Đánh giá tác động của quá trình sản xuất giấy tới môi trường nước tại xã phong khê, thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh và các giải pháp khắc phục - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH - KTNN
----------------------------------------

ĐOÀN THỊ YẾN

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH
SẢN XUẤT GIẤY TỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI
XÃ PHONG KHÊ, THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH
BẮC NINH VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái - Môi trường
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. HOÀNG NGUYỄN BÌNH

Hà Nội - Năm 2010

Đoàn Thị Yến

1

K32A - SP Sinh



Với nội dung của đề tài, tôi xin cam đoan như sau:
1. Đề tài của tôi không hề sao chép từ bất kỳ một đề tài nào có sẵn.
2. Đề tài của tôi không trùng với một đề tài nào khác.
3. Kết quả thu được trong đề tài là do nghiên cứu thực tiễn đảm bảo tính chính
xác và trung thực.
4. Đề tài là một phần của công trình “ Bảo tồn và phát triển làng nghề giấy
Phong Khê, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh”.
Công trình trên tôi nghiên cứu cùng sinh viên: Vũ Thị Ngọc K32A Sinh, Trần Thị Loan K32B - Sinh.
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2010
Tác giả khóa luận

Đoàn Thị Yến

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOD
COD
CNH - HĐH
CSSX
DO
ĐHQGHN
HĐND
KCN
KCNLN
KHTN
Nxb
ÔNMT
SS
STT

Đoàn Thị Yến


Tiêu chuẩn cho phép
Tiêu chuẩn Việt Nam
Tài nguyên - Môi trường
Ủy ban nhân dân
Vi sinh vật

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1
Bảng 2
Bảng 3
Bảng 4
Bảng 5
Bảng 6
Bảng 7
Bảng 8

Sự phân bố các CSSX tại các thôn trong xã Phong Khê.
Nhu cầu nguyên, nhiên liệu và nước sử dụng tại Phong Khê.
Phân tích nước thải tại KCN Phong Khê và thôn Dương Ổ.
Tải lượng các chất ô nhiễm do hoạt động sản xuất giấy và
sinh hoạt ở Phong Khê.
Phân tích nước mặt tại xã Phong Khê.
Phân tích nước ngầm tại thôn Dương Ổ, xã Phong Khê.
So sánh tỷ lệ mắc bệnh giữa người trực tiếp sản xuất và
người không trực tiếp sản xuất ở xã Phong Khê.
Tiêu chuẩn nước thải tại nguồn.

Trang
17

35
36
39
40

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển là mục tiêu của mọi quốc gia trên thế giới nhằm cải thiện
chất lượng cuộc sống. Để đạt được mục tiêu trên, phát triển kinh tế phải đi đôi
với bảo vệ môi trường. Chiến lược phát triển toàn cầu là một minh chứng cho

Đoàn Thị Yến

4

K32A - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình

sự tiến bộ đáng khích lệ của thế hệ hiện tại trong nhận thức về trách nhiệm
với thế hệ tương lai. Cùng đi chung trên con tàu trái đất, Việt Nam đã và đang
gắng sức thực hiện mục tiêu này.
Trong những năm gần đây, do chủ trương đa dạng hóa thành phần kinh
tế, đa dạng hóa ngành nghề của Đảng và Nhà nước, nông thôn Việt Nam đã
đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, đặc biệt là sự khôi
phục phát sinh phát triển mạnh mẽ các làng nghề truyền thống và làng nghề
mới.


sinh môi trường không được quan tâm nên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khỏe người dân.
Vì các lý do đó, làng nghề sản xuất giấy Phong Khê đang đứng trước
nguy cơ bị các cơ quan chức năng đóng cửa, tức dẫn đến nguy cơ không còn
tồn tại. Điều đó ảnh hưởng tới việc sống còn của địa phương này. Vì vậy,
chúng tôi chọn đề tài “ Đánh giá tác động của quá trình sản xuất giấy tới
môi trường nước tại xã Phong Khê, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh và
các giải pháp khắc phục”.
2. Mục tiêu của đề tài
Đề tài chúng tôi nghiên cứu nhằm các mục tiêu sau:
- Đánh giá ảnh hưởng từ quy trình sản xuất giấy bằng nguyên liệu tái
chế đến môi trường tự nhiên và con người tại khu vực.
- Đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tối đa nguồn gây ô
nhiễm môi trường nhưng vẫn đảm bảo duy trì sản xuất của các cơ sở.
- Từ những kết luận, bài học rút ra từ vùng nghiên cứu có thể tạo ra
những hướng đi thích hợp cho việc duy trì và phát triển sản xuất ở các làng
nghề tương tự.
3. Điểm mới của đề tài
- Phân tích quy trình sản xuất, đánh giá tác động môi trường, đưa ra các
giải pháp để duy trì sản xuất đồng thời giảm thiểu ÔNMT tại làng nghề.
- Các giải pháp đưa ra sẽ được kiến nghị với chính quyền địa phương
để có chiến lược giảm thiểu ÔNMT, định hướng phát triển kinh tế và bảo vệ
sức khỏe con người.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Việc giải quyết các mục tiêu của đề tài sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn
nhằm đảm bảo vừa duy trì hoạt động của các CSSX vừa giảm thiểu ÔNMT
đảm bảo cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái khu vực.

Đoàn Thị Yến

Nam
Đất nước ta đang trên đà phát triển CNH - HĐH, tiến đến mục tiêu năm
2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp. Cùng với quá trình phát triển kinh
tế, đến nay số làng nghề và làng nghề truyền thống ở nước ta đã lên đến trên
2.000 làng nghề. Trong đó vùng đồng bằng sông Hồng có 855 làng nghề,
Đông Bắc có 164 làng nghề, Tây Bắc có 247 làng nghề, Bắc Trung bộ có 314
làng nghề, Nam Trung bộ có 87 làng nghề, Đông Nam bộ có 101 làng nghề,
đồng bằng Sông Cửu Long có 211 làng nghề. Trong số đó, tất cả có khoảng
300 làng nghề truyền thống [1].
Bên cạnh những mặt tích cực về kinh tế của các làng nghề mang lại, thì
hoạt động sản xuất tại các làng nghề đang gây ảnh hưởng xấu tới môi trường,
sức khoẻ cộng đồng và gây những mâu thuẫn môi trường nông thôn. Đánh giá
thực trạng ÔNMT và đưa ra giải pháp khắc phục đang là vấn đề rất cần thiết
để duy trì và phát triển bền vững các làng nghề.
Nguyễn Quang Trung, Hoàng Thu Thủy (2004) đã chỉ ra một số đặc
trưng về phát triển làng nghề nông thôn Việt Nam, nguyên nhân gây ô nhiễm
tại các làng nghề. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là quá trình xử lý
công nghiệp như: chế biến lương thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, tẩy giấy và
nhuộm… Thường nước thải ra bị nhiễm màu nặng và gây ra hiện tượng đổi
màu đối với dòng sông nhận nước thải. Ô nhiễm không khí gây bụi, ồn và
nóng do sử dụng than và củi trong sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gốm
sứ. Ô nhiễm chất thải rắn do tái chế nguyên liệu: giấy, nhựa, kim loại… các
loại rác thải thông thường: nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các
loại rác thải khác thường được xả ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào.
Tác giả cũng đã phân tích ảnh hưởng của chất thải làng nghề tới môi trường

Đoàn Thị Yến

8


1.2. Các nghiên cứu về ô nhiễm môi trường tại làng nghề giấy
Phong Khê, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Làng nghề giấy Phong Khê (trước đây thuộc huyện Yên Phong nay
thuộc thành phố Bắc Ninh) có truyền thống xeo giấy từ lâu đời nhưng mới

Đoàn Thị Yến

9

K32A - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình

phát triển sản xuất giấy từ nguyên liệu tái chế cách đây không lâu. Đi liền với
nó là sự ÔNMT. Đã có nhiều cá nhân và tổ chức nghiên cứu ô nhiễm môi
trường tại khu vực:
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội
(1998), đánh giá hiện trạng môi trường không khí tại ba làng nghề thủ công
(làng nghề giấy Phong Khê, sắt Đa Hội, nhựa Minh Khai). Đề tài chỉ rõ nồng
độ một số chất khí độc có trong môi trường không khí khu vực sản xuất cao
hơn khu vực dân tại xã Phong Khê do quy trình sản xuất ở đây quá lạc
hậu[19].
Các báo cáo hiện trạng môi trường của Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh
Bắc Ninh qua các năm chỉ rõ nước của sông Ngũ Huyện Khê đang bị ô nhiễm
nặng, tình trạng ô nhiễm này tăng qua các năm do chất thải chưa xử lý của các
làng nghề đổ thẳng ra sông [15].
Tạ Thúy Vân (2006) nghiên cứu về quá trình đô thị hóa và một số vấn đề

loại nước thải gây ô nhiễm nặng nề do khối lượng nước lớn (trung bình từ 100
- 200 m3/1tấn sản phẩm). Nước thải giấy có chứa hàm lượng các chất hữu cơ,
xơ sợi nhiều dễ bị phân hủy gây mùi hôi thối. Mặt khác nước thải giấy thường
có màu sẫm hay màu của phẩm nhuộm gây mất mỹ quan và độc hại đối với
các loài thủy sinh vật. Trong quá trình sản xuất nước thải của các CSSX hầu
hết được xả thẳng ra sông, rạch gây ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận.
1.3.1. Nguồn gốc của nước thải công nghiệp giấy và bột giấy
Các nguồn nước thải của nhà máy giấy bao gồm [11]:
- Nước rửa nguyên liệu có các chất hữu cơ, đất đá, cát sỏi, vỏ cây, xơ
sợi, ..
- Nước thải từ công đoạn nấu và rửa sau nấu (đối với sản xuất giấy từ
nguyên liệu tre, nứa, gỗ keo, bạch đàn….) có nhiều chất hòa tan, các hóa chất
nấu và một phần xơ sợi. Nước thải ở đây có màu đen và thường gọi là dịch
đen, thành phần hữu cơ chủ yếu là lignin hòa tan trong kiềm (30 - 35% theo
chất khô), ngoài ra là sản phẩm phân hủy hidratcacbon và các axit hữu cơ
khác. Thành phần vô cơ gồm những hóa chất đưa vào nấu, một phần nhỏ là
NaOH, Na2SO4, Na2S, Na2CO3, … còn phần nhiều là kiềm sulfat liên kết với
các chất hữu cơ trong kiềm.
- Nước thải từ công đoạn tẩy trắng bột giấy chứa các hợp chất hữu cơ,
lignin hòa tan và các hợp chất tạo thành của những chất đó với chất tẩy ở
dạng độc hại (ví dụ các hợp chất clo hữu cơ). Nước thải ở đây có độ màu, giá
trị COD và BOD đều cao.

Đoàn Thị Yến

11

K32A - SP Sinh




12

K32A - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình

1.4. Các phương án xử lý nước thải trong công nghiệp giấy và bột
giấy
Nói chung nước thải trong sản xuất giấy có lẫn nhiều xơ sợi xenlulose,
nhiều chất rắn lơ lửng dạng bột, nhiều chất hữu cơ hòa tan ở dạng khó và dễ
phân hủy sinh học, các hóa chất dùng để tẩy và hợp chất hữu cơ của chúng.
Vấn đề ô nhiễm nước thải giấy phải được giải quyết đồng thời bằng việc lựa
chọn công nghệ thích hợp xử lý nước thải.
Các yếu tố gây ô nhiễm chính của nước thải giấy [13]:
-

Cặn lơ lửng (SS) do bột giấy, chất độn (như phẩm màu), cao lanh
gây nên là chính.

-

COD và BOD do các chất hữu cơ và bột giấy gây ra.

-

pH cao do kiềm dư gây ra.


khử màu. Phương pháp đông keo tụ có thể xử lý trước và sau khi xử lý sinh
học. Các chất keo tụ thông thường là phèn sắt, phèn nhôm và vôi. Dùng chất
keo tụ là các chất polime làm tăng tốc độ lắng. Với phèn sắt cần pH thích hợp
là 5 - 11, phèn nhôm cần pH từ 5 - 7, kết hợp cả phèn nhôm và phèn sắt cho
hiệu quả lắng cao hơn, pH thích hợp cho hỗn hợp phèn là 6 – 9 [8].
Phương pháp sinh học: dùng để xử lý các chất hữu cơ dạng hòa tan.
Các chất này dễ phân hủy hiếu khí và kị khí bởi vi sinh vật có trong nước thải.
Nước thải của công nghiệp giấy và bột giấy có tải lượng chất ô nhiễm chất
hữu cơ cao, đặc biệt có chứa hàm lượng các hợp chất lignin cao ở dòng thải
của xí nghiệp. Hợp chất này là những chất không có khả năng phân hủy hiếu
khí hoặc phân hủy yếm khí rất chậm. Do đó trước khi đưa vào xử lý sinh học
thì dịch đen của quá trình sản xuất giấy và bột giấy cần được xử lý cục bộ để
tách lignin [5,11,14].
Trong nước thải giấy có hàm lượng các hợp chất cacbohydrat cao, là
những chất dễ phân hủy sinh học nhưng lại thiếu nitơ, phốtpho là những chất
dinh dưỡng cần thiết cho VSV phát triển. Do đó trong quá trình xử lý nước
thải bằng phương pháp sinh học cần bổ sung các chất dinh dưỡng, đảm bảo tỷ
lệ BOD5 : N : P ═ 100 : 5 : 1 cho quá trình hiếu khí và 100 : 3 : 0,5 với quá
trình kị khí. Đặc tính của nước thải giấy thường có tỉ lệ BOD5 : COD ═ 0,55
và hàm lượng COD > 1000mg nên trong quá trình xử lý thường kết hợp giữa
phương pháp kị khí và phương pháp hiếu khí. Sử dụng bể Aeroten cho hiệu
quả xử lý nước thải 98,87%. Ngoài ra còn sử dụng phương pháp xử lý yếm
khí dùng kỹ thuật UASB ( Uflow Anaerobic Sludge Blanket) cũng cho hiệu
suất cao (98,98%) [5].
Xử lý nước thải giấy có thể thực hiện xử lý cục bộ từng dòng sau đó xử
lý tập trung với các dòng khác trong nội bộ cơ sở hay xử lý tập trung với nước
thải sinh hoạt .

Đoàn Thị Yến

Dựa trên các số liệu thu thập từ thực tế, đánh giá và dự báo những vấn
đề liên quan. Các số liệu thu thập được xử lý, so sánh với nhau và với các tiêu
chuẩn môi trường, từ đó đưa ra những kết luận hợp lý về các vấn đề môi
trường của làng nghề, đồng thời đưa ra các biện pháp giải quyết phù hợp.
* Xử lý số liệu:
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê thông thường và được thực
hiện trên phần mềm Microsoft office exel 2007.

Đoàn Thị Yến

15

K32A - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình

CHƯƠNG 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÀ
HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT GIẤY TẠI XÃ PHONG KHÊ,
THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
3.1. Sơ lược về điều kiện tự nhiên - xã hội xã Phong Khê
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Xã Phong Khê thuộc thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh có toạ độ địa lý
2107’3’’ vĩ độ kinh Bắc và 105055’30’’ kinh Đông cách trung tâm thành phố
Bắc Ninh 3km về phía Tây Nam, nằm gần quốc lộ 1A (Hà Nội - Lạng Sơn),
cách Hà Nội khoảng 30km về phía Đông Bắc, thuận lợi cho việc vận chuyển
nguyên liệu cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Hà Nội và các

Nhiệt độ không khí:
- Nhiệt độ không khí trung bình năm: 22,70C - 23,80C
- Nhiệt độ không khí trung bình lớn nhất: 28,60C - 30,00C (tháng VII)
- Nhiệt độ không khí trung bình thấp nhất: 15,20C - 17,20C (tháng I)
Độ ẩm không khí:
Độ ẩm trung bình hàng năm ở khu vực tương đối lớn, xấp xỉ 80%. Diễn
biến độ ẩm ở đây phụ thuộc vào yếu tố mưa nên trong năm thường có hai thời
kỳ độ ẩm cao và độ ẩm thấp. Thời kỳ độ ẩm cao thứ nhất đúng vào thời kỳ
mưa nhiều từ tháng I đến tháng IV. Thời kỳ độ ẩm cao thứ hai vào thời kỳ
mưa nhiều từ tháng VII đến tháng IX. Cả hai thời kỳ này đều có độ ẩm trung
bình hàng tháng trên dưới 85%. Thời kỳ độ ẩm thấp nhất từ tháng XI đến
tháng I năm sau (thời kỳ chịu ảnh hưởng của khối không khí cực đới lục địa
hoạt động mạnh), độ ẩm trung bình dưới 80%.
Lượng mưa trên toàn khu vực được phân bố theo 2 mùa: mùa mưa kéo
dài từ tháng V đến tháng X, mùa khô kéo dài từ tháng XI đến tháng IV năm
sau. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1200 - 1900 mm, Lượng mưa tháng
lớn nhất: 614,4 mm (tháng VI/1998), Lượng mưa tháng nhỏ nhất: 2,0 mm
(tháng XII/1998).
Thủy văn
Chảy qua khu vực xã Phong Khê là sông Ngũ Huyện Khê thuộc một
nhánh của sông Cầu. Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho giao thông của xã
với các xã lân cận theo đường thủy. Ngoài ra, sông này còn là nguồn cung cấp
nước chính cho hoạt động tưới tiêu, sản xuất và cũng là nơi tiếp nhận nước
thải từ các hoạt động trong làng.

Đoàn Thị Yến

17

K32A - SP Sinh

người ở lứa tuổi lao động, số lượng công nhân trong các xưởng sản xuất hiện
nay là khoảng 2200 - 3000 người. Mức thu nhập bình quân của công nhân là
từ 1.000.000 - 2.500.000đồng/tháng.

Đoàn Thị Yến

18

K32A - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình

Kinh tế
Sản xuất nông nghiệp: tổng diện tích gieo trồng bình quân hàng năm là
1.301,6 mẫu giảm 328,4 mẫu so với bình quân năm 1996 - 2000. Diện tích đất
canh tác trên đầu người ngày càng giảm do nhu cầu về đất ở và đất mở xưởng
sản xuất, ngoài ra còn do quy hoạch đường và quy hoạch một số khu đất xây
dựng trường học và một phần diện tích đất không cấy được do ô nhiễm đất.
Trong khi đó năng suất lúa trong bình cả hai vụ không cao. Qua diện tích và
năng suất lúa cho thấy thu hoạch từ nông nghiệp không cao, không đảm bảo
được cuộc sống người dân nếu như không có thêm nghề làm giấy. Cơ cấu
kinh tế những năm gần đây chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng
ngành công nghiệp và thương nghiệp giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp.
Tình hình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của địa phương
trong những năm qua có tốc độ phát triển khá nhanh. Các doanh nghiệp, xí
nghiệp ngày càng được đầu tư đổi mới trang thiết bị, sản phẩm làm ra ngày
càng có chất lượng cao đáp ứng được thị trường tiêu thụ. Từ đó góp phần

thu nhập đời sống nhân dân.
Từ năm 1984, Nhà nước có chính sách khuyến khích các thành phần
kinh tế phát triển, từ đó làng nghề giấy Phong Khê chuyển dần từ sản xuất thủ
công thô sơ sang lắp đặt các dây chuyền sản xuất bằng máy, điển hình có gia
đình ông Nguyễn Văn Năng đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền sản xuất giấy
đầu tiên trên địa bàn xã với công suất 200 tấn giấy/năm trên diện tích đất
400m2, hiệu quả kinh tế gấp nhiều lần so với làm thủ công, hơn nữa chất
lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường.
Trước đòi hỏi về phát triển kinh tế của địa phương, Đảng ủy - HĐND UBND xã đã có hướng đầu tư quy hoạch khu sản xuất tập trung để tăng
cường sự quản lý của Nhà nước về mặt môi trường và xã hội.
Hiện nay, số lượng các hộ gia đình làm giấy thủ công giảm đi, số lượng
nhà xưởng với công nghệ thiết bị máy móc tăng lên. Năm 1995 cả xã có trên
20 dây chuyền sản xuất giấy công nghiệp thì tính đến năm 2005 đã tăng lên
220 dây chuyền nằm trong 171 doanh nghiệp, trong đó có 65 CSSX tư nhân,
89 công ty, xí nghiệp, hợp tác xã cổ phần với tổng sản lượng khoảng trên
30.000 tấn/năm. Sản xuất giấy công nghiệp và thủ công nghiệp ở Phong Khê
mỗi năm một tăng. Sự phân bố các CSSX hiện nay tại các thôn trong xã thể
hiện qua bảng 1.

Đoàn Thị Yến

20

K32A - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình



3

Thôn Châm Khê

620

8

10

4

Thôn Ngô Khê

162

1

1

5

Khu công nghiệp

65*

62

70


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình

3.2.2. Các quy trình sản xuất giấy tại Phong Khê
3.2.2.1. Quy trình sản xuất giấy dó
Vỏ dó lấy từ thân cây dó (Rhamnoneuron balansae) được ngâm nước
sau đó cho vào nấu. Tiếp theo, vỏ được ngâm với nước vôi đặc. Rửa sạch
nước vôi, vỏ dó được đem nghiền thành bột rồi đưa vào bể tráng giấy. Sau khi
tráng, giấy được ép hết nước và tách thành từng tờ và đem phơi tự nhiên. Các
công đoạn sản xuất giấy dó hoàn toàn thủ công từ giã bột dó đến phơi sản
phẩm, nhưng ngày nay người ta thay việc giã thủ công bằng máy nghiền chạy
điện. Giá thành của giấy dó cao do nhiều công đoạn sản xuất thủ công.
Than, củi

Vỏ dó
Khói lò (bụi, SOx, NOx,
CO, CO2), to
Nước thải

Nấu vỏ
Nước vôi đặc
Ngâm kiềm
Chất chiết
từ thực vật

Rửa nước
vôi
Nghiền nhỏ

Hiện nay, để hạ giá thành giấy dó người ta đã pha bột giấy dó với bột xi
măng thường là tỷ lệ 7:3. Mặt khác, khi sản phẩm được yêu cầu về độ trắng
thì người ta đã dùng nước Javen để tẩy. Nước Javen được cho vào các bể
tráng trước khi xeo giấy. Trước kia quy trình sản xuất ít gây ảnh hưởng tới
môi trường sống, nhưng hiện nay do việc tẩy trắng giấy đã sử dụng nước
Javen làm phát sinh khí Cl2 rất độc hại cho con người.
3.2.2.2. Quy trình sản xuất bìa các tông
Giấy loại, bìa loại được ngâm trong nước cho mủn ra sau đó được
nghiền nhỏ. Bột giấy được hoà loãng và đánh tơi rồi chuyển sang bể xeo. Bột
giấy được xeo thành bìa, bìa giấy sấy khô bằng nhiệt của hơi nóng sau đó
được cuộn thành các lô. Hơi nước nóng được lấy từ lò hơi chạy bằng than đá
hoặc củi gỗ. Ở đây, nếu bìa cần độ trắng thì dùng nước Javen để tẩy trắng.
Các công đoạn nghiền đánh tơi, xeo, cuộn đã sử dụng máy móc thay thế cho
lao động thủ công. Nhưng hiện nay, các xí nghiệp nhỏ thường bỏ qua giai
đoạn ngâm nước, mà đem nghiền khô các loại giấy loại, giấy bìa loại.

Đoàn Thị Yến

23

K32A - SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình

Giấy loại,
giấy bìa


Bụi,
tiếng
ồn,
nhiệt
độ,
nước
thải

Xeo

Cuộn

Sản phẩm

Bụi,
tiếng
ồn,
nhiệt
độ.

Hình 2: Quy trình sản xuất bìa các tông kèm theo dòng thải
3.2.2.3. Quy trình sản xuất giấy vệ sinh, giấy ăn, giấy vàng mã
Giấy in, phế liệu các loại được ngâm kiềm, sau đó được ngâm tẩm bằng
nước Javen. Sau khi ngâm tẩy, giấy được nghiền nhỏ, bột giấy được hòa
loãng và đánh tơi vào bể xeo. Giấy sau khi xeo được làm khô bằng hơi nước.
Giấy thành phẩm được cuộn thành lô và cắt tới kích thước phù hợp rồi bao
gói tạo thành sản phẩm. Đối với các sản phẩm giấy có màu thì không cần tẩy
trắng mà cho thêm chất màu trong quá trình nghiền bột. Các chất màu thường
có nguồn gốc từ Trung Quốc nhập với giá rẻ, hiệu quả sử dụng không cao,
lượng thải gây ÔNMT lớn. Các công đoạn nghiền, đánh tơi, xeo đã sử dụng

Phèn

Tiếng ồn

Nghiền

Tiếng ồn

Đánh tơi

Bụi,
tiếng
ồn, to
Nước
thải
Bụi,
tiếng ồn
Bụi

Xeo

Nước

Than

Khói lò
(NOx,
Nhựa thông
CO,
Lò hơi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status