Nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa tinh thần của công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay. (Thông qua khảo sát tại một số doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Vinh) - Pdf 31

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________________

ĐẶNG THỊ PHƯỢNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ TINH THẦN
CỦA CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Ở THÀNH PHỐ VINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
(Thông qua khảo sát tại một số doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Vinh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 2013


2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________________

ĐẶNG THỊ PHƯỢNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ TINH THẦN
CỦA CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Ở THÀNH PHỐ VINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
(Thông qua khảo sát tại một số doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Vinh)


4

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU................................................................................................................................5


5

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Kết hợp hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống văn hoá tinh thần là
một nhân tố vô cùng quan trọng, là động lực, nền tảng của sự phát triển xã
hội. Bởi cùng với đời sống vật chất, đời sống văn hoá tinh thần luôn gắn bó
song hành, bổ sung mật thiết với nhau nhằm mang lại hạnh phúc cho con
người và xã hội.
Trải qua gần 30 năm thực hiện thành công quá trình đổi mới, cùng với
sự phát triển kinh tế - xã hội, nhìn chung đời sống vật chất và tinh thần của
giai cấp công nhân và người lao động ở thành phố Vinh nói riêng và Nghệ An
nói chung ngày càng được cải thiện và nâng cao. Bên cạnh việc góp phần giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động, ổn định đời sống vật chất thì vấn
đề chăm lo xây dựng đời sống văn hoá tinh thần cho giai cấp công nhân và
người lao động là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách. Điều này đã
được thể hiện được tinh thần của Nghị quyết trung ương 5 khóa VIII “Về xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa
dân tộc”. Đồng thời, không chỉ là lợi ích trước mắt của người lao động mà
còn là mục tiêu lâu dài của Đảng và tổ chức Công đoàn đồng thời là nhiệm vụ
của toàn bộ hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay. Xác định được nhiệm
vụ này, trong nghị quyết lần thứ sáu của đại hội X của Đảng cũng đã chỉ rõ:
“Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần cho giai cấp

nước.
Trong những năm gần đây, nhờ thực hiện các chủ trương đường lối của
Đảng và có sự quan tâm đúng mức, kịp thời của ban ngành các cấp trên địa
bàn tỉnh Nghệ An nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đi vào ổn định và phát
triển tương đối nhanh và mang lại hiệu nhất định. Tuy nhiên, do chịu tác động
nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã gây ra những tổn thất cực


7

kỳ nghiêm trọng đến sự phát triển các doanh nghiệp nói chung và đời sống
văn hóa tinh thần của công nhân nói riêng. Chính vì thế, bên cạnh việc nâng
cao đời sống vật chất thì việc nâng cao sống văn hoá thần cho công nhân
trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những nhiệm vụ quan trọng
và cấp bách hiện nay. Do đó, cần có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc xây
dựng công tác lí luận gắn với hoạt động thực tiễn hài hoà nhằm đưa ra những
giải pháp tối ưu nhằm xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động văn hoá tinh
thần cho công nhân đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Với mong muốn có một đánh giá sát thực, khách quan về thực trạng đời
sống văn hoá tinh thần của công nhân và người lao động, từ đó đưa ra những
phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng và góp phần nâng cao đời sống
văn hoá tinh thần cho công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành
phố Vinh nói riêng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Nghệ An nói
chung. Chúng tôi chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động văn hoá tinh
thần của công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Vinh
trong giai đoạn hiện nay” (Thông qua khảo sát tại một số doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Vinh) làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lý luận và
phương pháp giảng dạy bộ môn Giáo dục Chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, cả nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên

dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước là một việc rất cấp thiết. Từ đó, đưa ra các phương
hướng, giải pháp nâng cao văn hóa tinh thần cho công nhân.
Đề cập đến doanh nghiệp vừa và nhỏ và đời sống văn hóa tinh thần của
công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ có các công trình nghiên cứu:
Thạc sỹ. Lương Văn vỹ, Giải pháp gì cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Nghệ An
phát triển (Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 6 tháng 6 năm 2011); tác giả Thanh
Hà, Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho


9

công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay (Báo Lao động tháng
4 năm 2011); Phát triển văn hóa tinh thần trong các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở Nghệ An hiện nay – Võ Thị Hà (luận văn thạc sỹ năm 2001); tác giả
nguyễn Văn Quyết, Nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa tinh thần của công
nhân tại khu công nghiệp chế xuất Tân Thuận quân 7 - Tp Hồ Chí Minh trong
giai đoạn hiện nay (Luận văn thạc sỹ năm 2012). Những công trình nghiên
cứu này đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn
về tình hình công tác nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa tinh thần cho công
nhân hiện nay; nêu lên vai trò của văn hóa tinh thần trong đời sống của công
nhân đặc biệt là công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tầm quan trọng của việc nâng
cao hiệu quả hoạt động văn hóa tinh thần cho công nhân đồng thời các tác giả
đã đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh
thần cho công nhân hiện nay.
Liên quan đến vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa tinh thần trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Tiến sĩ. Nguyễn Lương Bằng đã có công
trình nghiên cứu: “Văn hoá Việt Nam - truyền thống và hiện đại, (Nxb Văn
hóa năm 1999). Công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa truyền

có nhiều công trình nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả hoạt động văn hoá
tinh thần cho công nhân. Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu khoa
học nào về việc “Nâng cao hiệu quả hoạt động văn hoá tinh thần của công
nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Vinh trong giai đoạn
hiện nay” (Thông qua khảo sát tại một số doanh nghiệp trên địa bàn thành
phố Vinh) thì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên. Vì vậy, các công trình
nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo quí giúp chúng tôi kế thừa và phát
triển cho đề tài của mình được hoàn thiện hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích


11

Thông qua việc khảo sát thực trạng đời sống văn hoá tinh thần của công
nhân trong doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố từ đó đưa ra một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đời sống văn hoá tinh thần
của công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Vinh trong
giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ sự cần thiết của việc nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho
công nhân trong giai đoạn hiện nay.
- Điều tra, khảo sát nhằm đánh giá thực trạng đời sống văn hoá tinh
thần của công nhân tại một số doanh nghiệp tại thành phố Vinh trong giai
đoạn hiện nay.
- Kiến nghị một số phương hướng và giải pháp nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động văn hoá tinh thần của công nhân trong các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Vinh nói riêng và công nhân trong các doanh
nghiệp vừa và nhỏ cả nước nói chung.
4. Đối tượng nghiên cứu

văn hóa tinh thần và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công
nhân trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Luận văn đánh giá hiệu về quả hoạt động văn hóa tinh thần của công
nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Vinh nói
riêng, Nghệ An và nước ta nói chung. Từ đó, đề ra những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa tinh thần của công nhân trong các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Vinh hiện nay. Luận văn có thể dùng làm tư
liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên và các cơ quan chức năng trong
việc hoạch định các chủ trương, chính sách, biện pháp xây dựng và nâng cao
đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá
độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
8. Cấu trúc luận văn


13

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
luận văn có cấu trúc 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Cơ sở lí luận về hoạt động văn hoá tinh thần của công nhân
trong giai đoạn hiện nay
Chương 2: Thực trạng hoạt động văn hoá tinh thần của công nhân trong
các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động văn hoá tinh thần cho công nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay.


14

B. NỘI DUNG

lĩnh vực kiến trúc phức tạp khác. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, có
hàng trăm bài viết của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, giới chuyên môn
tìm tòi, phân tích, luận giải và đi tìm nguồn gốc và khái niệm văn hóa. Tuy
nhiên, trải qua một chặng đường của lịch sử phát triển các nhà khoa học, các
nhà nghiên cứu lí luận vẫn chưa thể đưa ra được một định nghĩa thống nhất
vẹn toàn về khái niệm văn hóa. Sở dĩ có điều này là vì các nhà nghiên cứu,
các nhà khoa học trong nước và quốc tế chưa thống nhất được khái niệm này
là do cách thức tiếp cận ở mỗi nhà nghiên cứu, nhà khoa học theo mỗi hướng
khác nhau. Mặt khác, mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thể chế chính trị, mỗi dân
tộc, quốc gia lại có những góc nhìn và đánh giá về văn hóa theo những khái
niệm riêng.
Năm 1952, hai nhà nhân loại học người Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde
Kluckohn đã thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các
công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập đến trong nhiều
lĩnh vực nghiên cứu như: Dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, dân gian
học… và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó lại có những định nghĩa về văn
hóa cũng khác khác nhau. Lí giải cho vấn đề này là do văn hóa là một hiện
tượng trừu tượng, có nội hàm rộng lớn với nhiều khái niệm riêng khiến chúng
ta không thể nào tổng kết hết được chúng. Chính sự đa dạng và phức tạp như
vậy nên văn hóa là một hệ thống các khái niệm văn hóa hay nói cách khác là
những thành tố của văn hóa được hệ thống hóa. Vì thế, “có bao nhiêu nhà văn
hóa học lớn thì có bấy nhiêu lý luận về văn hóa, mỗi khuynh hướng văn hóa
học độc đáo đều gắn với cách thức tiếp cận với đối tượng của mình” [40; 66].
Năm 1982, tại Hội nghị quốc tế về văn hóa do tổ chức UNESCO đã
đưa ra trên 200 định nghĩa về văn hóa, cuối cùng hội nghị đã nhất trí thống
nhất đưa ra một định nghĩa chung nhất về văn hóa: “Văn hóa là một tập hợp
của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội
hay một nhóm người trong xã hội đó và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ





17

mặc, ở và các phương thức sử dụng khác… đồng thời chỉ ra các lĩnh vực của
hoạt động tinh thần như: ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
văn học nghệ thuật… Như vậy, theo cách định nghĩa của Hồ Chí Minh, văn
hóa là bao gồm tổng thể những giá trị vật chất và giá trị tinh thần được con
người sáng tạo ra trong hoạt động sống và đấu tranh sinh tồn. Giúp cho cuộc
sống của con người ngày càng phát triển toàn diện và hoàn thiện hơn.
Như vậy, văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người, văn hóa được
tạo ra và phát triển trong mối quan hệ qua lại giữa người với người và xã hội.
Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự
bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác
thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá
trình hoạt động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa chính là thước đo
trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu
và hình thức tổ chức đời sống và hoạt động của con người cũng như trong các
giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà con người sáng tạo ra. Điều này cho
thấy rằng, văn hóa hình thành từ khi con người biết sáng tạo ra những giá trị
vật chất và những giá trị tinh thần. Tức là nó hình thành cùng với lịch sử phát
triển của xã hội loài người từ thời mông muội cho đến ngày nay, và chính
trong quá trình phát triển ấy vừa có tính chất kế thừa vừa phát huy một cách
có chọn lọc những giá trị nhân văn, tinh hoa, vừa mang dấu ấn riêng biệt của
bản sắc văn hóa độc đáo.
Tóm lại, xuất phát từ các khái niệm văn hóa trên ta thấy rằng đã có rất
nhiều định nghĩa, các khái niệm của các nhà nghiên cứu về văn hóa học, các
học giả đã trình bày một cách toàn diện và sâu sắc. Tuy nhiên, do cách tiếp
cận văn hóa ở những khía cạnh, góc độ khác nhau mà các tác giả đã đưa ra
những khái niệm khác nhau, nhưng hầu hết các tác giả, những nhà nghiên cứu

khác nhau. Theo cuốn từ điển Bách khoa văn hóa học cho rằng: Văn hóa
tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là những ý niệm, phong tục,
tập quán, giá trị, chuẩn mực, đạo đức… tạo nên một hệ thống. Hệ thống
đó bị chi phối bởi trình độ của các giá trị, đôi khi có thể phân biệt một giá


19

trị bản chất. Chính giá trị này mang lại cho văn hóa sự thống nhất và khả
năng tiến hóa nội tại của nó [1; 297].
Trong cuốn cơ sở văn hóa cho rằng: Toàn bộ những giá trị, kinh
nghiệm “tinh thần” của loài người, các hoạt động “trí tuệ” và “tâm hồn” cùng
những kết quả của chúng, bảo đảm xây dựng con người với tính chất những
nhân cách, tác động dựa trên ý chí và những sáng kiến. Văn hóa tinh thần tồn
tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Phong tục, giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu
ứng xử đã được hình thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa, trong
những giai đoạn phát triển nhất định của nhân loại đã quy định những giá trị,
hệ tư tưởng, đạo đức, tôn giáo, văn học nghệ thuật...
Căn cứ từ các định nghĩa trên, ta thấy rằng văn hóa tinh thần không chỉ
là hoạt động sản xuất tinh thần mà còn là hoạt động văn hóa tinh thần. Đó là
kết quả của một quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người kiến
tạo ra những giá trị tinh thần trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định
nhằm không ngừng phát triển toàn diện hơn về phẩm chất và nhân cách của
con người và nêu lên được hình thức tồn tại của văn hóa tinh thần.
Như vậy, việc phân chia phạm vi và giới hạn giữa văn hóa vật chất và
văn hóa tinh thần chỉ mang tính chất tương đối. Bởi thực tế cho chúng ta thấy
rằng: “có những món ăn, loài hoa, trang phục, những công trình kiến trúc…
nó không chỉ đáp ứng thỏa mãn những nhu cầu tinh thần của con người mà
còn chứa đựng những giá trị tinh thần và trở thành những biểu tượng văn hóa
của các dân tộc, quốc gia” [27; 18]. Do đó, sự phân chia văn hóa vật chất với

định số 90/2001/NĐ-CP chính thức đưa ra định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và
vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc
lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không
quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Các doanh nghiệp cực nhỏ được quy định là có từ 1 đến 9 nhân công, doanh
nghiệp có từ 10 đến 49 nhân công được coi là doanh nghiệp nhỏ.


21

Theo số liệu thống kê của bộ Kế hoạch và đầu tư tính đến thời điểm
hiện nay, cả nước ta hiện có hơn 475.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm
khoảng 96% trong tổng số doanh nghiệp, đóng góp 60% GDP tạo việc làm
cho 9, 5 triệu lao động (Theo quy chế quy định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo
nghị định 90/TTg- CP của chính phủ là những doanh nghiệp có vốn đăng kí
không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động sử dụng không quá 300 lao động).
Doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động với các hình thức sau: Doanh nghiệp nhà
nước, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần.
Điều này cho thấy doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò đặc biệt quan trọng
trong sự phát triển nền kinh tế đất nước.
Khái niệm giai cấp công nhân và công nhân trong các doanh nghiệp
vừa và nhỏ trong giai đoạn hiện nay
+ Khái niệm giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân hiện đại ngày nay tuy có nhiều biến đổi cả về số
lượng, chất lượng và cơ cấu, song về bản chất giai cấp vẫn không hề thay đổi.
Để hiểu được giai cấp công nhân hiện nay chúng ta cần trở lại những khái
niệm ban đầu về giai cấp công nhân.
Theo các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác và Ăngghen, thì giai cấp công
nhân (còn có thể gọi giai cấp vô sản) do cuộc cách mạng công nghiệp sinh ra,
nó là “đứa con của nền đại công nghiệp hiện đại” [5; 393]. Trong quá trình

về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị
giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là
những người cùng nhân dân dân lao động làm chủ tư liệu sản xuất và cùng
nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích
chính đáng của bản thân họ [24; 366].


23

Có thể khái quát lại khái niệm công nhân hiện đại ngày nay là: Giai
cấp công nhân là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm
những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các
loại hình sản xuất kinh dơanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh
doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
+ Công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Dựa trên cơ sở của tiêu chí của Nghị định 90/2001/NĐ - CP đưa ra định
nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ đồng thời dựa trên cơ sở của đặc điểm công
nhân hiện đại ngày nay thì công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ: là
những công nhân làm việc trong những doanh nghiệp nhà nước và đặc biệt
chủ yếu là các doanh ngoài quốc doanh như: doanh nghiệp tư nhân, công ty
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn với số lượng và quy mô nhỏ lẻ được ký
hợp đồng với chủ doanh nghiệp và làm việc theo hợp đồng, thời vụ... không
có tính ổn định và thường không được bảo đảm về quyền lợi đầy đủ.
Vì vậy, bên cạnh việc chăm lo thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh,
nâng cao năng suất lao động cần phải không ngừng nâng cao hơn nữa hiệu
quả hoạt động văn hóa tinh thần cho công nhân trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Bởi họ là lực lượng lao động chủ đạo đi đầu trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.





25

của kiến trúc thượng tầng. Mặt khác, “văn hóa tinh thần không phải là một hệ
thống khép kín, tĩnh tại bất động mà nó không ngừng vận động và phát triển
và diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống tinh thần con người và xã hội” [28;
77]. Hoạt động văn hóa tinh thần chính là hoạt động của sáng tạo, tìm tòi,
nghiên cứu ra những giá trị của cái đẹp, cái thiện và cái mỹ. Nó không chỉ làm
cho đời sống văn hóa tinh thần ngày càng trở nên phong phú và đa dạng mà
còn làm bồi đắp và nâng cao phẩm chất, nhân cách và trí tuệ cho cá nhân và
cộng đồng trong chế độ, giai đoạn lịch sử nhất định.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động văn hóa tinh thần là kim chỉ nam
để Đảng ta đề ra các chính sách, chiến lược phát triển văn hóa trong những
thời kỳ khác nhau của công cuộc xây dựng đất nước. Những quan điểm và
hoạt động văn hóa của Người đã góp một phần vào sự tiến bộ và phát triển
của nền văn minh nhân loại. Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm
ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Sự đóng góp của Hồ Chí
Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật là kết tinh truyền
thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Người
là hiện thân của các dân tộc, tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn
nhau. Người là vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nhà văn
hóa kiệt xuất” [26].
Bằng sự hiểu biết và trải qua quá trình trải nghiệm của mình, khi viết
về văn hóa Người cho rằng: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức
sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích
ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn’’ [22, 431]. Theo Hồ
Chí Minh, văn hóa là một phạm trù rộng lớn, là sự tổng hợp các phương thức
sinh hoạt, các hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Trong đó, Người chú
trọng hoạt động sản xuất tinh thần và đặc biệt quan tâm xây dựng và phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status