Ảnh hưởng của thuế xuất nhập khẩu đến thu ngân sách nhà nước việt nam thời kỳ hậu WTO và các giải pháp tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước - Pdf 31

Luận văn tốt nghiệp

1

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

MỤC LỤC

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

2

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ngân sách nhà nước

NSNN

Xuất nhập khẩu

XNK

Xuất khẩu



Khu vực doanh nghiệp nhà nước

KV DNNN

Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh

KV NQN

Khu vực đầu tư nước ngoài

KV ĐTNN

Tiêu thụ đặc biệt

TTĐB

Giá trị gia tăng

VAT

Thu nhập doanh nghiệp

TNDN

Doanh nghiệp

DN

Tiểu thủ công nghiệp

1

Luận văn tốt nghiệp

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cần thiết của đề tài
Gia nhập WTO là một bước ngoặt khá quan trọng trên con đường công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam. Sự kiện này mở ra cho nền kinh tế
Việt Nam rất nhiều cơ hội và cũng không ít những thách thức. Một trong những vấn
đề nổi cộm sau khi Việt Nam gia nhập WTO là việc ảnh hưởng của thuế xuất nhập
khẩu đến thu ngân sách nhà nước. Khi bàn về vấn đề này đã có rất nhiều ý kiến,
nhiều nhận định đưa ra về chiều hướng ảnh hưởng của chúng đến thu ngân sách nhà
nước.
Nhiều ý kiến cho rằng thuế xuất nhập khẩu là một trong những nguồn thu
khá quan trọng vẫn chiếm tỷ lệ cao trong thu NSNN so với các nước đang phát triển
(13% tổng thu NSNN bao gồm vả phí và lệ phí). Nhưng thuế xuất nhập khẩu lại phụ
thuộc rất nhiều vào độ mở của nền kinh tế. Nên ảnh hưởng có thể coi là cực kỳ
quan trọng đó là vấn đề ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế xuất nhập khẩu đến thu
NSNN. Bởi vì sau khi gia nhập WTO, chúng ta phải cắt giảm hàng loạt các loại
thuế xuất nhập khẩu. Mặc dù cắt giảm theo lộ trình nhưng ảnh hưởng của chúng tới
thu ngân sách cũng khá lớn. Không những thế các doanh nghiệp nếu không tự đổi
mới mình để cạnh tranh với các sản phẩm của doanh nghiệp nước ngoài trên thị
trường quốc tế và ngay cả trên thị trường nội địa sẽ dẫn đến bị phá sản. Đây là tác
động xấu tới thu nội địa.
Nhiều ý kiến khác cho rằng việc cắt giảm thuế xuất nhập khẩu khi hội nhập
kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng vẫn có ảnh hưởng tích cực đó là
kim ngạch thương mại tăng lên, và số thu từ thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ tăng vì
số hàng nhập khẩu tăng. Ngoài ra khi cắt giảm thuế xuất nhập khẩu làm cho các doanh

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích của đề tài
Luận giải cơ sở lý luận về vai trò của thuế xuất nhập khẩu đối với thu ngân
sách và thực tiễn kinh nghiệm về các chính sách cải cách hệ thống thuế khi gia
nhập WTO của các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi trong quá
trình cắt giảm thuế xuất nhập khẩu theo cam kết gia nhập WTO, cùng với việc phân
tích ảnh hưởng của thuế XNK sau gia nhập WTO đến thu ngân sách nhà nước; từ
đó đưa ra các quan điểm, phương hướng cơ bản, đồng thời đề xuất được các giải
pháp nhằm bảo đảm tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những vấn đề lý luận chung về thu ngân sách và thuế xuất nhập
khẩu, vai trò của thuế xuất nhập khẩu đối với thu ngân sách nhà nước trong điều
kiện gia nhập WTO.
- Tóm tắt lộ trình cắt giảm thuế xuất nhập khẩu theo cam kết gia nhập WTO
của Việt Nam đồng thời phân tích tác động của nó tới thu ngân sách.

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

3

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

- Đánh giá các chính sách cải cách hệ thống thuế khi gia nhập WTO của các nước
đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi , rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Phân tích thực trạng thu ngân sách nhà nước sau một năm gia nhập WTO,

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

4

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

Bốn là, phân tích, đánh giá ảnh hưởng của thuế XNK sau gia nhập WTO đến
thu ngân sách, thấy được mức độ ảnh hưởng và chiều hướng tác động của chúng
tới thu ngân sách. Từ đó rút ra những nhận định mang tính quy luật về sự ảnh
hưởng này và đưa ra những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới.
Năm là, nêu lên bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước tác động tới thu
NSNN, những quan điểm phương hướng và mục tiêu nhằm thúc đẩy tăng trưởng
bền vững nguồn thu ngân sách nhà nước.
Sáu là, đưa ra được một số quan điểm, phương hướng cơ bản và các giải
pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước
trong lộ trình cắt giảm thuế xuất nhập khẩu.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương như sau :
Chương 1: Vai trò của thuế xuất nhập khẩu đối với thu ngân sách nhà
nước trong điều kiện gia nhập WTO
Chương 2: Ảnh hưởng của thuế xuất nhập khẩu đến thu ngân sách nhà
nước Việt Nam thời kỳ hậu WTO.
Chương 3: Một số giải pháp đảm bảo tăng trưởng bền vững thu ngân
sách nhà nước trong lộ trình cắt giảm thuế xuất nhập khẩu theo WTO

Trong đó thu ngân sách nhà nước là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất
của Ngân sách Nhà nước.
Về phương diện kinh tế, thu NSNN được hiểu là những nguồn vốn tiền tệ
do Nhà nước huy động từ trong hoặc từ bên ngoài nền kinh tế quốc nội, thông qua
nhiều phương thức khác nhau ( như đánh thuế, thu tiều phạt vi phạm hành chính,
vay nợ, ngoại viện…) để tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu rất lớn của Nhà nước về
kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng và quản lý nhà nước.
Về phương diện cấu trúc của thu NSNN, thu NSNN bao gồm các khoản thu
từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản
đóng góp của các tổ chức và các nhân; các khoản viênh trợ; các khoản thu khác theo
quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm
Nguồn tài chính được tập trung vào ngân sách nhà nước tương ứng với phần
giá trị của GNP được tập trung vào tay Nhà nước, đó là khoản thu nhập của Nhà
nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội
dưới hình thức giá trị. Thu NSNN phản ánh các quan hệ nảy sinh trong quá trình
phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với những chủ thể trong xã
hội. Sự phân chia đó là tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu tồn tại phát triển
của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

6

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức


SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

7

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

Việc phân loại những khoản thu ngân sách theo tiêu thức trên sẽ giúp cho
việc đánh giá mức độ huy động các nguồn thu ở các khu vực kinh tế khác nhau
trong nền kinh tế cũng như tổng quan thu trong và ngoài nước. Từ đó có các giải
pháp, các chính sách nhằm khai thác các nguồn thu một cách hợp lý, cân đối.
1.1.3.2. Phân theo sắc thuế
* Thu thuế
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
- Thuế giá trị gia tăng ( VAT)
- Thuế tiêu thụ đặc biệt ( TTĐB)
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu và TTĐB hàng nhập khẩu
- Các loại thuế khác
* Thu phí, lệ phí và thu ngoài thuế
- Thu chênh lệch giá hàng nhập khẩu
- Thu phí,lệ phí
- Thu tiền cho thuê đất
- Thu khác ngân sách
* Thu về vốn ( thu bán nhà ở, thu tiền sử dụng đất)

để tăng thu cho NSNN trong dài hạn, con đường chủ yếu là nâng cao trình độ phát
triển, tìm cách mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất của nền kinh tế.Có thể
nói tăng trưởng kinh tế là yếu tố tác động tới thu NSNN trong dài hạn, tạo nên tính
bền vững cho thu NSNN.
* Kim ngạch xuất - nhập khẩu
So với các nước khác tỷ lệ thuế xuất nhập nhập khẩu của Việt Nam còn khá
cao (khoảng 13% tổng thu NSNN bao gồm cả phí và lệ phí). Vì vậy thu từ hoạt
động xuất nhập khẩu vẫn là nguồn thu khá lớn. Nhất là trong giai đoạn hội nhập
kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thì đối với một nước phải luôn ở tình trạng nhập
siêu thì mặc dù thuế suất có giảm nhưng nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu
vẫn tăng lên do kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng rất mạnh. Ngoài ra xuất khẩu cũng
mang lại nguồn thu cho NSNN từ các DN xuất khẩu. Và khi hội nhập kinh tế sâu
rộng thì hoạt động xuất khẩu ngày càng phát triển.Vì vậy trong tương lai không xa
nguồn thu từ hoạt động này sẽ khá lớn.
* Hệ thống pháp luật và các chính sách trong lĩnh vực thu
Nếu các nhân tố trên tạo ra nguồn thu cho ngân sách thì hệ thống pháp luật, cơ
chế chính sách về lĩnh vực thu và tổ chức thu là căn cứ, là quy định để chúng ta biết thu
như thế nào, thu từ đâu, thu với tỷ suất bao nhiêu sao cho hiệu quả.
Thu NSNN có thể lấy từ nhiều nguồn, dưới nhiều hình thức nhưng nét dặc
trưng là luôn gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước, nó thể hiện tính cưỡng
chế và mang tính không hoàn trả là chủ yếu. Nên các luật, các chính sách do Nhà nước
quy định về nguồn thu và tổ chức quản lý thu là căn cứ cho quá trình động viên vào
ngân sách. Các quy định về nguồn thu bao gồm các luật lệ, các quy định về phí, lệ phí,
về bán tài nguyên, tài sản quốc gia, về các doanh nghiệp nhà nước...

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B



độ tăng trưởng kinh tế, sự biến động của cơ cấu kinh tế, sự thay đổi tỷ lệ tiết kiệmtiêu dùng - đầu tư. Trong đó hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp là điều mà
chúng ta có thể thấy rất rõ, nó làm thay đổi cả mức độ và cơ cấu thu NSNN, cụ thể
là số thu và cơ cấu các loại thuế như thuế VAT, tiêu thụ đặc biệt, nhập khẩu, xuất
khẩu, thuế thu nhập DN, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao,… Trong giai
đoạn hiện nay nước ta đang ngày càng mở cửa để hội nhập ngày càng sâu rộng vào

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

10

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

trường quốc tế, đặc biệt là sự kiện gia nhập WTO thì nhân tố này trở nên cực kỳ
quan trọng vì nó không chỉ là tác động đơn thuần tới thu thuế xuất nhập khẩu mà
còn tác động gián tiếp đến thu NSNN thông qua rất nhiều yếu tố khác. Do vậy
nghiên cứu về hội nhập KTQT ảnh hưởng tới thu NSNN là điều cần thiết và cấp
bách hiện nay.
1.2. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu đến sự phát triển kinh tế xã hội và
thu ngân sách nhà nước
1.2.1. Khái quát thuế xuất nhập khẩu
1.2.1.1. Khái niệm
Thuế xuất nhập khẩu là loại thuế gián thu, thu vào các hàng hoá được phép
xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới quốc gia, các loại hàng hoá mua bán, trao đổi
giữa thị trường trong nước và khu chế xuất.
1.2.1.2 Phân loại

11

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

Thuế suất ưu đãi đặc biệt: Được áp dụng đối với hàng hoá nhập

khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt
về thuế nhập khẩu với Việt Nam.


Thuế suất thông thường : Áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có

xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ
quốc và không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam. Thuế suất
thông thường được quy định không quá 70% so với thuế suất ưu đãi của từng mặt
hàng tương ứng do Chính phủ quy định.
Với tinh thần như vậy thì thuế suất thông thường cao hơn thuế xuất ưu đãi
và thuế suất ưu đãi cao hơn thuế xuất ưu đãi đặc biệt:
Thuế suất thông thường > Thuế suất ưu đãi> Thuế suất ưu đãi đặc biệt
+ Thuế suất thuế xuất khẩu: được thể hiện theo biểu thuế hiện hành.
- Thuế quan hỗn hợp: Là sự kết hợp giữa thuế đặc định và thuế suất
theo giá trị
Việc phân loại trên nhằm giúp cho cơ quan thuế và Nhà nước có những
phương pháp tính thuế một cách chính xác và phù hợp đối với từng loại thuế để
từ đó có thể đánh giá tốt được mức huy động vào ngân sách nhà nước của từng
loại thuế.
*Theo mục đích đánh thuế:
- Thuế quan tài chính : Là thuế quan nhằm vào mục tiêu tăng thu ngân sách
quốc gia.
- Thuế quan bảo hộ : Là thuế quan nhằm bảo hộ các ngành sản xuất trong

cho phép tự do không khống chế việc xuất nhập khẩu hàng hoá sao cho động viên
được tối đa nguồn tài chính từ hoạt động ngoại thương mang lại tập trung vào
NSNN.
1.2.2.2. Thuế xuất nhập khẩu là công cụ bảo hộ và khuyến khích sản xuất
trong nước phát triển
Hình vẽ 1.1: Vai trò bảo hộ thuế quan danh nghĩa của Chính phủ
Giá

Vai trò của thuế quan thể hiện rất rõ ở hình vẽ 1.1 ta thấy :
Cung
- Khi thực hiện thương mại tự do cân bằng thị trường ( tức hàng hoá ở thị

trường trong nước được bán theo giá thế giới). Khi đó, Qs - phản ánh khả năng sản
Giá thế giới
xuất trong nước, Qd - phản ánh nhu cầu trong nước, Δ Q = (Qd- Qs) phản ánh
E
cộng thuế quan
G
F
lượng hàng hoá phải nhập.
Doanh thu thuế
Khi

thuế
nhập
khẩu
cân bằng thị trường : giá hàng hoá trong nước bị
quan
H
Giá thế giới

13

Luận văn tốt nghiệp

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

nước thu được khoản thuế (diện tích BCEF), nhưng lợi ích người tiêu dùng bị giảm
(diện tích GEDH) do nhu cầu tiêu dùng giảm (từ Qd xuống Qd’).
Như vậy khi sử dụng chính sách đánh thuế quan sẽ khuyến khích sản xuất
trong nước, và tăng thu ngân sách cho Chính phủ nhưng làm giảm lợi ích người tiêu
dùng. Tuỳ thuộc đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia mà công cụ này được xem xét ở
các mức độ khác nhau. Ở các nước có nền kinh tế phát triển cao, khả năng cạnh
tranh của hàng hoá nội địa lớn, thì mục tiêu này trong việc sử dụng thuế quan
thường ít được coi trọng. Ở các nước có nền kinh tế kém phát triển, lại thực hiện mô
hình kinh tế hướng nội, độc lập, tự chủ trong kinh tế làm trọng, thì hết sức coi trọng
mục tiêu bảo hộ nền sản xuất trong nước. Tuy nhiên khi nhấn mạnh mục tiêu này
thì thường mâu thuẫn với mục tiêu ngân khố mà các nước đang phát triển vấp phải.
Chính mâu thuẫn đó đòi hỏi các chính phủ của các nước đang phát triển phải có sự
lựa chọn khôn khéo, linh hoạt giữa hai mục tiêu trong bối cảnh cụ thể.
Có các cấp độ bảo hộ khác nhau được xác định dựa vào hệ số bảo hộ hiệu
quả và mức thuế suất bảo hộ danh nghĩa dự kiến trong tương lai. Hệ số bảo hộ hiệu
quả được xác định theo công thức sau:
ERP = ( t- rl)/ ( 1- r)

Trong đó:
- ERP là hệ số bảo hộ hiệu quả của một ngành hoặc một mặt hàng.
- t là mức thuế quan bình quân đơn giản đánh vào sản phẩm đầu ra của ngành đó
- l là thuế quan bình quân gia quyền đánh vào đầu vào đối với ngành đó (tính
theo giá thế giới).
- r là tỷ lệ nguyên vật liệu sử dụng trên tổng giá trị đầu vào của ngành

cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định
chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh
hoặc chuyển đổi cơ cấu. Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận
thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương. Đến nay đã có 8 vòng
đàm phán đáng kể khi GATT được hình thành vào năm 1947.
- Dễ dự đoán: Đôi khi cam kết không tăng một cách tuỳ tiện các hàng rào
thương mại (thuế quan và phi thuế quan khác) đem lại sự an tâm rất lớn cho các nhà
đầu tư. Với sự ổn định và dễ dự đoán, thì việc đầu tư sẽ được khuyến khích , việc làm
sẽ được tạo ra nhiều hơn và khách hàng sẽ được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh
trên thị trường. Hệ thống thương mại đa phương là một nỗ lực lớn của các chính phủ
để tạo ra một môi trường thương mại ổn định và có thể dự đoán.
-Tạo môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng: WTO đôi khi được miêu
tả như là một hệ thống “thương mại tự do”, tuy nhiên điều đó không hoàn toàn
chính xác. Hệ thống này vẫn cho phép có sự tồn tại của thuế quan và trong một số
trường hợp nhất định, vẫn cho phép có các biện pháp bảo hộ. Như vậy nói một cách
chính xác hơn thì WTO đem lại một sự cạnh tranh lành mạnh và công bằng
hơn.WTO cũng có thể hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh
không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số
doanh nghiệp nhất định.

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

15

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

làm công cụ để bảo hộ; và không sử dụng phí, lệ phí và các khoản thu khác mục

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

16

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

đích thu ngân sách (ngoài thuế nhập khẩu). Trên tinh thần đó Việt Nam đồng ý ràng
buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600 dòng thuế) với tổng cộng 1.246 nhóm
hàng. Mức thuế bình quân cuối cùng toàn biểu được giảm đi 23% so với mức bình
quân hiện hành (thuế suất MFN) của biểu thuế, cụ thể từ mức hiện hành 17,4%
xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình trong 5-7 năm. Trong toàn bộ Biểu cam
kết,Việt Nam sẽ cắt giảm khoảng 3.800 dòng thuế ( chiếm 35,5% dòng của Biểu);
ràng buộc ở mức hiện hành khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng); ràng buộc ở
mức trần cao hơn mức hiện hành với khoảng 3.170 dòng thuế chủ yếu là với nhóm
hàng xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số phương tiện vận tải. Một số mặt hàng có
thuế suất cao từ trên 20%, 30% sẽ được cắt giảm ngay khi gia nhập.
+ Đối với lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời
điểm gia nhập và mức cắt giảm cuối cùng là 21,0%. So sánh với mức thuế MFN
bình quân đối với lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm đi là
10%.
+ Đối với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân vào thời điểm gia
nhập là 16,1%, và mức cắt giảm cuối cùng là 12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng 5
năm. So với mức thuế MFN bình quân của hàng công nghiệp hiện nay là 16,6% thì

Lớp: Kế hoạch 46B


17

Luận văn tốt nghiệp

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

Nông sản

23,5

25,2

21,0

10,6

16,7

giảm 40% giảm 30%

Công nghiệp

16,6

16,1

12,6

trước khi gia nhập xuống còn 13,7% ngay khi gia nhập (tức giảm tới 63,3%), cá và
sản phẩm cá, gỗ và giấy (từ 22,3% trước khi gia nhập xuống 20,7% khi gia nhập và
cuối lộ trình là 15,1%), hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử (ti vi
giảm từ 50% xuống còn 40% và 25%). Ta đạt được mức thuế trần cao hơn mức
đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất là phương tiện vận
tải.
Ta cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do theo ngành của
WTO giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp. Đây là hiệp định tự nguyện của WTO
nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành. Ngành mà ta cam
kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế. Ta cũng
tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 – 5 năm đối với ngành thiết bị máy
bay, hóa chất và thiết bị xây dựng.
1.3.3.2. V ề thuế xuất khẩu
WTO không có nội dung nào yêu cầu cam kết về thuế xuất khẩu. Tuy nhiên,
một số thành viên (chủ yếu là các nước đã phát triển như Hoa Kỳ, Australia,
Canada và EU) yêu cầu cắt giảm tất cả thuế xuất khẩu đặc biệt đối với phế liệu kim

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

18

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

loại màu và kim loại đen vào thời điểm gia nhập với lý do đây là một hình thức
nhằm hạn chế thương mại, gây nên tình trạng khan hiếm nguyên liệu, làm đẩy giá

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

19

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

Tuy nhiên trong năm đầu, cơ cấu thu từ khâu xuất nhập khẩu sẽ bắt đầu có
sự chuyển dịch theo hướng: giảm tỷ trọng thu thuế xuất nhập khẩu, tăng tỷ trọng
thuế TTĐB, thuế GTGT hàng nhập khẩu.
- Xét về lâu dài thì nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu có thể bị giảm
sút do tất cả các mặt hàng nhập khẩu đều bị cắt giảm thuế rất mạnh nhất là vào thời
kỳ cuối của lộ trình. nên số thu thuế xuất nhập khẩu sẽ bị sụt giảm mạnh. Ngoài ra
mặc dù số thu từ thuế TTĐB và thuế GTGT hàng nhập khẩu có thể tiếp tục tăng
nhưng vì chung chỉ chiếm phần nhỏ trong cơ cấu nguồn thu từ thuế XNK nên có thể
bù đắp được cho sự sụt giảm của thuế XNK.
1.4. Khảo sát kinh nghiệm của các nước đang phát triển và có nền kinh tế
chuyển đổi về cải cách hệ thống chính sách thuế sau khi gia nhập WTO
Một quốc gia theo đuổi chính sách kinh tế mở cửa và tham gia vào các hiệp
hội hoặc tổ chức thương mại khu vực hay thế giới, dù muốn hay không cũng phải
tiến hành cắt giảm thuế xuất nhập khẩu theo những cam kết tham gia. Trong bối
cảnh như vậy, cải cách thuế ở các nước chủ yếu hướng tới mục tiêu tăng nguồn thu
một cách bền vững và chú trọng tính hiệu quả.
Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm ở các giải pháp, chính sách sau của
các nước đang phát triển và có nền kinh tế đang chuyển đổi.
1.4.1. Đề cao vai trò của các loại thuế nội địa, đặc biệt là thuế tiêu dùng
Để bù đắp sự suy giảm nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, những loại thuế tiêu dùng như VAT, thuế TTĐB

nhiều cuộc cải cách trong lĩnh vực thuế nhằm đơn giản hoá và giảm bớt số lượng
thuế suất thuế TTĐB, áp dụng mức thuế suất thống nhất giữa mặt hàng nhập khẩu
với hàng sản xuất trong nước, áp dụng mức thuế suất TTĐB “như nhau” giữa các
nước láng giềng do áp lực buôn lậu hàng hoá xuyên biên giới. Mức thuế suất TTĐB
thường có xu hướng tăng lên nhưng vẫn ở dưới mức thuế suất trung bình của các
nước trên thế giới. Các nước thường sử dụng cả mức thuế suất theo tỷ lệ và cả thuế
tuyệt đối, nhưng trong thời gian gần đây có sự chuyển hướng từ áp dụng mức thuế
suất thuế TTĐB theo tỷ lệ sang áp dụng mức tuyệt đối, chủ yếu nhằm hạn chế các
hiện tượng trốn thuế.
Bên cạnh việc đề cao vai trò của các loại thuế tiêu dùng, các loại thuế trực
thu như thuế thu nhập và thuế tài sản cũng sẽ được chú trọng để bù đắp số thu sụt
giảm do cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu theo tiến trình hội nhập kinh tế và toàn
cầu hoá.
1.4.2. Cải cách chính sách thuế thu nhập, nâng tỷ trọng nguồn thu từ thuế
thu nhập cá nhân
Để nâng tỷ trọng của thuế thu nhập cá nhân, đưa thuế này trở thành nguồn thu
quan trọng của ngân sách nhà nước, kinh nghiệm cải cách chính sách thuế ở các nước
đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi là mở rộng cơ sở tính thuế, giảm thuế suất
biên cao nhất và giảm bớt các khoản được miễn trừ thuế thu nhập cá nhân. Xu hướng
phổ biến áp dụng thuế thu nhập cá nhân là áp dụng mức thuế suất tối đa thấp hơn và áp
dụng một biểu thuế gồm ít mức thuế suất hơn. Nhìn chung, các nước thường đưa ra

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


Luận văn tốt nghiệp

21

nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi là giảm bớt nhấn mạnh vào tính
luỹ tiến, mục tiêu phân phối lại của hệ thống thuế, mà chủ yếu tập trung vào việc
khôi phục lại khía cạnh thúc đẩy tăng trưởng dựa trên một hệ thống thuế có cơ sở
đánh thuế rộng và khuyến khích tiết kiệm hoạt động hiệu quả trong một nền kinh tế
thị trường mở. Trong bối cảnh các tố chức quốc tế và các nước phát triển liên tục

SV: Nguyễn Thị Hoà

Lớp: Kế hoạch 46B


22

Luận văn tốt nghiệp

GVHD:PGS.TS. Lê Huy Đức

thúc đẩy và mở rộng toàn cầu hoá kinh tế, một hệ thống thuế hiệu quả có thể bị khả
năng tận dụng được những mặt lợi và hạn chế những mặt hại của tiến trình này vì
nó cung cấp nguồn lực cho nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh kinh tế xã hội.
Khi người ta nhận ra sự thất bại của mục tiêu công bằng trong cải cách thuế thì
cũng là lúc xuất hiện một trường phái lý thuyết mới cho rằng mục tiêu công bằng
thuộc về chức năng phúc lợi xã hội. Vì thế, đã nảy sinh thiên hướng đánh đổi giữa
mục tiêu công bằng và mục tiêu hiệu quả trong cải cách thuế. Lý thuyết thuế đã vận
dụng mối quan hệ “đánh đổi” giữa hai mục tiêu này, đồng thời áp dụng nguyên lý
ưu tiên tăng trưởng kinh tế nên vẫn đặt trọng tâm nhiều hơn vào mục tiêu hiệu quả.
1.4.4. Bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách hợp lý
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đối phó với các biện pháp khắc
phục thương mại của nước ngoài và điều tra tiến hành các biện pháp khắc phục
thương mại tại thị trường nội địa là hai quá trình song song, cần thiết và quan trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status