Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần các nhóm chân khớp bé (microarthropoda) ở đai cao của vườn quốc gia xuân sơn phú thọ - Pdf 31

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp
mục lục
Trang

Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục hình + Kí hiệu viết tắt
Mục lục
Mở đầu

1

Chương 1. Tổng quan tài liệu

4

1.1. Tình hình nghiên cứu Chân khớp bé trên thế giới.

4

1.2. Tình hình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam

5

Chương 2. Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp

11

2.5. Vài nét về điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu

14

2.5.1. Vị trí địa lý, địa hình, đất đai

14

2.5.2. Khí hậu

14

2.5.3. Tài nguyên sinh vật

15

2.5.4. Điều kiện kinh tế - xã hội

15

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

1


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Chương 3. Kết quả nghiên cứu

loại của Acarina, Collembola, Microarthropoda khác
3.3. Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân

35

khớp bé theo tầng phân bố ở đai cao 1000-1600m
3.3.1. Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân

35

khớp bé
3.3.2. Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần các nhóm phân

38

loại của Acarina, Collembola, Microarthropoda khác
Chương 4. Kết luận và kiến nghị

44

4.1. Kết luận

44

4.2. Kiến nghị

45

Tài liệu tham khảo


trình nghiên cứu này.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả người thân, bạn bè, đã luôn giúp đỡ,
động viên và khích lệ để tôi vượt qua những khó khăn, hoàn thành bản luận
văn này.
Hà Nội, tháng 05 năm 2010

Đặng Thị Hải

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

3


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố hay sử
dụng để bảo vệ một học vị nào từ trước đến nay.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đều đã được cảm ơn. Các thông tin
trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 05 năm 2010
Sinh viên

Đặng Thị Hải

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

Collembola, Microarthropoda khác của tầng rêu ở đai cao 600 1000m.
Biểu đồ 11. Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina, 34
Collembola, Microarthropoda khác của tầng thảm lá ở đai cao
600 - 1000m.
Biểu đồ 12. Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina, 34
Collembola, Microarthropoda khác của tầng đất ở đai cao 600 1000m.

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

5


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Biểu đồ 13. Cấu trúc mật độ của quần xã Chân khớp bé ở đai cao 1000
-1600m.
Biểu đồ 14. Tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé ở đai cao
1000- 1600m.
Biểu đồ 15. Cấu trúc mật độ các nhóm phân loại của Acarina,
Collembola, Microarthropoda khác ở đai cao 1000- 1600m.
Biểu đồ 16. Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,
Collembola, Microarthropoda khác của tầng rêu ở đai cao
1000- 1600m.
Biểu đồ 17. Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,
Collembola, Microarthropoda khác của tầng thảm lá ở đai cao
1000- 1600m.
Biểu đồ 18. Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,
Collembola, Microarthropoda khác của tầng đất ở đai cao

của Acarina, Collembola, Microarthropoda khác ở đai cao 300
600m.
Bảng 5. Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân 36
khớp bé theo tầng phân bố ở đai cao 1000 1600m.
Bảng 6. Cấu trúc thành phần các nhóm phân loại của Acarina, 41
Collembola, Microarthropoda khác ở đai cao 1000 1600m

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

7


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

DANH MụC HìNH
Hinh 1. Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ

16

kí hiệu viết tắt
Oribatei

:O

Gamasina

:G



8


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới sinh vật rất đa dạng và phong phú, chúng bao gồm đại diện của
hầu hết các ngành động vật không xương sống, từ đơn bào tới đa bào và đại
diện của một số lớp động vật có xương sống,... v.v.
Động vật sống trong đất có số lượng và sinh khối lớn, chiếm hơn 90%
tổng sinh khối sinh vật cạn và 50% tổng số loài động vật trên trái đất.
Động vật đất có vai trò quan trọng trong tự nhiên, là thành phần không
thể thay thế trong các quá trình sinh học xảy ra trong đất và trong sinh quyển
nói chung.Việc nghiên cứu sinh vật đất có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm
hiểu các đặc tính sinh học của đất và sự đa dạng của thế giới sinh vật nói
chung vì:
Nhóm động vật đất tham gia vào mọi chu trình tự nhiên và quyết định
nhiều hoạt tính sinh học của môi trường nơi chúng sống. Chúng có quan hệ
mật thiết đến các quá trình tạo đất và làm gia tăng độ phì, cải tạo và bảo vệ
môi trường đất.
Nhóm động vật đất chiếm hơn 90% tổng sinh lượng hệ sinh vật ở cạn và
hơn 50% tổng số sinh vật đất trên trái đất nên chúng là thành phần quan trọng
tạo nên tính đa dạng của sinh giới.
Đất là môi trường nuôi dưỡng và phát tán của nhiều nhóm kí sinh trùng
và nguồn bệnh vì thế nhiều động vật đất có vai trò như vectơ lan truyền hay
yếu tố ngăn chặn sự lây lan của chúng qua môi trường này.

Vườn Quốc gia Xuân Sơn là một trong những khu vực còn giữ được các
hệ sinh thái rừng tự nhiên ở trạng thái bảo tồn, còn nhiều nét hoang sơ, ít bị
sự tác động của con người. Tuy đã có một số công trình nghiên cứu về khu hệ
động thực vật (thú, chim, bò sát, lưỡng cư, hệ thực vật) nhưng có rất ít các
công trình nghiên cứu về động vật đất ở khu vực này.Việc nghiên cứu đầy đủ
các nhóm động vật (trong đó có động vật đất) góp phần cung cấp những dữ
liệu khoa học, phục vụ cho công tác dự báo, kiểm soát, quản lý và khai thác
bền vững tài nguyên môi trường đất.
Với tất cả các lý do trên, tôi đã chọn đề tài:
Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần các nhóm Chân khớp bé
(Microarthropoda) ở đai cao của Vườn Quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ.

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

10


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

2. Mục đích của đề tài
Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của
quần xã Chân khớp bé, các nhóm phân loại của Acarina, Collembola,
Microarthropoda khác theo các tầng phân bố ở sinh cảnh rừng tự nhiên vườn
Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ.
Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, xây dựng lòng say mê học
tập, làm tiền đề cho phục vụ giảng dạy và nghiên cứu sau này.
3. Nội dung của đề tài
Lập bảng số lượng, thành phần % các nhóm của quần xã Chân khớp bé

Microarthropoda với 2 đại diện chủ yếu là: Ve bét và Bọ nhảy cũng như
các động vật đất khác đã được biết đến từ lâu, cách đây hàng trăm năm. Tuy
nhiên, những bước đầu nghiên cứu về chúng vẫn còn lẻ tẻ, chỉ phát triển mạnh
trong vài chục năm gần đây.
Tiêu biểu là hai công trình nghiên cứu về khu hệ Bọ nhảy đã được coi là
cơ bản và đầy đủ nhất là Khu hệ Bọ nhảy ở Châu Âu của Gisin, 1960 và
Bọ nhảy Ba Lan trong mối liên hệ với khu Bọ nhảy thế giới của Stach, 19471963 [6].
Không chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu về phân loại học
Collembola mà còn rất nhiều các tác giả đi sâu nghiên cứu về sinh thái học,
sinh học của Collembola hay ảnh hưởng của môi trường lên Collembola. Đặc
biệt hiện nay, khi công nghiệp, nông nghiệp, phát triển mạnh môi trường càng
bị ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp, có chứa kim loại nặng, hay thuốc trừ

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

4


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

sâu, thuốc diệt cỏ, phân vô cơ... thì chỉ có một số ít loài có khả năng tồn tại
được [13], [14].
Khi nghiên cứu về vai trò phân huỷ thảm vụn thực vật của Bọ nhảy,
Simonov (1984) đã chứng minh sự tham gia của Collembola trong phân huỷ lá
rụng ở điều kiện thí nghiệm đã làm tăng cao chất lượng của mùn [1].
Nhiều tác giả Edwards, Heath, 1963; Witcamp, Grossky, 1966, Cykaskenly,
1978, đã xác nhận rằng: Tốc độ phân huỷ xác vụn thực vật có thể đạt tới hàng chục phần
trăm, tức là cao hơn một ít sự đóng góp riêng của Collembola vào hệ thống

sinh vật khác. Sau này chúng được nghiên cứu kĩ và có quy mô ở nhiều sinh
cảnh khác nhau bởi nhóm nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Trí Tiến,
Vương Thị Hoà, Đào Duy Trinh, Nguyễn Thị Thu Anh các công trình
nghiên cứu này được tiến hành trên các khu vực trải dài khắp từ Bắc vào Nam.
Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên đã được công bố ở một số hội
nghị, hội thảo trong nước và quốc tế cũng như trên các tạp chí chuyên ngành
[1], [4], [8], [9], [13].
Công trình đầu tiên là của Dennis và Delamare- Debouttelville công bố
năm 1948, đã mô tả một số loài Collembola thu thập ở Đà Nẵng, Nha Trang,
Tây Nguyên [9].
Cùng năm đó, Dennis đã đưa ra danh sách 17 loài Collembola ở Việt
Nam do Dawidoff thu thập ở các địa phương: Vĩnh Phúc, Đắc lắc, Đà Lạt, Đà
Nẵng
Tiếp theo đó là công trình Bọ nhảy ở SaPa của Stach (1965) ông đã đưa
ra danh sách gồm 30 loài thuộc 9 họ, 22 giống trong đó có 20 loài mới cho
khu hệ Việt Nam và 10 loài mới cho khoa học. Dẫn liệu này được công bố
trong công trình Một vài loài Collembola ở Bắc Việt Nam in bằng Tiếng
Anh. Zirô Yosii- nhà phân loại học người Nhật Bản, khi nghiên cứu khu hệ
Collembola ở một số nước vùng Đông Nam á (Inđonexia, Singapo..) cũng đã
đề cập đến một vài loài có phân bố ở Việt Nam [9].
Trước năm 1975, khu hệ Oribatei Việt Nam đã được các tác giả nước
ngoài nghiên cứu. Nhưng chỉ ở mức độ các thông báo tản mạn về loài mới,
thành phần loài ở từng khu vực nhất định [5], [9] chứ chưa đánh giá được vai
trò của chúng như một thành phần không thể thiếu trong cấu trúc dinh dưỡng
và chu trình luân chuyển vật chất của các quần lạc sinh vật cạn.
Từ năm 1975, các nhà nghiên cứu về nhóm Microarthropoda và các
nhóm động vật không xương sống khác ở đất mới bắt đầu được các tác giả
Việt Nam tiến hành khá đồng bộ, trên một số địa điểm của đất nước. Đặc biệt

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

tác chính tới cơ chế hình thành cấu trúc các quần lạc Oribatei ở miền Bắc Việt
Nam và đã xác định được 73 loài Oribatei trong đó có 7 loài mới cho khoa
học, 53 loài mới cho khu hệ Oribatei Việt Nam [11].
Năm 1990, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết tất cả các công trình nghiên
cứu về Chân khớp bé ở Việt Nam cho tới thời điểm đó. Tác giả đã đưa ra
những kết luận về thành phần, đặc điểm phân bố và số lượng Chân khớp bé,

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

7


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

nêu một số quy luật sinh thái quyết định sự hình thành cấu trúc định tính và
cấu trúc định lượng của quần xã Oribatei ở đất. Tác giả còn dẫn ra một danh
sách 117 loài Oribatei đã biết ở Việt Nam, cùng với các đặc điểm phân bố của
chúng theo vùng địa lý, theo loại đất và theo hệ sinh thái [5].
Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hoà (1995) đã giới thiệu danh sách 146
loài và phân loài Oribatei ở Việt Nam và phân tích đặc điểm thành phần loài
của chúng [7].
Năm 2002: Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hoà có nhận xét cấu trúc quần
xã Ve Giáp ở hệ sinh thái đất có liên quan rõ rệt với sự suy giảm của cây gỗ
rừng. Nó có thể được xem xét và đánh giá như một đặc điển sinh học, chỉ thị
quá trình diễn thế của thảm rừng Tam Đảo nói riêng và của Việt Nam nói
chung .
Cùng với những công trình nghiên cứu về Acarina, các nghiên cứu về
Collembola cũng được thực hiện.

Trên cơ sở phân tích các phản ứng của Bọ nhảy, thể hiện qua sự biến
đổi các giá trị chỉ số định lượng: Thành phần và số lượng loài, tỉ lệ các nhóm
ưu thế độ phong phú và chỉ số đa dạng, chỉ số đồng đều, chỉ số tương đồng về
thành phần loài ... các tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh giá về nguyên
nhân và mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến Bọ nhảy đến chất lượng
đất nơi nghiên cứu và đề xuất việc sử dụng Bọ nhảy như một công cụ kiểm tra
sinh thái khi đánh giá chất lượng đất nơi nghiên cứu và như chỉ thị sinh học
nhạy cảm để đánh giá mức độ tác động của con người đến môi trường đất
nước, tình trạng ô nhiễm, thoái hoá đất bởi các yếu tố ngoại cảnh [11].
Năm 2005, Vương Thị Hoà và các cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng
của một số thuốc sử dụng trong nông nghiệp như: Shachong Shuang 200SL,
Butavi 60EC lên cấu trúc quần xã động vật Chân khớp bé Microarthropoda đã
cho thấy: chỉ với 50ml cộng với khoảng 10 -20 lít nước cũng gây ảnh hưởng
rất nhiều tới số lượng của nhóm Microarthropoda. Đồng thời cho thấy trong
điều kiện thời tiết khác nhau, kể cả tác động của hai loại thuốc trên thì nhóm
Oribatei luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong cấu trúc của nhóm Microarthropoda.
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve giáp
trong cấu trúc của nhóm Chân khớp bé Microarthropoda ở các đai cao địa lý
của Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ, kết quả cho thấy: ảnh hưởng của thời

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

9


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

tiết lên sự phân bố của nhóm Microarthropoda theo tầng là rất cao và phát hiện

mẫu thu từ thực địa được thực hiện trong phòng thí nghiệm của phòng Động
vật Trường ĐH Sư Phạm Hà Nội 2.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Các đợt thực địa thu mẫu được thực hiện tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn,
Phú Thọ. Mẫu được thu ở sinh cảnh rừng tự nhiên trên các đai cao khí hậu
khác nhau (300- 600m, 600-1000m, 1000-1600m) với tổng 45 mẫu định
lượng. Mỗi đai cao tiến hành thu 15 mẫu ở các tầng: rêu, thảm lá, tầng đất
(sâu từ 0 10cm).
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp lấy mẫu ở thực địa
Mẫu đất được thu từ độ sâu 0 10 cm (từ mặt đất) với kích thước mỗi
mẫu là (5x5x10) cm. Mẫu thảm lá (tầng 0): Thu tất cả các thảm lá, vụn lá trên
mặt đất với kích thước (20 x 20) cm. Mẫu rêu thu ở độ cao từ 0 100 cm (từ
mặt đất): thu tất cả các thảm rêu từ độ cao 0 100 cm trên thân cây hay quanh
gốc cây, với mỗi mẫu có trọng lượng từ 250g đến 500g.

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

11


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Các mẫu định lượng của đất, lá, rêu đều được thu lặp lại 5 lần cho mỗi
đợt điều tra và cho vào túi polyetylen, bên trong có ghi đầy đủ các thông số:
ngày tháng, địa điểm, kiều sinh cảnh và buộc chặt.
Trong khi thu mẫu, còn mang theo sổ thực địa ghi nhật kí thu mẫu.
2.4.2 .Phương pháp tách lọc mẫu động vật.

Khoá luận tốt nghiệp

2.4.3 Xử lý, phân tích mẫu và số liệu
Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đổ dung dịch có chứa trong ống
nghiệm lên tờ giấy lọc đó. Tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh sót mẫu.
Sau khi đã lọc hết nước, đặt các tờ có chứa mẫu vào đĩa petri và tiến hành
phân tích dưới kính hiển vi. Dùng kim phân tích nhặt từng cá thể động vật để
tập trung lại một góc của đĩa petri, nhận dạng và ghi số lượng từng nhóm vào
sổ nhật ký phòng thí nghiệm. Tất cả các mẫu phân tích sau khi được ThS.Đào
Duy Trinh kiểm tra, sẽ được cho vào ống nghiệm nhỏ có chứa dung dịch định
hình, trong có nhãn ghi địa điểm, thời gian, sinh cảnh tầng đất rồi nút bằng
bông không thấm nước.
Trong khi phân tích mẫu, chúng tôi đã tách riêng một số nhóm động vật
và tính toán số lượng của từng nhóm, cụ thể như sau:
Với Acarina, chúng tôi tách ra 4 nhóm phân loại:
- Oribatei (kí hiệu là: O).
- Gamasina (kí hiệu là: G).
- Uropodina (kí hiệu là: U).
- Acarina khác ( bao gồm các nhóm Ve bét còn lại, ngoài 3 nhóm
trên, kí hiệu là: A#).
Với Collembola, chúng tôi tách ra 3 nhóm phân loại:
- Poduromorpha (kí hiệu là: P).
- Entomobryomorpha (kí hiệu là: E).
- Symphypleona (kí hiệu là: S).
Với Microarthropoda khác, chúng tôi tách thành 4 nhóm phân loại:
- Chân đều (kí hiệu là: Cđ).
- Nhiều chân (kí hiệu là: Nc).
- Nhện (kí hiệu là: N).
- Côn trùng và ấu trùng côn trùng (kí hiệu là: Atct).


ẩm và lượng mưa lớn, mùa đông ít mưa và khá lạnh do chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc mùa xuân có mưa phùn.Vườn Quốc gia Xuân Sơn cũng mang
những đặc trưng của khí hậu Việt Nam [15].

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

14


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

2.5.3 Tài nguyên sinh vật
Rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với môi trường sống của con
người. ở Việt Nam, rừng nhiệt đới đa dạng và phong phú. Đây là một kho tài
nguyên sinh vật quý báu chứa một hệ sinh vật vô cùng phong phú gồm nhiều
loại động vật, thực vật quý hiếm trong đó có hệ động vật đất. Đặc biệt Vườn
Quốc gia Xuân Sơn cũng mang nhiều đặc điểm của rừng nhiệt đới Việt Nam,
có nhiều thuận lợi cho quá trình phát triển của sinh vật [15].
Vườn Quốc gia Xuân Sơn tuy có diện tích không lớn, nhưng có mức độ
đa dạng cao cả về hệ động vật và thực vật.
Các kết quả nghiên cứu về khu hệ động, thực vật của vườn cho thấy:
- Hệ thực vật nơi đây có 465 loài bậc cao thuộc 311 chi,105 họ với
nhiều loài quý hiếm và có giá trị kinh tế cao: lát, sến mật, chò chỉ, nghiến, củ
dòm, rau sắng, dây ngót, rùng...[15].
- Hệ động vật có 282 loài động vật có xương sống, trong đó có 23 loài
lưỡng cư, 30 loài bò sát, 168 loài chim và 61 loài thú. Có 46 loài quý hiếm có
tên trong sách đỏ Việt Nam và 18 loài có tên trong sách đỏ thế giới [15].
2.5.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

Chương 3. kết quả nghiên cứu

3.1. Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé theo
tầng phân bố ở đai cao 300-600m.
3.1.1. Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé
3.1.1.1. Cấu trúc mật độ
Bảng 1 và biểu đồ 1 là các số liệu về cấu trúc mật độ của quần xã Chân
khớp bé ở đai cao 300- 600m bao gồm: Acarina, Collembola và Microarthropoda
khác. Qua bảng 1 và biểu đồ 1 ta nhận thấy:
ở tầng rêu: Trong tổng số Microarthropoda (8263 cá thể/kg), Acarina
chiếm số lượng cao nhất (4302 cá thể/kg), sau đó là Microarthropoda khác
(2943 cá thể/kg), thấp nhất là Collembola (1018 cá thể/kg).
ở tầng thảm lá: Trong tổng số Microarthropoda (1970 cá thể/m2),
Acarina chiếm số lượng cao nhất (950 cá thể/m2), sau đó là Microarthropoda
khác (590 cá thể/m2), thấp nhất là Collembola (430 cá thể/m2).
ở tầng đất: Trong tổng số Microarthropoda (10520 cá thể/m2), nhóm
Microarthropoda khác chiếm số lượng cao nhất (9360 cá thể/m2) chứ không
phải như tầng thảm lá và tầng rêu, sau đó là Acarina (760 cá thể/m2), thấp
nhất là Collembola (400 cá thể/m2).
3.1.1.2. Tỷ lệ thành phần
Bảng 1 và biểu đồ 2 là các số liệu về tỷ lệ thành phần của quần xã Chân
khớp bé. Qua bảng 1 và biểu đồ 2 cho ta thấy:
ở tầng rêu: Acarina chiếm tỷ lệ cao nhất (52,1%), sau đó là Microarthropoda
khác (35,6%), thấp nhất là Collembola (12,3%).
ở tầng thảm lá: Acarina vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (48,2%), sau đó là
Microarthropoda khác (30%) và thấp là Collembola (21,8%).

Đặng Thị Hải Lớp K32B Sinh

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status