVL học sinh phải phân tích điều kiện
trong đề bài, tự xây dựng những lập luận, thực hiện việc tính toán khi cần thiết phải
tiến hành cả thí nghiệm, xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng để kiểm tra
kết luận của mình. Trong những việc làm cụ thể đó tư duy lôgic, tư duy sáng tạo của
HS được nâng cao. Có nhiều BTVL không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng
những kiến thức đã học mà còn giúp HS bồi dưỡng tư duy sáng tạo. Đặc biệt là BT
giải thích các hiện tượng, BT thí nghiệm.
BTVL là phương tiện ôn tập và củng cố kiến thức đã học một cách sinh động và
có hiệu quả.
Thông qua việc giải BTVL có thể rèn luyện được các đức tính tốt như: tính độc
lập, tính sáng tạo, tính cẩn thận, kiên trì, vượt khó. Giải BT là một trong những hình
thức làm việc tự lực của HS. Trong quá trình làm BT, do phải tự mình phân tích các
điều kiện của đầu bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết
luận mà HS rút ra được nên tư duy của HS được phát triển, năng lực làm việc của họ
được nâng cao, tính kiên trì được phát triển.
BTVL là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của một HS một
cách chính xác.
Tóm lại: Đối với môn Vật lí ở trường phổ thông, BTVL đóng một vai trò hết sức
quan trọng, việc hướng dẫn HS làm BTVL là một hoạt động dạy học, là một công việc
khó khăn, ở đó bộc lộ rõ nhất trình độ của người giáo viên Vật lí trong việc hướng dẫn
hoạt động trí tuệ của HS, vì thế đòi hỏi người giáo viên và cả HS phải học tập và lao
động không ngừng.
BTVL sẽ giúp HS hiểu sâu hơn những qui luật Vật lí, những hiện tượng Vật lí.
Thông qua các BT ở các dạng khác nhau tạo điều kiện cho HS vận dụng linh hoạt
những kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác nhau
thì những kiến thức đó mới trở nên sâu sắc hoàn thiện và trở thành vốn riêng của HS.
Trong quá trình giải quyết các vấn đề, tình huống cụ thể do BT đề ra HS phải vận

nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, góp phần xây dựng xã hội ngày càng
tiến bộ; nếu không được bồi dưỡng rèn luyện thì tiềm năng sáng tạo sẽ dần mai một
hoặc không có điều kiện bộc lộ.
Kết luận đó thực sự có ý nghĩa đối với dạy học trong nhà trường. Một trong bốn
nhiệm vụ của dạy học các môn khoa học là phát triển tư duy ở HS năng lực tư duy
gồm: Tư duy logic, tư duy sáng tạo, tư duy đặc thù của bộ môn, tạo cơ sở cho việc bồi
dưỡng năng lực giải quyết vấn đề. Nhiệm vụ này được Phạm Văn Đồng gói gọn trong
câu nói đầy ý nghĩa: “Dạy là phải gõ vào trí thông minh của HS”, “Nghề dạy học là
nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo”. Trong thực tiễn cuộc vận động đổi

16


mới phương pháp dạy học hiện nay, vấn đề “Dạy thế nào để bồi dưỡng tư duy sáng
tạo” là câu hỏi được nhiều người quan tâm.
Cơ sở lý thuyết của BT sáng tạo trong dạy học Vật lí là sự giống nhau về bản chất
của HĐ nhận thức khoa Vật lí và HĐ học tập Vật lí. Bản chất đó thể hiện tính mới mẻ
trong nhận thức: Đối với nhà Vật lí học “cái mới” tìm ra là phát minh khoa học mà
nhân loại chưa ai biết, còn đối với HS khám phá “cái mới” đối với bản thân mình, và
“cái mới” là bản chất của sự sáng tạo.
Trong Vật lí học, V.G. Ra-zu-mốp-xki trình bày quá trình sáng tạo dưới dạng chu
trình như sau:

Mô hình giả
định

Hệ quả logic

Sự kiện


- Có tính phát hiện
- Yêu cầu khả năng đề xuất, đánh giá


b.3. Các dấu hiệu của BT sáng tạo [23; 46]; [25]
b.3.1. Dấu hiệu 1: BT có nhiều cách giải
Khi giải các BTVL HS phải dựa vào các đại lượng đã cho trong BT. Mỗi đại
lượng Vật lí có nhiều mối liên hệ với các đại lượng khác, khi thực hiện giải các BT
loại này làm cho HS biết nhìn nhận vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau. Điều này giúp
cho các em có thể phát triển được tính mềm dẻo và linh hoạt khi đứng trước một BT
hay một vấn đề thực tiễn và có thể chọn được phương án giải quyết vấn đề nhanh
nhất.
b.3.2. Dấu hiệu 2: BT có hình thức tương tự nhưng có nội dung biến đổi
Loại BT này thường có nhiều câu hỏi, ở câu hỏi thứ nhất thường là một BT luyện
tập, các câu hỏi tiếp theo có hình thức tương tự, nếu vẫn áp dụng phương pháp tương
tự như trên sẽ dẫn đến bế tắc vì nội dung câu hỏi đã có sự biến đổi về chất.
b.3.3. Dấu hiệu 3: BT thí nghiệm
BT về thí nghiệm Vật lí gồm BT thí nghiệm định tính và BT thí nghiệm định
lượng. BT thí nghiệm định tính yêu cầu thiết kế thí nghiệm theo một mục đích cho
trước, thiết kế một dụng cụ ứng dụng Vật lí hoặc yêu cầu làm thí nghiệm theo chỉ dẫn
quan sát và giải thích hiện tượng xảy ra. BT thí nghiệm định lượng gồm BT đo đạc
các đại lượng Vật lí, minh hoạ lại quy luật Vật lí bằng thực nghiệm.
b.3.4. Dấu hiệu 4: BT thiếu hoặc thừa dữ kiện
Trong BT loại này có tác dụng phát huy những ý tưởng độc đáo của HS trong
việc nhìn nhận các vấn đề trong BT. Để giải quyết được vấn đề của BT loại này HS
cần phải có sự phát hiện ra những điều chưa hợp lý và có được sự lý giải cần thiết. BT
này còn gặp trong trường hợp HS cần có ý tưởng để đề xuất hoặc thiết kế vận dụng
kiến thức để đạt được yêu cầu nào đó của cuộc sống hay kỹ thuật.
b.3.5. Dấu hiệu 5: BT nghịch lí, ngụy biện
Đây là BT trong đề bài chứa đựng một sự ngụy biện nên dẫn đến nghịch lý: kết

1.4.3. BT Vật lí với việc bồi dưỡng HSG
* Vai trò của BT đối với việc bồi dưỡng HSG [18; 188]
+ BT giúp cho HS ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức.
Trong giai đoạn xây dựng kiến thức HS đã nắm được cái chung các khái quát
của các khái niệm, định luật và cũng là các khái niệm trừu tượng. Trong các BT HS
phải vận dụng những kiến thức khái quát, trừu tượng đó vào những trường hợp cụ thể
rất đa dạng, nhờ thế mà HS nắm được những biểu hiện rất cụ thể của chúng trong thực
tế và phạm vi ứng dụng của chúng. Ngoài những ứng dụng quan trọng trong kỹ thuật
BT Điện học giúp cho HS thấy được những ứng dụng muôn hình muôn vẻ trong thực
tiễn của các kiến thức đã học.
Vật lí học không phải chỉ tồn tại trong óc chúng ta dưới dạng những mô hình
trừu tượng do ta nghĩ ra, mà là sự phản ánh trong óc chúng ta thực tế phong phú, sinh
19


động. Tuy nhiên các khái niệm, định luật Vật lí thì rất đơn giản, còn biểu hiện của
chúng trong tự nhiên thì rất phức tạp, bởi vì các sự vật, hiện tượng có thể bị chi phối
bởi nhiều định luật, nhiều nguyên nhân đồng thời hay liên tiếp chồng chéo lên nhau.
BT sẽ giúp luyện tập cho HS phân tích để nhận biết những trường hợp phức tạp đó.
BTVL là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động. Khi giải BT, HS
phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử dụng tổng hợp các kiến thức của
nhiều chương, nhiều phần của chương trình.
+ Giải BT là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của HS
Trong khi làm BT, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xây dựng
những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà HS rút ra được nên tư duy
của HS được phát triển, năng lực làm việc tự lực nâng cao, tính kiên trì được phát
triển. Cần lưu ý rằng việc rèn luyện cho HS giải các BT Vật lí không phải là của dạy
học. Mục đích cơ bản đặt ra khi giải BTVL là làm cho HS hiểu sâu sắc hơn những quy
luật Vật lí, biết phân tích những ứng dụng của chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào
tính toán kỹ thuật và cuối cùng phát triển tư duy, năng lực giải quyết vấn đề

giải được.
- Những BT có tính chất nâng dần từ mức cơ bản đến nâng cao và sáng tạo giúp HS
phát triển tư duy và rèn kỹ năng phân tích, tổng hợp.
1.5.2. Luyện tập giải BT cá nhân ở nhà
- Việc HS tự học ở nhà có một ý nghĩa lớn lao về mặt giáo dục và giáo dưỡng.
- Công việc học tập của HS ở nhà có những đặc điểm riêng sau:
+ Tiến hành trong một thời gian ngắn, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo
viên, mặc dù đấy là công việc do chính giáo viên giao cho HS phải tự mình hoàn
thành, tự kiểm tra công việc mình làm.
+ Công việc này được thực hiện tuần tự theo hứng thú, nhu cầu, niềm yêu thích và
năng lực của HS.
+ Dễ bị chi phối bởi ngoại cảnh khác.
- Việc giao bài làm một cách có hệ thống đảm bảo cho việc học tập của HS có một
quy luật chặt chẽ, nhờ đó mà HS có thể tự lực giải quyết các BT khó, vì đã có sự
chuẩn bị ở các BT dễ. Việc HS hoàn thành tốt các BT ở nhà không những chỉ giúp các
em nắm vững tri thức đã học cũng như rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cần thiết, mà còn
giúp các em chuẩn bị tốt nhất cho việc tiếp thu kiến thức mới. Vì thế bên cạnh những
bài làm phục hồi, luyện tập và sáng tạo trên cơ sở kiến thức đã học cần phải giao cho
HS những bài làm mang những yếu tố chuẩn bị cho việc tiếp thu tri thức mới.
- Có thể giao BT về nhà cho HS bằng nhiều hình thức:
+ Giao BT trong thời gian truy bài đầu giờ.
+ Giao BT sau tiết học.
+ Giao BT theo hệ thống BT SGK, SBT, sách tham khảo…
+ Giao BT theo dạng, theo chuyên đề.
21


- Một biện pháp quan trọng nữa để đảm bảo công tác hướng dẫn học ở nhà có kết
quả là cần có những biện pháp kiểm tra, động viên, khích lệ kịp thời và phù hợp:
+ Kiểm tra vở ghi, vở BT.



54,76%, còn thấp so với chỉ tiêu quy định là 60% thí sinh đạt giải cho mỗi môn ở các
kỳ thi HSG các cấp.
1.6.2. Đề thi chọn HSG môn Vật lí THCS cấp Huyện Lấp Vò, cấp Tỉnh Đồng Tháp
từ năm 2008 – 2011
Để xây dựng được hệ thống BT bồi dưỡng HSG đảm bảo các yêu cầu ở mục 1.5 cần
phải khảo sát đánh giá nội dung, kiến thức, mức độ khó của đề thi trong 4 năm gần
đây. Trong phụ lục 1b, 1c chúng tôi giới thiệu 04 đề thi tuyển chọn HSG Vật lí THCS
huyện Lấp Vò và cấp tỉnh Đồng Tháp. Sau đây là phân tích, đánh giá:

23


a. Đề thi cấp Huyện Lấp Vò
Đề thi
năm

1. Kiến thức

học

2007–
2008

4. Sự

2. Công
cụ toán



là phần Cơ học 8: Nội dung vượt là: Tính

cân bằng nhiệt, định luật Ohm, mạch nt, thường,

nâng

cao,

hiệu suất của mặt phẳng nghiêng (Câu

mạch //, công suất điện, hiệu suất máy cơ.

1b); mạch điện có 04 Đtr (Câu 5); có 05 Chủ yếu
Đtr (Câu 3)
Phổ kiến thức bao gồm các phần: Cơ

mức ở mức độ

chưa đa chưa có BT
dạng.

hay

dùng
các

. Đề thi có nội dung rõ ràng, tường minh

Đề thi ở BT trong đề


mạch điện có 04 Đtr (Câu 5).
2009 -

Phổ kiến thức bao gồm các phần: Cơ

2010

học, Nhiệt học lớp 8 và phần Điện học

. Đề thi có nội dung yêu cầu rõ ràng.

Đề thi ở BT trong đề

. Số đơn vị kiến thức nhiều, gồm các đơn vị mức đa ở mức độ
24


lớp 9.

kiến thức về: Vận tốc, phương trình cân bằng dạng.

luyện

tập

Trong đó vượt khả năng của chương trình

nhiệt, năng suất toả nhiệt, hiệu suất, công cơ


2010-

Trong đó vượt khả năng của chương trình

lượng riêng, trọng lượng riêng, phương trình phức

nâng

cao,

2011

là phần kiến thức: Cơ học lớp 8 (Câu 1,

cân bằng nhiệt (ở mức vận dụng cao), công tạp

sáng tạo, và

Câu 2); Nhiệt học lớp 8 (Câu 3); mạch

suất điện, định luật Ohm, mạch nt, mạch //,

nhiều

điện có 04 Đtr (Câu 5)

công thức Đtr của dây dẫn hình trụ tròn đồng

hay.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status