Đọc hiểu tác phẩm tự sự của tô hoài trong nhà trường PTTH theo đặc trưng thể loại - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp
M U
1. Lớ do chn ti
Trong s nghip cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ t nc hin nay, giỏo
dc cú vai trũ rt quan trng. Nhm nõng cao cht lng giỏo dc, a giỏo
dc tr thnh quc sỏch hng u, mt trong nhng yờu cu cp thit c
t ra l i mi phng phỏp dy hc.
M. Gorki ó tng núi vn hc l nhõn hc. Vn hc cú kh nng giỏo
dc v nuụi dng tõm hn con ngi. Nú hng con ngi n nhng giỏ tr
Chõn - Thin - M giỳp con ngi ngy cng tt p hn. Chớnh vỡ vy,
vn hc ngy cng cú v trớ v vai trũ quan trng trong i sng cng nh
trong nh trng PTTH.
Hin nay, chng trỡnh Ng vn mi c biờn son theo nguyờn tc
th loi. Trờn c s ú t ra yờu cu i mi phng phỏp dy hc Ng vn
trng Ph thụng nhm a ra nhng nh hng tip cn, khỏm phỏ giỳp
hc sinh d dng tip nhn tỏc phm. Mt trong nhng phng phỏp c cỏc
nh nghiờn cu ỏnh giỏ tớch cc l phng phỏp c - hiu. Theo con ng
c - hiu, hc sinh s phỏt huy c kh nng sỏng to ca mỡnh t ú
phỏt hin v cm th c tỏc phm vn hc.
Qỳa trỡnh hin i hoỏ vn hc na u th k XX ó li cho vn
hc Vit Nam nhiu cỏ tớnh, phong cỏch ngh s c ỏo. Trong ú, Tụ Hoi
l mt trong nhng nh vn ln, mt trong nhng tỏc gi tiờu biu cho th loi
t s c a vo ging dy nh trng PTTH. Cỏc tỏc phm ca Tụ Hoi
c a vo ging dy trong chng trỡnh ph thụng nh D Mốn phu lu
kớ THCS v V chng A Ph THPT. Nhiu nh nghiờn cu, phờ bỡnh
ó vit bi v truyn ca Tụ Hoi, khai thỏc trờn nhiu phng din c v ni
dung v hỡnh thc. Hn na, ó cú mt s thit k bi ging cho cỏc tỏc phm
ca ụng trong nh trng. Tuy nhiờn, tụi nhn thy cỏc bi vit ú cha khai

Sv: Vũ Thị Đào


+ Mụn vn: thc trng v gii phỏp (Bỏo vn ngh ra ngy
14/2/1998)
- GS. Phm Trng Lun vi :

Sv: Vũ Thị Đào

2

K32B Văn


Khãa luËn tèt nghiÖp
+ Cuốn “Phương pháp dạy học văn”
+ Chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học”
- GS. Trần Thanh Đạm có bài “ Dạy văn dạy đọc và viết” (Báo văn
nghệ số 30 ra ngày 23/7/2005 )
- Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn có bài viết “Một số vấn đề đọc - hiểu
văn bản Ngữ văn” (Tạp chí GD số 56 tháng 4/2003).
2.2.Những công trình nghiên cứu về vấn đề loại thể
- Aristot với “Nghệ thuật thi ca”
- Gulaiep với “Lí luận văn học”
- GS. Phương lựu (cb) “ Giáo trình lí luận văn học”
- GS. Phan Trọng Luận “Giáo trình Phương pháp dạy học văn”
- GS. Trần Thanh Đạm “ Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể”
- Đỗ Đức Hiểu “ Thi pháp hiện đại”
- Nguyễn Thái Hoà “ Mấy vấn đề thi pháp truyện”
- Hoàng Ngọc Hiến “Năm bài giảng về thể loại”
2.3. Những công trình nghiên cứu Tô Hoài
- Phong Lê, Vân Thanh với “ Tô Hoài - về tác giả và tác phẩm”
- Nguyễn Đăng Mạnh, “Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam

3. Vận dụng lý thuyết đọc - hiểu vào tìm hiểu tác phẩm tự sự của Tô
Hoài.
4. Tiến hành thực nghiệm xây dựng một số giáo án hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm tự sự của Tô Hoài trong nhà trường PTTH như “Dế Mèn phiêu
lưu kí” và “ Vợ chồng A Phủ”.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Lí thuyết đọc - hiểu
- Lí thuyết loại thể
- Đặc điểm loại hình tự sự qua tác phẩm của Tô Hoài
* Phạm vi nghiên cứu
- Các bước đọc - hiểu
- Đặc điểm loại hình tự sự
- Đặc điểm loại hình tự sự qua tác phẩm Tô Hoài được dạy trong nhà
trường PTTH (“Dế Mèn phiêu lưu kí” và “Vợ chồng A Phủ”).

Sv: Vò ThÞ §µo

4

K32B – V¨n


Khóa luận tốt nghiệp
6. Phng phỏp nghiờn cu
Khúa lun s dng kt hp cỏc phng phỏp:
- Phng phỏp kho sỏt, thng kờ
- Phng phỏp phõn tớch tng hp
- Phng phỏp so sỏnh, h thng
- Phng phỏp thc nghim
7. úng gúp ca khoỏ lun

Tài liệu tham khảo

NỘI DUNG
CHUƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Cơ sở lí luận
Văn chương là loại hình nghệ thuật ngôn từ, lấy ngôn ngữ làm chất liệu
để tạo nên những hình tượng nghệ thuật. Tác phẩm văn học là sự phản ánh
đời sống bằng hình tượng. Nó là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
khi người nghệ sỹ đi sâu, khám phá thế giới qua sự hư cấu và trí tưởng tượng
phong phú của mình.
Mỗi tác phẩm văn học bao giờ cũng tồn tại dưới một hình thức thể loại
nhất định. Nó là phương thức nhà văn lựa chọn để thể hiện những quan điểm,
tư tưởng và sự sáng tạo nghệ thuật của mình mà nhà văn muốn gửi gắm đến
bạn đọc thông qua tác phẩm.
Bạn đọc muốn hiểu được tác phẩm, biến tác phẩm của nhà văn thành
tác phẩm của mình, phải trải qua một quá trình không đơn giản nhưng cũng
vô cùng thú vị đó là quá trình tiếp nhận văn học (hay còn gọi là cảm thụ văn
học). Thông qua tiếp nhận văn học, người đọc sẽ nắm được những nội dung
tư tưởng, những giá trị nghệ thuật đặc sắc cùng những thông điệp mà nhà văn
muốn gửi gắm.
1.1. Vấn đề tiếp nhận văn học
1.1.1. Khái niệm

Sv: Vò ThÞ §µo

6

K32B – V¨n


Sv: Vò ThÞ §µo

7

K32B – V¨n


Khóa luận tốt nghiệp
sc sỏng to. õy l mt hot ng mang tớnh sỏng to. Nú cú nh hng trc
tip n quỏ trỡnh hỡnh thnh v phỏt trin nhõn cỏch ca mi con ngi.
Vic dy cỏc tỏc phm vn hc trong nh trng thc cht l t chc
hot ng tip nhn vn hc cho ngi c. Nú l hot ng mang tớnh t
giỏc v tớnh mc ớch rừ rng. Mc ớch cui cựng ca nú l giỳp hc sinh
hiu v cm nhn tỏc phm cỏc em t hon thin nhõn cỏch ca mỡnh.
1.1.2. C s tip nhn tỏc phm vn hc
* Con ng nh vn lm ra tỏc phm
Tỏc phm vn hc l sn phm tinh thn c to ra bi ti nng v
tõm hn ngi ngh s. Mi nh vn vi nhng phong cỏch khỏc nhau s cú
nhng cỏch thc, con ng sỏng to ra nhng tỏc phm riờng bit khụng
ging nhau. Thụng thng mun sỏng tỏc, cỏc nh vn phi cú cm
hng Nguyn Quýnh cú núi: ngi lm th khụng th khụng cú hng, cng
nh to hoỏ khụng th khụng cú giú vy[9;210]. Hng c núi ti õy
chớnh l cm hng. Cm hng l gỡ? Nú cú tỏc dng chi phi nh th no n
quỏ trỡnh sỏng tỏc ca nh vn? Phi chng, cm hng l trng thỏi tõm lớ c
bit ca nh vn khi ng trc mt s vic, s kin mang ý ngha ln lao
trong cuc sng. H bt cht cú cm xỳc v s lụi cun mónh lit. Lỳc ny,
tõm hn ngi ngh s ang thng hoa, bay bng vi s tng tng vụ cựng
di do phong phỳ. Nh vn ang cú nhu cu bc bch giói by. ú l lỳc
sn phm tinh thn sp cho i.
Cm hng ch cú th l kt qu bt ng ca vic thai nghộn lõu di

Đây là hoạt động khởi đầu, cần phải có của việc tiếp nhận văn học. Văn
bản là sản phẩm tinh thần do nhà văn sáng tạo ra, đó là một tập hợp các kí
hiệu ngôn ngữ vô hồn. Vì vậy, để hiểu được văn bản đó nói gì? đề cập đến
vấn đề gì? buộc bạn đọc phải đọc tác phẩm. Người đọc chỉ có thể tiếp nhận
tác phẩm khi hệ thống kí hiệu ngôn ngữ được giải mã. Hoạt động đọc không
những là hoạt động mở đầu cho việc tiếp nhận mà đọc còn để hiểu tác phẩm,
tìm ra ý nghĩa mới xuất hiện trong tác phẩm. Tuy nhiên, với mỗi loại văn
khác nhau, hoạt động đọc cũng khác nhau. Đọc tác phẩm tự sự khác với đọc
tác phẩm trữ tình và kịch.
b. Phân tích tác phẩm

Sv: Vò ThÞ §µo

9

K32B – V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
Phân tích tác phẩm là hoạt động tiếp theo của việc tiếp nhận văn học.
“Phân tích là hoạt động chia nhỏ đối tượng để có cái nhìn cụ thể những yếu
tố làm nên chỉnh thể sâu hơn. Đó là sự mổ sẻ chỉnh thể tác phẩm để ghi chép
hợp lại những yếu tố đã phân tích theo cách hoàn toàn khác thường sẽ phát
hiện ra những khía cạnh bất ngờ của chỉnh thể tác phẩm.” (“Đọc và tiếp nhận
văn chương” của Nguyễn Thanh Hùng). Tuy nhiên, trong một tác phẩm văn
học không phải lúc nào cũng chia nhỏ đối tượng mà chúng ta cần phải xác
định đâu là trọng tâm để đi sâu vào phân tích. Vì vậy, hoạt động phân tích sẽ
đem lại sự phong phú và sâu sắc hơn cho tác phẩm văn học.
c. Cắt nghĩa tác phẩm
Cắt nghĩa là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận văn học. Cắt

tâm lý... Những khoảng cách này trong khi tiếp nhận khó có thể xóa được.
Vậy làm thế nào để khắc phục được khó khăn trong khi tiếp nhận? Có rất
nhiều cách, nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục, song có một con đường
được coi là hữu ích nhất đó là đọc và tiếp nhận tác phẩm trên cơ sở đặc điểm
loại thể.
1.2. Loại thể và vấn đề tiếp nhận
Mỗi tác phẩm văn học khác nhau bạn đọc sẽ có những cách tiếp nhận
không giống nhau. Nhưng dù tiếp nhận ở khía cạnh nào thì vấn đề đầu tiên
bạn đọc nhận thấy và cần quan tâm là vấn đề loại thể bởi các tác phẩm văn
học đều được viết theo một loại thể nhất định. Nắm được các đặc điểm của
loại thể không chỉ giúp cho người đọc hiểu được tác phẩm mà còn giúp họ có
khả năng tạo lập được văn bản ở một số loại thể nhất định.
1.2.1. Khái niệm loại thể
Có rất nhiều quan niệm về loại thể văn học :
Theo “Từ điển tiếng Việt” (2007), loại thể “là hình thức sáng tác văn
học, nghệ thuật, phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng
ngôn ngữ”.
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” lại cho rằng “thể loại là dạng
thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định
trong quá trình phát triển lịch sử văn học, thể hiện sự giống nhau về cách thức
tổ chức tác phẩm và đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả

Sv: Vò ThÞ §µo

11

K32B – V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp

12

K32B – V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
loại tự sự. Thể loại sẽ quy định phương thức giao tiếp, nhận thức của bạn đọc
để giúp bạn đọc chiếm lĩnh được tác phẩm. Do vậy, nói tới thể loại là nói tới
cách tổ chức tác phẩm, một kiểu tái hiện đời sống và một kiểu giao tiếp nghệ
thuật.
1.2.2. Phân loại
Có rất nhiều cách phân chia loại thể khác nhau. Song cách phân chia
được nhiều người đồng thuận hơn cả là cách chia của Arixtot. Trong cuốn
“Nghệ thuật thi ca”, Arixtot đã chia tác phẩm văn học thành ba loại: tự sự, trữ
tình và kịch. Đây là cách chia dựa vào quy luật xây dựng hình tượng và
phương thức phản ánh đời sống. Cách chia này được đông đảo mọi người
thừa nhận và đến nay chúng ta vẫn chủ yếu sử dụng cách phân chia này.
Việc chia loại thể thành ba loại cũng được GS. Trần Thanh Đạm khẳng
định là phù hợp với bản chất, chức năng và quy luật của văn học là: phản ánh
hiện thực.
Theo cách phân chia trên thì mỗi loại lại được chia thành các thể nhỏ:
Loại tự sự bao gồm: tự sự dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích,
ngụ ngôn, truyện cười…) và tự sự trung, hiện đại (truyền kì, tiểu thuyết,
truyện, kí…).
Loại trữ tình gồm: trữ tình dân gian (tục ngữ, ca dao dân ca, câu đố…)
và trữ tình trung, hiện đại (thơ cổ thể truyền thống, thơ tự do).
Loại kịch gồm : kịch dân gian (chèo, tuồng, múa rối…) và kịch hiện đại
(bi, hài, chính kịch…).
Mỗi một thể loại khác nhau sẽ có những phương thức giao tiếp khác
nhau. Nên trong quá trình tiếp nhận, chúng ta cũng phải căn cứ vào từng thể

1.2.4.1. Khỏi nim
T s l mt t Hỏn - Vit ngha l k chuyn. Thut ng t s ó
ra i rt lõu v cú rt nhiu quan nim khỏc nhau v th loi t s.
TrongT in ting Vit (2007) t s l th loi vn hc phn ỏnh
hin thc bng cỏch k li s vic, miờu t tớnh cỏch thụng qua ct truyn
tng i hon chnh.

Sv: Vũ Thị Đào

14

K32B Văn


Khãa luËn tèt nghiÖp
“Từ điển thuật ngữ văn học ” quan niệm “tự sự là phương thức tái hiện
đời sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ
sở để phân loại tác phẩm văn học” [4 ; 328].
Trong sách “Lí luận văn học”,“tự sự là tác phẩm phản ánh đời sống
trong tính khách quan của nó qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi
một người kể chuyện nào đó ”.
Giáo sư Trần Thanh Đạm trong “Mấy vấn đề giảng dạy tác phẩm văn
học theo loại thể” quan niệm “tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp
hiện thực khách quan như một cái gì tách biệt, ở bên ngoài đối với tác giả
thành một câu chuyện có sự phát triển tâm trạng, tính cách, hành động của
con người”.
Như vậy, có rất nhiều cách quan niệm khác nhau về thể loại tự sự.
Song về cơ bản, tự sự là một khái niệm rộng là thể loại văn học phản ánh hiện
thực đời sống một cách khách quan mà ở đó nhà văn dùng phương thức kể là
phương thức chủ yếu để tái hiện đời sống và biểu hiện những tư tưởng tình

cách nhân vật trong tác phẩm văn học loại tự sự”.
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học”, “cốt truyện là hệ thống sự
kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tư tưởng nghệ thuật nhất định, tạo
thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm
văn học. ”[4;88].
Hoặc trong cuốn “Lí luận văn học ”(GS. Hà Minh Đức chủ biên)“ cốt
truyện là hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và
nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các cách hình thành
và phát triển trong mối quan hệ qua lại của chúng làm sáng tỏ chủ để và tư
tưởng tác phẩm”.
Có nhiều quan niệm khác nhau về cốt truyện nhưng về cơ bản cốt
truyện được hiểu là tập hợp các sự kiện, sự việc, biến cố trong đời sống được
nhà văn tập hợp lại tạo thành một hệ thống. Hệ thống đó đầy đủ chặt chẽ các
thành phần (trình bầy, khai đoạn, phát triển, cao trào, kết thúc). Trong quá
trình vận động phát triển, khái niệm cốt truyện có sự biến đổi. Nó trở nên linh
hoạt hơn, có thể không đầy đủ các thành phần nhưng vẫn phải có các yếu tố:
(quá trình hình thành, phát triển, kết thúc).
Như vậy, nói tới cốt truyện là nói tới các biến cố, các sự kiện có ý
nghĩa quyết định đến cuộc đời nhân vật. Qua cốt truyện, chúng ta sẽ có cái

Sv: Vò ThÞ §µo

16

K32B – V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
nhìn bao quát tác phẩm và có thể giúp bạn đọc hình dung về sự vận động
chiều hướng con đường đời nhân vật cũng như ý đồ nghệ thuật của tác giả.

K32B – V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
nhân vật mà còn là cơ sở để người đọc có thể tiếp nhận, tìm hiểu các nhân vật
trong tác phẩm.
* Ngôn ngữ
Đặc trưng thứ ba của thể loại tự sự là ngôn ngữ. Cùng với cốt truyện và
nhân vật thì ngôn ngữ là đặc trưng quan trọng vì nó vừa là công cụ vừa là chất
liệu cơ bản của văn học.
Ngôn ngữ là yếu tố mang tính phi vật thể được dùng để xây dựng tác
phẩm văn học. Vì vậy, M.Gorki đã khẳng định “yếu tố đầu tiên của văn học
là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng
của cuộc sống-là chất liệu của văn học”.
Căn cứ vào thể loại văn học, người ta chia ngôn ngữ văn chương thành
ba loại: ngôn ngữ tự sự, ngôn ngữ trữ tình và ngôn ngữ kịch. Cả ba loại ngôn
ngữ này đều mang tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa và tính biểu
cảm cao. Tuy nhiên, những thuộc tính chung đó thể hiện qua các loại thể văn
học khác nhau là khác nhau.
Cụ thể, trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ chủ yếu là dùng lối kể chuyện
để phản ánh hiện thực và biểu hiện tâm tư con người. Trong ngôn ngữ tự sự
lại được chia thành: ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện. Hai
loại ngôn ngữ này luôn đan xen, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện xuyên
suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. Qua hệ thống tín hiệu ngôn ngữ ấy, chúng ta
sẽ hiểu được nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật mà tác giả gửi
gắm trong tác phẩm của mình.
Cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ là ba yếu tố có mối quan hệ khăng
khít với nhau. Nó chính là cơ sở để tạo nên một chỉnh thể văn học.
1.3. Vấn đề đọc - hiểu
1.3.1. Quan niệm đọc - hiểu

pháp, một con đường tiếp nhận tác phẩm văn học.
Quan niệm của nhóm những người làm phương pháp trường ĐHSP Hà
Nội mà GS. Phan Trọng Luận (chủ biên) lại cho rằng “đọc - hiểu là một kiểu
dạy học văn bản Ngữ văn”. Do quan niệm đọc - hiểu là một kiểu dạy học nên
trong quá trình dạy người dạy có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau
trong kiểu dạy học mới này như: phương pháp so sánh, phân tích, giảng

Sv: Vò ThÞ §µo

19

K32B – V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
bình…Tuỳ thuộc vào những loại văn bản cụ thể mà người dạy có thể chọn
cho mình những phương pháp phù hợp với kiểu dạy học tích cực: đọc - hiểu
như hiện nay.
Trên đây là một số quan niệm khác nhau về đọc - hiểu. Tuy có những
quan niệm khác nhau nhưng tất cả những quan niệm trên đều đặc biệt quan
tâm đến một hoạt động khi dạy các văn bản Ngữ văn đó là hoạt động đọc.
Đọc là một hoạt động của con người để hướng tới một mục đích nhất định.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết sẽ vận dụng đọc - hiểu với tư
cách là một kiểu dạy học, một quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mỹ
nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng
thể loại văn bản.
1.3.2. Đọc - hiểu là con đường tiếp nhận tác phẩm văn học
Văn chương là loại hình nghệ thuật ngôn từ lấy ngôn ngữ làm chất liệu
để xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật. Thông qua hình tượng nghệ
thuật, nội dung tư tưởng của tác phẩm sẽ được thể hiện. Do vậy, bạn đọc

diễn ra một cuộc giao tiếp ngầm thông qua văn bản. Văn bản nào cũng có
những khoảng trống để cho bạn đọc thoả sức liên tưởng, tưởng tượng và sáng
tạo. Khi lấp đầy những khoảng trống đó cũng là lúc người đọc đã hiểu và tiếp
nhận được thông tin mà tác giả cần truyền tải qua văn bản. Qua quá trình tiếp
nhận ấy, khoảng cách giữa bạn đọc và nhà văn rút ngắn lại, bạn đọc được coi
là người đồng sáng tạo cùng nhà văn.
Như vậy, có thể nói, con đường ngắn nhất để bạn đọc tiếp xúc với các
giá trị của tác phẩm văn học là thông qua đọc - hiểu. Đọc - hiểu chính là con
đường đặc thù để tiếp nhận tác phẩm văn học.
1.3.3. Các bước đọc - hiểu tác phẩm văn học
Đọc là một hoạt động văn hóa mà con người sử dụng để lĩnh hội tri
thức và hoàn thiện nhân cách của mình. Đọc - hiểu tác phẩm văn học là dựa
vào các đặc điểm của tác phẩm văn học để tiến hành hoạt động dạy và học
theo các bước đọc - hiểu.
Đọc - hiểu tác phẩm văn học được tiến hành qua 4 bước:

* Đọc thông - đọc thuộc

Sv: Vò ThÞ §µo

21

K32B – V¨n


Khóa luận tốt nghiệp
Bc khi u quan trng khụng th thiu cho ton b quỏ trỡnh tip
nhn v khỏm phỏ tỏc phm vn hc l c thụng - c thuc.
c thụng c hiu l c mt cỏch rừ rng, mch lc, ỳng chớnh
õm, ỳng ng iu. Mc ớch ca bc c ny l tỏi hin lp v õm thanh

Khãa luËn tèt nghiÖp
* Đọc kĩ - đọc sâu
Đọc kĩ là đọc nhiều lần, đọc để biết được bố cục, kết cấu và những nội
dung chủ yếu của tác phẩm. Một tác phẩm văn học luôn có nhiều sự kiện,
biến cố, hình tượng nên người đọc buộc phải có một thao tác lựa chọn để tìm
ra các chi tiết tiêu biểu, hình ảnh đặc sắc, biến cố quan trọng và các nhân vật
chính, nhân vật trung tâm. Để thực hiện được thao tác lựa chọn ấy, người đọc
cần phải đọc kĩ. Như vậy, có thể hiểu, đọc kĩ là đọc để lựa chọn ra các yếu tố
đặc sắc có hàm lượng tư tưởng cao của tác phẩm.
Khi dạy “Vợ chồng A Phủ”của Tô Hoài, GV hướng dẫn HS đọc kĩ tác
phẩm cần thấy được tác phẩm có hai nhân vật chính là Mị và A Phủ. Trong
đó, Mị chính là nhân vật trung tâm nắm mọi tư tưởng của tác phẩm. Ở Mị,
chúng ta cần thấy được sức sống tiềm tàng mãnh liệt của cô dù bị bắt làm con
dâu gạt nợ. Đặc biệt sức sống mãnh liệt ấy được biểu hiện trong những đêm
tình mùa xuân và trong đêm cứu A Phủ.
Đọc sâu là đọc để phát hiện ra cấu trúc nội tại của tác phẩm.Trong tác
phẩm văn học, cấu trúc nội tại chính là sự vận động và phát triển tư tưởng
cảm xúc của hình tượng nghệ thuật. Như trong “Mùa Lạc” của Nguyễn Khải,
học sinh đọc sâu là để thấy được sự vận động phát triển tính cách của nhân
vật Đào từ trước khi lên nông trường Điện Biên đến sau khi lên nông trường
với những thay đổi mới lạ trong tính cách, con người chị.
* Đọc hiểu - đọc sáng tạo
Đọc - hiểu là yêu cầu quan trọng nhất trong quá trình đọc - hiểu một
tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học nói chung cũng như tác phẩm tự sự nói
riêng luôn hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa. Do đó, đọc - hiểu là đọc để hiểu
được đúng ngôn ngữ, hiểu đúng thông tin và giải mã được những hình ảnh,
hình tượng của toàn bộ tác phẩm.
Muốn làm được điều đó, người đọc phải sử dụng một số các phương
pháp như so sánh, phân tích, giảng giải… để có thể lí giải một cách hợp lí,
phù hợp những thông tin trong tác phẩm.

của mình. Chẳng hạn, khi đánh giá nhân vật Thuý Kiều trong tác phẩm
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du, bạn đọc bên cạnh cách đánh giá với thái độ
cảm thông, thương xót cho thân phận nàng Kiều thì cũng có những đánh giá
chủ quan, phiến diện tỏ ý chê trách nàng Kiều. Có thể thấy, để đưa ra được
những đánh giá phù hợp, xác thực, bạn đọc cần có một tầm đón nhận nhất
định. Nó phụ thuộc vào kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết của mỗi người.

Sv: Vò ThÞ §µo

24

K32B – V¨n


Khóa luận tốt nghiệp
c ng dng Mi tỏc phm vn chng u cha ng trong nú
nhng bi hc cuc i. Bn c cn phi cú kin thc v k nng vn
dng nhng bi hc c th ú vo vic hc tp trc mt cng nh trong cuc
sng lõu di. Qua ú, bn c cú th hiu mỡnh hn v s cú cỏch sng tt p
hn. Vớ d, sau khi hc xong D Mốn phiờu lu kớ ca Tụ Hoi, bn c s
thy c nhng cuc phiờu lu lớ thỳ, y súng giú ca D Mốn - mt chng
d cng trỏng, quen sng c lp t bộ. Bui u, tuy kiờu ngo hung hng
nhng sau vi ln vp vỏp Mốn ó rỳt ra c nhng bi hc b ớch v tnh
ng dn. Nh vn Tụ Hoi ó mn th gii loi vt núi v cuc sng con
ngi. D Mốn l mt hỡnh nh p cu tui tr say mờ lớ tng, dng cm,
trung thc v cng rt ỏng yờu.
Qua trờn, chỳng ta ó thy c quỏ trỡnh c - hiu mt tỏc phm vn
hc. õy l nhng bc cn bn, hu ớch giỳp bn c khỏm phỏ c tỏc
phm vn hc. Cỏc bc ny khụng tn ti mt cỏch bit lp m luụn vn
ng trong s tng tỏc ln nhau, chi phi ln nhau gúp phn nh hng cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status