Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********
NGUYỄN THỊ DUNG
MỘT SỐ NÉT VỀ KIẾN TRÚC
LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI – 2010
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
1
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2010
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Dung
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
3
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS.
GVC Nguyễn Văn Mỳ. Tôi xin cam đoan rằng.
- Khóa luận này là kết quả nghiên cứu tìm tòi của riêng tôi
- Những tài liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực.
- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kỳ công
trình nghiên cứu nào từng được công bố.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2010
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Dung
Nguyễn Thị Dung
2.3 Chất liệu trong kiến trúc làng cổ Đường Lâm…………………………..51
2.3.1 Chất liệu đá ong…………………………………………………...…..51
2.3.2 Chất liệu gỗ……………………………………………………………52
2.4 So sánh đặc điểm kiến trúc của các ngôi nhà cổ ở Đường Lâm………....53
2.4.1 Nhà thờ thám hoa Giang Văn Minh…………………………………...54
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
5
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2.4.2 Nhà thờ họ Phan……………………………………………………..57
2.5 Kiến trúc làng cổ Đường Lâm – một số nhận xét rút ra từ thực tế.........60
KẾT LUẬN……………………………………………………………....63
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………….....64
PHỤ LỤC…………………………………………………………………65
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
6
Khoá luận tốt nghiệp
K32G – Việt Nam học
7
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong xã hội như: sử học, dân tộc học, văn
hóa, khảo cổ…mà làng cổ Đường Lâm là một minh chứng.
Ngày nay, do sự phát triển của đất nước, nhiều ngôi làng không còn giữ
lại được giá trị cổ xưa của mình mà đã hòa nhập vào sự đi lên của đất nước
cũng như nhu cầu sinh hoạt của con người. Do đó đi tìm hiểu nét cổ xưa của
Làng cổ đã được mọi người quan tâm.
Làng cổ Đường Lâm có từ lâu đời, nó đã, đang và sẽ thu hút được sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Song về kiến trúc làng cổ Đường Lâm thì
chưa được quan tâm nhiều, chưa ai nghiên cứu một cách hệ thống mà chỉ
được đề cập một cách sơ lược ở một số sách vở và một số tạp chí. Tuy nhiên
đó cũng là những gợi ý quý báu để người viết triển khai đề tài này, mặt khác
đây cũng là đề tài chưa được nghiên cứu sâu nên nó vẫn đang là vấn đề còn để
ngỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích
Qua đề tài này chúng ta có thể khám phá, tìm hiểu về kiến trúc trong
làng cổ Đường Lâm
b. Nhiệm vụ
Đề tài lần lượt giải quyết các nhiệm vụ sau:
_ Tìm hiểu về làng cổ Đường Lâm
_ Nghiên cứu về kiến trúc làng cổ Đường Lâm
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
9
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
NỘI DUNG
Trên đất nước Việt Nam, Đồng Bằng và Trung du Bắc Bộ trong đó có
xứ Đoài - một vùng văn hoá lâu đời và tiêu biểu nhất cho văn hoá truyền
thống của dân tộc Việt. Có thể thấy ở vùng đất này biết bao di tích lịch sử và
văn hoá cộng đồng, bên cạnh đó là sự phong phú, đa dạng của truyền thuyết
lịch sử, truyện cổ dân gian, của ca dao, tục ngữ. . . truyền tụng nhau làm rung
động lòng người
Trong những làng xã của vùng đất có chiều sâu lịch sử - văn hoá nghìn
năm ấy, nổi lên xứ Đoài một Đường Lâm địa linh nhân kiệt “Một ấp hai vua:
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và Ngô Quyền” - Hai vị anh hùng dân tộc đã
có công lao to lớn trong sự nghiệp chống ách đô hộ của ngoại bang vào thế kỷ
VII (Phùng Hưng) và đánh tan quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch
Đằng, kết thúc trọn vẹn công cuộc đấu tranh giải phóng, giành độc lập, tự chủ
cho đất nước vào năm 938 mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ trong lịch sử Việt
Nam.
Song Đường Lâm không chỉ nổi danh về “Một ấp hai vua” mà còn nổi
tiếng về nhiều di tích lịch sử - văn hoá khác như: Làng cổ Đường Lâm với
đình Mông Phụ rất đặc trưng cho ngôi đình Việt truyền thống, chùa Mía, nhà
thờ thám hoa Giang Văn Minh, đặc biệt là sự hiện diện của hơn 800 ngôi nhà
cổ mang đầy đủ dáng vẻ truyền thống, những con đường lát gạch nghiêng,
những bức tường vây của ngôi nhà xây bằng đá ong, nhiều vì kèo mái dốc,
trên lợp ngói cổ truyền lại càng tăng thêm vể cổ kính của mảnh đất đầy truyền
thống này. Tất cả tạo thành một bức tranh đa dạng mà mỗi địa danh, mỗi kiến
làng là ruộng đất. Nhất là đối với miền Trung và miền Bắc là nơi mà quá trình
tư hữu hóa ruộng đất diễn ra không mạnh mẽ như ở miền Nam. Số ruộng
công được định kỳ chia cho các suất đinh trong làng canh tác, cho đến trước
năm 1945 dưới làng có phe, trên làng có tổng (huyện). Làng có bộ máy điều
hành và bộ máy lý dịch. Bộ máy tự quản gồm tiên chỉ, thứ chỉ, kỳ mục, bên
cạnh việc thi hành luật pháp của nhà nước, làng có lệ làng, có hương ước và
khoán ước. Giữa một số làng như ở miền Bắc có tục kết Chạ. Làng còn giữ
một số yếu tố dân chỉ thể hiện trong bầu cử, bãi miễn các chức vụ lý dịch và
bộ máy tự quản. Mỗi làng có một đình thờ thần hoàng - thường là người có
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
11
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
công chống giặc ngoại xâm hay có công chiêu lập dân ấp hoặc là các vị tổ sư
của nghề thủ công. Bên cạnh đình còn có chùa thờ Phật, văn chỉ hay đền thờ
Khổng Tử. Công giáo có đạo thiên chúa giáo. Làng có những sinh hoạt văn
hóa cộng đồng thể hiện trong các lễ hội, các trò chơi dân gian. Làng có văn
hóa xóm làng, có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân
tộc. Có nhiều loại làng như: Làng thuần nông, làng thủ công, làng buôn, làng
vạn chài…
Do điều kiện hình thành không giống nhau cho nên làng miền Nam,
miền Bắc, miền Trung không hoàn toàn giống nhau. Trước 1945 bên cạnh
làng một số yếu tố tích cực như: tính cộng đồng làng xã, một số nét dân chủ
cách rõ ràng mà chỉ ngăn cách bằng những con đường bao thôn, được gắn kết
với nhau thành một thể thống nhất với phong tục, tập quán, tín ngưỡng hàng
ngàn năm không hề thay đổi.
Trong tâm thức của người Việt, nói đến Đường Lâm người ta thường
liên tưởng địa danh “kẻ Mía” “Một ấp hai vua”. Địa danh này xuất hiện khá
sớm trong các thư tịch cổ như: Viện điện u linh, Thiên Nam ngữ lục, Lịch
triều hiến chương loại chí… Do đó có thể thấy tên địa danh này đã xuất hiện
cách đây trên dưới 1000 năm. Năm 1496 trấn sở Sơn Tây đóng tại xã La
Phẩm, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai (nay thuộc xã Tản Hồng, Ba Vì).
Đến đời Lê Cảnh Hưng (1740 – 1786) do bị ngập lụt, nước làm lở, trấn sở
được rời về Mông Phụ, huyện Phúc Lộc, phủ Quảng Oai (nay thuộc xã
Đường Lâm). Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) trấn sở rời về thôn Thuần Nghệ,
huyện Minh Nghĩa lúc đó (nay thuộc thị xã Sơn Tây). Năm 1831 trấn Sơn Tây
đổi thành tỉnh Sơn Tây và trấn lị trở thành tỉnh lị. Năm 1924 thực dân Pháp
đổi trấn Sơn Tây thành thị xã Sơn Tây. Tuy là thị xã nhưng vẫn là thủ phủ của
hai phủ Quốc Oai, Quảng Oai và bốn huyện: Tùng Thiện, Phúc Thọ , Thạch
Thất, Bát Bạt.
Theo Tiến sĩ sử học Đỗ Đức Hùng thì Đường Lâm là cái tên Hán hoá
vào thời Đường. Đầu đời Đường tên Đường Lâm được biết đến là một trong
ba huyện của quận Phúc Lộc, gồm Nhu Viễn, Đường Lâm, Phúc Lộc. Đến
năm Chí Đức thứ 2 nhà Đường (757) chính quyền đô hộ lại đổi thành quận
Đường Lâm. Sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên - một tài liệu viết vào
thời Trần thì ghi lại là Châu Đường Lâm, về sau những cái tên gọi như Cam
Gía, Cam Tuyền, Cam Đường, Cam Lâm, Cam Gía Thượng. . . đều thuộc
vùng đất kẻ Mía. Đất kẻ Mía được truyền thuyết dân gian xứ Đoài đã giải
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
13
phố Hà Nội. Ngày 1/11/1991 thị xã Sơn Tây lại chuyển về tỉnh Hà Tây.
Ngày 01/08/2008 thực hiện nghị quyết Quốc hội về việc mở rộng địa
giới hành chính thủ đô, 14 huyện, thành phố của tỉnh Hà Tây cũ, 4 xã của
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
14
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình và huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc sát nhập
về Hà Nội thì Đường Lâm hiện nay thuộc thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
Không những vậy, nhiều chặng đường lịch sử của dân tộc còn ghi dấu ấn tại
Đường Lâm, đây là nơi sản sinh ra nhiều danh nhân như Ngô Quyền, Bố Cái
Đại Vương Phùng Hưng, thám hoa Giang Văn Minh, Bà Man Thiện (mẹ của
Hai Bà Trưng), bà chúa Mía (Vương Phi của chúa Trịnh Tráng), khâm sai đại
thần, Bộ trưởng nội vụ, phó thủ tướng Phan Kế Toại, thám hoa Kiều Mậu
Hãn, họa sĩ Phan Kế An, phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. . .Mặt khác, nơi
đây còn lưu giữ những nét văn hoá cổ, nếu như phố cổ Hà Nội có lịch sử ra
đời, phát triển gắn liền với những thăng trầm biến cố, hưng thịnh của Thăng
Long kinh đô, kinh thành của nước Đại Việt xưa. Hội An - Quảng Nam cũng
là thương cảng sầm uất của xứ Đàng trong bị trị vì của nhiều đời chúa
Nguyễn, những nơi ấy mang trong mình nét đặc trưng của thương mại, đại
diện cho tầng lớp vua chúa, quan lại, quý tộc phong kiến, tiểu thương người
Hoa, người Mã Lai thì làng cổ Đường Lâm với cái tên quen thuộc mà các sử
gia hay gọi từ lâu “làng Việt cổ” “Làng cổ đá ong” lại mang trong mình tất cả
Khanh, một người hiền tài đức độ, khoảng năm Nhâm Tuất (722) đời Đường
Khai Nguyên ông đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, sau
đó ông trở về quê chăm chú công việc điền viên và trở nên giàu có. Theo sự
tích thì Phùng Hạp Khanh có một người vợ họ Sử, ông bà sinh được ba người
con trai khôi ngô khác thường, lớn lên ai cũng có sức khoẻ, có thể kéo trâu,
quật hổ. Anh cả là Phùng Hưng, em thứ hai là Phùng Hải (tự là Tử Hào) và
em út là Phùng Dĩnh (tự là Danh Đạt), đến năm ba anh em 18 tuổi thì cha mẹ
đều mất. Cho đến ngày nay, ngày sinh và ngày mất của Phùng Hưng vẫn chưa
rõ, theo một nguồn dã sử cho biết Phùng Hưng sinh ngày 25 tháng 11 năm
Canh Tý (760) và mất ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (801) thọ 41 tuổi.
Trong ba anh em, Phùng Hưng là người có sức khoẻ và khí phách đặc
biệt, ông đã được sử sách và truyền thuyết lưu truyền về tài đánh trâu, quật hổ
ở Đường Lâm. Có lần ông đánh được hai con trâu mộng đang húc nhau, dân
làng ai cũng thán phục. Lần khác lại trừ được hổ dữ bằng mưu kế, đem lại
bình yên cho xóm làng. Tới bây giờ Đường Lâm vẫn còn lưu truyền câu
chuyện đó. Truyện kể rằng: thủơ ấy trên đồi có rừng đại ngàn rậm rạp, dưới
trằm rộc lau lách um tùm, năm ấy cọp về có một con cọp hung dữ đã bắt đi
bao mạng người. Dân trong vùng sợ hãi không dám vào đồi kiếm củi hái chè.
Đêm đêm cọp dữ còn mò vào làng rình bắt trâu, bò, lợn, gà. Khắp cả làng
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
16
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
17
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
trấn giữ những nơi hiểm yếu. Cao Chính Bình đem quân đi đàn áp nhưng
chưa phân thắng bại, tình hình diễn ra như vậy hơn 20 năm.
Năm Tân Mùi (791) mùa hạ tháng 4 Phùng Hưng cùng các tướng lĩnh
đem quân vây đánh Tống Bình, quân của Phùng Hưng chia làm năm đạo do
các tướng Phùng Hải, Phùng Dĩnh, Đỗ Anh Hàn và chủ tướng Phùng Hưng
tiến công vây thành. Quân của Cao Chính Bình đem ra chống cự , cuộc chiến
đấu diễn ra trong 7 ngày, quân địch chết nhiều. Cao Chính Bình phải vào cố
thủ trong thành lo sợ cuối cùng bị ốm rồi chết. Phùng Hưng chiếm lĩnh thành
trì và vào phủ đô hộ coi chính sự đất nước được 7 năm thì mất. Sau khi mất
con trai ông là Phùng An lên nối ngôi, dâng tôn hiệu cha là Bố Cái Đại
Vương. An nối ngôi được 2 năm thì chính quyền rơi vào tay giặc, nền dân chủ
vừa mới xây dựng chỉ tồn tại vẻn vẹn trong 9 năm.
Theo nguồn sử liệu, truyền thuyết dân gian ở vùng Đường Lâm kể lại,
Phùng Hưng chết rồi còn hiển linh, thường hiện hình trong dân gian giúp dân
trong lúc hoạn nạn, dân làng cho là linh ứng, lập miếu để thờ tự tại Đường
Lâm, sau này Phùng Hưng còn hiển linh giúp cho Ngô Quyền đánh giặc trên
sông Bạch Đằng. Để tỏ lòng ngưỡng mộ đối với người anh hùng dân tộc họ
Phùng nhân dân lập đền thờ ở đình Quảng Bá (Hà Nội), đình Triều Khúc (Hà
Nội), đình Thanh Oai (Hà Nội). . .
Ngô Quyền
Nói đến Phùng Hưng không thể không nói đến người con ưu tú nữa đó
là Ngô Quyền. Với chiến thắng đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng
(938) Ngô Quyền đã đi vào lịch sử võ công hiển hách chống giặc ngoại xâm
dân trong hạt.
Năm 937 Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn- một thuộc tướng và là
hào trưởng đất Phong Châu- giết hại để đoạt chức tiết độ sứ, kẻ phản nghịch
gây loạn khi giặc Nam Hán đang lăm le bờ cõi. Một lần nữa nền độc lập tự
chủ của dân tộc mới giành được sau đêm trường Bắc thuộc lại bị đe doạ
nghiêm trọng. Trước làn sóng căm giận của nhân dân. Kiều Công Tiễn đê hèn
vội vã cho người sang cầu cứu chúa Nam Hán. Lợi dụng cơ hội này, chúa
Nam Hán là Lưu Cung đã nhanh chóng thực hiện kế hoạch xâm lược nước ta.
Y giao cho con trai là Vạn Vương Hoàng Tháo làm tĩnh hải Vương quân tiết
độ sứ, lại đổi phong là Giao Vương. Chúa Nam Hán cũng thân đem hậu quân
đóng ở trấn Hải Mãn (Quảng Tây- Trung Quốc) sát biên giới nước ta để yểm
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
19
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
trợ cho con. Trước hành vi phản nghịch của Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền đã
nhanh chóng tập hợp lực lượng, phất cao ngọn cờ yêu nước trừ nội phản, diệt
ngoại xâm. Các hào trưởng từ nhiều nơi đem binh về với Ngô Quyền.
Mùa đông năm 938, Ngô Quyền vượt đèo Ba Dội tiến vào Đại La, bêu
đầu tên phản bội Kiều Công Tiễn ở thành, họa nội giám đã diệt xong, Ngô
Quyền có thể rảnh tay đối phó với giặc ngoại xâm. Ông đưa ra kế sách phá
địch thật tài tình. Ngô Quyền cho bố trí một trận địa cọc nhọn bịt sắt cắm
xuống sông Bạch Đằng. Nhân khi nước thuỷ triều lên dụ thuyền địch vào bên
nước nhà là thám hoa Giang Văn Minh. Ông sinh năm Nhâm Ngọ (1582) ở
làng Mông Phụ. Tháng 2 năm Mậu Thìn (1628) đời Lê Vĩnh Tộ ở nước ta ông
dự khoa thi Hội, đỗ nhất giáp tiến sĩ, cập đệ tam danh, khoa thi này không có
ai đỗ Trạng Nguyên hay Bảng Nhãn, vì vậy ông là người đỗ cao nhất trong cả
khoa thi. Sau khi đỗ đạt ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ như
Binh khoa đô cấp sự trung (1630), Thái bộc tự khanh (1631).
Vào năm Dương Hoà thứ 3 (1637) ông và Thiên đô ngự sử Nguyễn
Duy Hiểu được vua cử làm chánh sứ dẫn đầu đoàn sứ bộ sang cầu phong và
tuế cống nhà Minh (vật cống nạp là một hình nhân người đúc bằng vàng). Lần
đi này, thám hoa Giang Văn Minh có một mục đích là làm sao để bỏ được cái
lệ này cho đất nước mình, khi được vào yết kiến vua, thám hoa Giang Văn
Minh đã kêu khóc rất to, nhà vua thấy thế liền hỏi: “Vì sao ngươi khóc. . .
thám hoa mới tâu rằng “Hôm nay là ngày giỗ cụ ba đời nhà tôi, tôi không
được ở nhà dự lễ nên tôi buồn, tôi khóc”. Nhà vua bèn nói: “Cụ ba đời đã mất
rất lâu rồi, đã là chuyện xưa rồi, sao nhà ngươi còn đau buồn nữa”, thám hoa
liền nói: “Vậy lệ cống nạp lễ vật cũng đã có từ lâu rồi, sao đến giờ vẫn phải
cống nạp. . . Vua thấy thế cũng phải liền bãi bỏ tục cống nạp cho nước Việt,
nhưng nhà vua lại ra một vế đối “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục. . . (nghĩa là: Cột
đồng đến nay rêu đã xanh, hàm ý nhắc đến việc Mã Viện từng đàn áp cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền:
“Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”- (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ- tức Đại Việt- bị
diệt vong). Trước sự ngạo mạn đó Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại
rằng: “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” – (Nghĩa là: Sông Đằng từ xưa máu
còn đỏ). Vế đối này vừa chỉnh, vừa có ý nhắc lại việc người Việt đã ba lần
đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng.
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
21
mà rằng: “Lão giả an tri”- (Gìa cần sự yên ổn). Một thời gian ông nhận được
thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và lên Việt Bắc tham gia vào cuộc kháng
chiến trường kỳ của dân tộc. Tại chiến khu ông được chính phủ cử giữ chức:
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
22
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ở cương vị của mình trong chính phủ kháng chiến tại
Việt Bắc ông đã có một phần đóng góp rất khoa học, quan trọng. Hoà bình lập
lại (1945) ông cùng chính phủ về Hà Nội và được Đảng, Nhà nước cử giữ
chức Phó thủ tướng Chính Phủ.
*Trong thời kỳ hiện đại còn một người nữa phải kể đến là Bộ trưởng
Bộ Thủy lợi Hà Kế Tấn. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền
thống về nghề thợ mộc, ông nội được cả vùng trân trọng gọi là “cụ Mục”(Người cai quản thợ của cả sứ Đoài). Lớn lên ông ra Hà Nội kiếm sống và
được giác ngộ lý tưởng cách mạng, trong phong trào dân chủ (1936-1939)
ông đã lập ra “Ái quốc thợ mộc” ở Hà Nội, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. . .
Toàn quốc kháng chiến ông lên chiến khu, hoà bình lặp lại ông được Đảng và
Chính phủ cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi. Có thể nói Bộ trưởng Hà Kế
Tấn là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho công trình thuỷ điện
Hoà Bình hôm nay
Cũng giống như cụ Phan Kế Toại, cụ Hà Kế Tấn cũng hết sức chăm lo
cho đến đời sống dân làng Đường Lâm, cụ là người quy hoạch và xây dựng
hệ thống thuỷ lợi của đồng đất Đường Lâm, vốn một vùng bán sơn địa rất khó
Nguyễn Thị Dung
K32G – Việt Nam học
24
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
CHƯƠNG 2
KIẾN TRÚC LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM
Lật lại những trang sử của ngành kiến trúc Việt Nam người ta thấy rằng
kiến trúc Việt Nam ra đời rất sớm. Có thể đã xuất hiện từ thời Vua Hùng
dựng nước, cách nay khoảng 4000 năm, làng xóm cũng xuất hiện vào thời kỳ
này, người Việt cổ lúc bấy giờ đã biết bào gỗ làm nhà tránh hổ sói, họ đã biết
quần tụ nhau lại để xây dựng xóm làng. Theo các nhà kiến trúc cho rằng, làng
xã Việt Nam có tính quần thể cao, với lối kiến trúc đơn giản nhẹ nhàng phù
hợp với khí hậu và tập quán của người dân Việt.
Là một trong những làng cổ Việt ở xứ Đoài, nơi đây còn giữ được nét
duyên dáng, độc đáo của làng quê Việt Nam với cây đa, bến nước, mái đình,
mà còn là một làng mang dấu ấn của nền văn minh lúa nước xuất hiện rất sớm
đã được bảo tồn nguyên vẹn ở Đường Lâm, bởi đây còn lưu giữ cách tổ chức
sinh hoạt, trong giao tiếp, trang phục lễ hội, phong tục tập quán mà hơn tất cả
là sự tồn tại của hàng loạt những ngôi nhà cổ với lối kiến trúc có dãy nhà trên
và dãy nhà ngang thường là ba gian hai chái, trước có sân và vườn hoa cây
cảnh. Xen lẫn vào đó là những ngõ nhỏ đá ong, cổng đá ong, giếng nước đá
ong và nhiều kiến trúc di tích lịch sử văn hoá: Đình Mộng Phụ, nhà thờ họ
Giang, nhà thờ họ Phan vô cùng quý giá. Cách làng Mông Phụ không xa là