Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
LỜI CẢM ƠN
Thời gian qua, được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất của các
thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS. Đỗ Huy Quang - người
hướng dẫn trực tiếp, tôi đã hoàn thành khoá luận với đề tài “Xây dựng quy
trình dạy học đọc - hiểu văn bản thơ giai đoạn 1930 – 1945 (dòng thơ cách
mạng) theo đặc trưng thể loại cho học sinh THPT”. Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn và xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Đỗ Huy Quang cùng các thầy
cô trong tổ đã hướng dẫn nhiệt tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện khoá
luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2010
Tác giả khoá luận
Hoàng Thuý Hà
Hoµng Thóy Hµ
1
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
2. Lịch sử vấn đề...........................................................................................
9
3. Mục đích nghiên cứu................................................................................
14
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................
14
5. Nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................
15
6. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................
15
7. Đóng góp của khoá luận...........................................................................
15
8. Bố cục khoá luận.......................................................................................
16
NỘI DUNG
đoạn 1930 – 1945 (dòng thơ cách mạng) theo đặc trưng thể loại cho
HS THPT.......................................................................................................
39
2.1. Đặc điểm thể loại...................................................................................
39
2.1.1. Khái niệm chung.................................................................................
39
2.1.2. Đặc điểm thể loại thơ..........................................................................
40
2.2. Quy trình đọc - hiểu văn bản nghệ thuật............................................
46
2.3. Quy trình đọc - hiểu văn bản thơ và thơ giai đoạn 1930 – 1945
(dòng thơ cách mạng)...................................................................................
Hoµng Thóy Hµ
3
48
Hoµng Thóy Hµ
4
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Hoµng Thóy Hµ
CNTT:
Công nghệ thông tin
CNDH:
Công nghệ dạy học
SGK:
Sách giáo khoa
SGV:
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Về mặt khoa học
Dân tộc ta có truyền thống lạc quan yêu đời. Những lời ca tiếng hát gắn
bó với người Việt Nam ngay từ thời xa xưa. Từ thuở trong nôi, chúng ta đã
được tiếp xúc với những lời ru trong trẻo, ngọt ngào của bà, của mẹ. Thơ có
gì như là một phần trong cuộc sống và trong tâm hồn người Việt, gắn bó, hoà
quyện. Thơ gắn với đời sống khách quan và gắn với chiều sâu thế giới nội
tâm. Thơ vừa phản ánh hiện thực cuộc sống lại vừa bộc lộ cảm xúc, tâm trạng
của con người. Vì văn học phản ánh đời sống, thơ lại là một phần tất yếu của
cuộc sống, lẽ dĩ nhiên, thơ là bộ phận không thể thiếu của văn học. Trong số
các tác phẩm văn học đưa vào nhà trường phổ thông, thơ chiếm vị trí và vai
trò không nhỏ. Số lượng tác giả, tác phẩm thơ cũng vô cùng phong phú và đa
dạng.
Các cấp bộ, ngành giáo dục nước ta đã đề ra mục tiêu cho bộ môn Ngữ
văn:
Một là: Cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hịên đại về
văn học (trọng tâm là tri thức về tác phẩm và thể loại văn học).
Hai là: Chú trọng mục tiêu bồi dưỡng, nâng cao năng lực đọc- hiểu cho
học sinh. Trong đó, năng lực lí giải là quan trọng nhất. Thông qua quá trình
đọc văn bản, phân tích văn bản, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho học sinh:
lòng yêu nước, tinh thần nhân văn, thị hiếu thẩm mĩ, phẩm chất văn học cá
nhân, hình thành nhân cách người lao động mới.
Ba là: Rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh, từ đó hình thành các kĩ năng
khác như: nghe, nói, đọc, viết. Kĩ năng đọc- hiểu văn bản được đặt ra với yêu
biệt, cụ thể cho từng bài, gây khó khăn cho việc học tập và giảng dạy. Chúng
tôi chọn nghiên cứu đề tài nhằm giúp cho người giáo viên xây dựng được quy
trình đọc - hiểu thể loại thơ nói chung và thơ giai đoạn 1930- 1945 nói riêng.
Từ đó, người giáo viên ứng dụng vào đọc - hiểu từng tác phẩm thơ cụ thể
trong chương trình SGK THPT. Đề tài này giống như một “bộ khung” cho
việc đọc - hiểu các tác phẩm thơ trong giai đoạn 1930- 1945, cụ thể hơn là
dòng thơ cách mạng để dựa vào đó người giáo viên áp dụng vào giảng dạy
cho từng bài cũng như người học sinh tiến hành đọc - hiểu từng tác phẩm cụ
thể.
Hoµng Thóy Hµ
7
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
Có thể thấy, việc xây dựng quy trình dạy học đọc- hiểu thể loại thơ giai
đoạn 1930 - 1945 (dòng thơ cách mạng) ở trường phổ thông là vô cùng quan
trọng và cần thiết nhưng lại chưa được quan tâm đúng mức. Chúng tôi lựa
chọn đề tài này với hi vọng góp phần xây dựng con đường đi chung trong đọc
- hiểu tác phẩm thơ đồng thời nhằm hiện thực hoá kiểu dạy học theo hướng
công nghệ.
1.2. Về mặt thực tiễn
Trong thực tế, tài liệu hướng dẫn và tài liệu tập huấn đã đủ để người
giáo viên có cách thức dạy thể loại thơ hay chưa? Có thể thấy là chưa thể đủ.
đời. Có rất nhiều tài liệu, sách báo, giáo trình đề cập đến những vấn đề công
nghệ dạy học cũng như rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Hồ Ngọc Đại (1994), Công nghệ dạy học, tập 1, 2, NXB Giáo dục.
Hồ Ngọc Đại, Phạm Toàn (1994), Công nghệ giáo dục và công nghệ dạy
tiếng Việt tiểu học, bộ Giáo dục đào tạo- vụ giáo viên.
Phan Trọng Luận (2001), Phương pháp dạy học văn, tập 1, 2, NXB Giáo
dục.
Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà
trường, NXB Đại học Sư phạm.
Z.LA- RE X (chủ biên) (1983), Phương pháp luận dạy văn học, NXB
Giáo dục.
Viên Quốc Chấn (2001), Luận về cải cách giáo dục, NXB Giáo dục.
(2006)
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn 10, 11,
NXB Giáo dục.
Trên phạm vi thế giới, dưới tác động của CNTT, quá trình kĩ thuật hóa
hoạt động giảng dạy của nhà trường đã diễn ra trên mấy chục năm nay và đã
có kết quả đáng chú ý, đặc biệt là ở những nước tiên tiến như Mĩ, Pháp, Nhật.
Ý tưởng về công nghệ dạy học xuất hiện ngay từ cuối thế kỉ XIX khi công
nghiệp phát triển, sản xuất bằng máy móc nâng đến mức tự động hóa với việc
đề xuất ra dạy học nêu vấn đề. Ý tưởng đó đã được hiện thực hóa vào đầu thế
kỉ XX cùng với lí thuyết hành vi. Đây là lí thuyết ra đời ở Mĩ năm 1913 do
nhà tâm lí học Oát-xơn đề xuất, quan tâm đến mối quan hệ giữa kích thích và
phản ứng. Lí thuyết này tiến hành một loạt các thí nghiệm:
Hoµng Thóy Hµ
9
dụng phương pháp “Thưởng tức thì” trong thí nghiệm này. Từ thí nghiệm
trên, ta thấy rằng, có thể coi đây là một công việc phức tạp, đầy khó khăn
nhưng nếu biết chia nhỏ công việc ra đến mức thao tác và giao cho con vật thì
nó vẫn có thể thực hiện được. Và cũng từ đó xuất hiện ý tưởng điều khiển
Hoµng Thóy Hµ
10
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
trong dạy học vì dạy học cũng là công việc khó khăn, phức tạp nhưng nếu biết
chia nhỏ công việc và giao cho HS thì HS cũng sẽ làm được.
Giữa thế kỉ XX khi nền sản xuất công nghiệp ở mức độ cao, có thể điều
khiển từ xa, tự động hóa, năng suất lao động rất cao, xuất hiện lí thuyêt Hành
động do nhà khoa học Vưtgotxki (Nga) đề xuất. Với lí thuyết này, ông đã đưa
ra các quan điểm:
Quan niệm về con người, ông tiếp nối chủ nghĩa Mác. Mác cho rằng
con người là sản phẩm của lao động, trong quá trình tiến hóa bằng lao động,
con người đã tạo ra con người. Vưtgotxki đã phát triển: lao động tiếp tục làm
ra mỗi cá thể người. Mỗi con người là sản phẩm của chính mình, là tác giả tự
họa bức chân dung con người của mình. Trong khi lí thuyết hành vi cũng phát
biểu: con người không phải do chúa sinh ra mà do con người tự tạo ra. Như
vậy, phải tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, học sinh phải tích cực chủ
động học tập.
vào là học trò, đầu ra là thầy giáo. Quan điểm này bị hầu hết mọi người phản
đối bởi nguyên liệu đầu vào là con người, đầu ra là phẩm chất trí tuệ mà
những gì thuộc về con người có những quy luật riêng của nó, không thể đánh
đồng.
Quan điểm nữa thì cho rằng CNDH được thể hiện ở một cách làm, một
kiểu dạy học “Thầy thiết kế trò thi công, thầy tổ chức trò hành động”. Dạy
học là dạy bằng quy trình trong đó các hoạt động dạy và hoạt động học được
khách quan hóa, tính toán, sắp xếp logic, hợp lí, khoa học để đạt hiệu quả tối
ưu trong dạy học. Quan điểm này rất được mọi người tán thành. Theo đó, dạy
học không thể có như công nghệ làm lạnh, công nghệ làm giấy mà chỉ dừng
lại ở cách làm công nghệ, sử dụng những phương tiện kĩ thuật hiện đại và dạy
học theo hướng công nghệ mà thôi.
Ở nước ta, CNDH được ứng dụng đầu tiên ở Trung tâm Thực nghiệm
Giáo dục Giảng Võ (hình thành năm 1978). Thực chất đây là một đề tài
nghiên cứu khoa học do giáo GS.TS. Hồ Ngọc Đại là giám đốc và chủ nhiệm.
Năm 1995 đổi tên thành Trung tâm Công nghệ Giáo dục. Nó thử nghiệm xây
dựng chương trình và hệ thống thiết kế các bài dạy theo kiểu dạy học “Thầy
thiết kế trò thi công, thầy tổ chức trò hành động”, đem về các khái niệm mới
cho giáo dục Việt Nam như: thiết kế, thi công, việc làm, thao tác…
Quy trình dạy học được xây dựng từ ba bước:
Hoµng Thóy Hµ
12
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Hoµng Thóy Hµ
13
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
năng. Thành tựu về CNDH ở Trung tâm Công nghệ Giáo dục đều đã được
giáo dục Việt Nam khi thay SGK (sau năm 2000) sử dụng rồi, nhưng do ảnh
hưởng của những thông tin mới mẻ về công nghệ sư phạm ở các nước tiên
tiến, ngành Giáo dục Việt Nam không chỉ sử dụng thành quả đó mà còn sử
dụng thành quả giáo dục trên thế giới. Thực chất đây chỉ là một phần của quy
trình. Trong khi đó, tất cả các môn, các bậc học đều phấn đấu có quy trình dạy
học. Dạy học theo quy trình là cách làm công nghệ mà cốt lõi là hoạt động
học tập của HS. CNDH trên thế giới và ở Việt Nam đã trải qua các giai đoạn
phát triển và bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy vậy, vẫn
còn nhiều vấn đề bất cập. Vì thế, nhu cầu của người giáo viên, người giáo
sinh sư phạm là cần có quy trình dạy học theo thể loại.
3. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này, chúng tôi nhằm tìm hiểu, làm rõ những vấn đề xung
quanh dạy học theo hướng công nghệ như khái niệm dạy học theo hướng
công nghệ, cách làm của dạy học theo hướng công nghệ… trên cơ sở đó vận
dụng vào việc dạy học văn, làm tăng tính khoa học trong phương pháp dạy
học văn. Qua đó, việc dạy học văn trở thành một công việc khoa học, hiệu
quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục theo chủ trương của Đảng và
Nhà nước.
Sau đó, từ đặc trưng thể loại thơ cùng với nhiệm vụ của dạy học Ngữ
văn theo hướng đổi mới, xây dựng quy trình dạy học đọc - hiểu văn bản thơ
giai đoạn 1930 – 1945 theo đặc trưng thể loại ở trường THPT.
Cuối cùng, thể nghiệm, thực nghiệm sư phạm, thực hiện các thao tác
dạy, soạn, thiết kế bài dạy, dạy thử… tiến hành trên hai bài soạn. Công việc
này nhằm kiểm tra, khẳng định tính khả thi và kết quả của quy trình vừa xây
dựng.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận, người viết sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp lí luận, tổng hợp các kinh nghiệm thực tiễn qua
sách báo và kinh nghiệm dạy học.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, phân loại dựa vào SGK, sách
báo, bài soạn, thiết kế.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
7. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận phấn đấu đóng góp về các mặt:
Hoµng Thóy Hµ
15
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
* Về lí luận: Làm rõ đặc trưng của thể loại thơ và khẳng định được giá trị
của kiểu dạy học theo hướng công nghệ, hay nói cách khác là dạy học bằng
Trêng §HSP Hµ Néi 2
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG ĐỂ XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC
1.1 Quan niệm về công nghệ dạy học
1.1.1. Quan niệm về công nghệ dạy học trên thế giới
1.1.1.1. Định nghĩa công nghệ dạy học
Định nghĩa công nghệ dạy học đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm. Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ thông tin như ngày nay, khái niệm
“công nghệ dạy học” càng trở thành một vấn đề bức xúc và cần được đi sâu
tìm hiểu.
Theo nhà khoa học Collier và rất nhiều cộng tác viên: “Công nghệ dạy
học có nghĩa là việc áp dụng các hệ thống kĩ thuật và các phương tiện hỗ trợ
để cải tiến quá trình học tập của con người”.
Trong cuộc hội thảo tại Giơnevơ từ ngày 10/5 đến ngày 16/5/1970, tổ
chức giáo dục của UNESCO lại có định nghĩa rộng hơn về công nghệ dạy
học: “Công nghệ dạy học là khoa học về giáo dục. Nó xác lập các nguyên tắc
hợp lí của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành
quá trình dạy học cũng như xác lập các phương pháp và các phương tiện có
kết quả nhất để đạt mục đích dạy học đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực
của thầy và trò”.
Căn cứ vào các ý kiến trên, có thể thấy, CNDH hiện nay đang là một
vấn đề “thời sự” của tất cả các quốc gia trên thế giới chứ không phải của riêng
quốc gia nào.
1.1.1.2. Quan niệm về dạy học theo hướng công nghệ
Hoµng Thóy Hµ
đều khai thác chung một nội dung là cách làm công nghệ. Chúng đã đặt ra
được cách làm công nghệ trong giáo dục tuy ở mức độ khác nhau. Trong đó,
cách hiểu thứ nhất và thứ ba là có cơ sở thực tiễn hơn cả. Trong giáo dục,
nguyên liệu đầu vào là HS, đầu ra là phẩm chất trí tuệ, mà những gì thuộc về
con người đều có quy luật riêng của nó, không thể đánh đồng được. Vì thế,
cách hiểu hai không được tán đồng. Theo cách hiểu thứ nhất và cách hiểu thứ
Hoµng Thóy Hµ
18
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
ba, CNDH là khoa học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lí của công
tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình dạy học
cũng như xác lập các phương pháp, phương tiện có kết quả nhất để đạt mục
đích dạy học đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực của thầy và trò.
Dạy học theo hướng công nghệ là kiểu dạy học khách quan hoá từng
việc của thầy và trò, đảm bảo hiệu quả tất yếu như mục đích đề ra. Đây là
kiểu dạy học kiểm soát được quá trình tạo ra sản phẩm, là kiểu dạy học tích
hợp giữa dạy và học, tích hợp cả lí thuyết và thực hành luyện tập, vừa cung
cấp cho HS tri thức, vừa phát triển năng lực trí tuệ cho HS. Dạy học theo
hướng công nghệ là dạy học theo phương thức chương trình hoá, điều khiển
hoá, thao tác hoá thành quy trình dạy học. Những hoạt động dạy và học được
thiết kế đồng loạt có khả năng đại trà hoá với chức năng “thầy thiết kế trò thi
A→a
Trong đó:
A: Văn minh nhân loại
a: Hình ảnh của A trong mỗi học trò
→ : Cách thức chuyển.
Quan niệm dạy học truyền thống với tất cả bề dày kiến thức và kinh
nghiệm phong phú của nó còn nhiều hạn chế: Chưa phát huy được tính tích
cực, chủ động của HS. Mô hình tiêu biểu của quan niệm truyền thống là: thầy
giảng – trò nghe, thầy đọc – trò ghi chép. Trong hoạt động dạy học, thầy luôn
là người giữ vai trò trung tâm, HS chỉ là nhân vật bị động qua sự truyền đạt
của GV mà nắm kiến thức chứ chưa chủ động, tích cực trong việc tìm ra tri
thức từ tác phẩm văn học. Mối quan hệ chính trong cách dạy học truyền thống
là mối quan hệ thầy – trò. HS không được đặt trong quan hệ với tác phẩm văn
học, với tri thức trong tác phẩm nên không phát huy được khả năng vốn có
của mình.
Với những hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống, đổi mới
phương pháp là một nhu cầu tất yếu. Đó cũng là cơ sở cho sự ra đời của
phương pháp dạy học hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục của bộ môn
Ngữ văn trong nhà trường.
Lí luận dạy học hiện đại đã chỉ rõ: Phương pháp dạy học tích cực ở
trạng thái động, lấy HS làm trung tâm, HS tự tìm ra kiến thức dưới sự hướng
dẫn, tổ chức của người GV. Chúng ta thấy mô hình dạy học hiện đại là tri
thức, năng lực - thầy giáo - học sinh. Theo cơ chế này, GV và HS đều là
những người bình đẳng trước tác phẩm văn học. Thầy giáo có thể tiếp nhận
tác phẩm văn học và HS cũng vậy. Nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế cho
Hoµng Thóy Hµ
hiện được theo quy trình.
Một điều nữa cũng vô cùng quan trọng đó là người GV phải hiểu rất kĩ
đích đi đến. Không một ai có thể thành công khi làm một công việc mà bản
thân lại không hiểu mình đang làm với mục đích gì. Trong giáo dục, đích đi
đến lại càng không thể xem nhẹ. Đích trong giáo dục giúp cho nhà giáo dục
có hướng đi và sử dụng phương pháp thích hợp đồng thời giúp người GV
Hoµng Thóy Hµ
21
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
không đi quá đà, xa nội dung bài học. Với người đứng trên bục giảng, những
giây phút “phiêu lãng” khi cảm xúc cá nhân quá mạnh mà đi quá sâu vào một
vấn đề cũng không phải là quá xa lạ. Vì vậy, xác định đích một cách kĩ càng
có thể giúp GV đạt chất lượng giảng dạy mà không bị “cháy” giáo án hay
giảng mơ hồ khó hiểu.
* Quy trình công nghệ
Dạy học theo hướng công nghệ khác dạy học không theo hướng công
nghệ ở chỗ xây dựng được “quy trình công nghệ”. Quy trình thực chất là sự
khai triển cấu trúc bên trong của đối tượng. Đối tượng ở đây là văn bản và tác
phẩm trong văn bản. Quy trình phụ thuộc vào chủ thể HS vì quy trình phải
phù hợp với tâm lí, năng lực của chủ thể và sắp xếp theo trình tự: năng lực đã
có, năng lực sẽ có và năng lực cần có. Cần phối hợp giữa đối tượng và chủ thể
Không giết được em, người con gái anh hùng”
+ Tin tưởng
- Tiếng nói thầm: Không chỉ riêng chị Lý mà còn là phẩm chất, nét đẹp
của người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến nói chung.
* Tổ chức quá trình dạy học theo quy trình công nghệ
Quá trình dạy học theo quy trình công nghệ là quá trình “Thầy tổ chức
trò hành động”. GV không phải “gồng mình” nhồi nhét kiến thức cho HS nữa
mà sẽ là người thiết kế các hoạt động học tập cho HS và tổ chức cho HS thực
hiện các hoạt động đó, hướng dẫn HS đi theo định hướng mà thầy thiết kế.
Nói một cách sinh động thì người GV giống như người cầm lái, còn người HS
là cái xe, phải tự mình vận hành và đi đến đích. Trong quá trình tổ chức,
hướng dẫn, điều khiển, người dạy phải sử dụng những phương pháp, phương
tiện dạy học tốt nhất để HS thực hiện các hoạt động. Cụ thể hơn, người dạy có
thể sử dụng triệt để các phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại để làm cho hiệu
quả dạy học tăng lên như: các phương tiện nghe, nhìn, trình chiếu, băng đĩa,
công nghệ thông tin…Như vậy, dạy học theo quy trình công nghệ sử dụng đa
dạng các phương tiện kĩ thuật dạy học, áp dụng các phương tiện hiện đại
nhằm phát huy tối đa hiệu quả bài dạy.
1.1.2. Thực nghiệm về CNDH ở Việt Nam
Trung tâm thực nghiệm giáo dục phổ thông Giảng Võ được hình thành
năm 1978 thực chất là một đề tài nghiên cứu khoa học do GS.TS. Hồ Ngọc
Đại là giám đốc và chủ nhiệm. Đến năm 1995, trung tâm đổi thành Trung tâm
Công nghệ giáo dục Giảng Võ. Đây là nơi đầu tiên thực nghiệm về CNDH ở
Hoµng Thóy Hµ
23
K32A – Ng÷ v¨n
Bước này dành cho HS lớp 2.
- Bước 3: Phân tích hình tượng
Hoµng Thóy Hµ
24
K32A – Ng÷ v¨n
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
Nếu là tác phẩm tự sự thì phân tích hình tượng nhân vật
Nếu là tác phẩm trữ tình thì phân tích hình tượng tâm tư.
Trong bước này có thể sử dụng các thao tác:
+ Giả định dự đoán
+ Viết thư: GV tổ chức cho HS viết thư cho nhân vật, cho tác giả, cho
bạn.
Bước này dành cho HS lớp 3
- Bước 4: Tìm chủ đề, xác định chủ đề của văn bản
Bước này sử dụng các thao tác như: Đặt tên, đặt lại tên, liên tưởng…
dành cho HS lớp 4.
- Bước 5: Tìm ý của bài văn: Đó là ý của tác giả gửi vào trong bài văn,
ý của mỗi bạn đọc về bài văn.
Khi tiến hành bước này, thường xoay quanh những lời khuyên, bài học:
nên, không nên.
Bước này dành cho HS lớp 5.
1.1.2.3. Đóng góp