TIỂU LUẬN:
Một số nét về nguồn nhân lực và
quản lý nhân lực của T
ổng
Công ty Hàng không Việt Nam
Lời nói đầu
Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines Corporation) là một
doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn hoạt động trong lĩnh vực vận tải hàng
không.
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của Đất nước Hàng không Việt
nam đã có những bước phát triển nhanh thể hiện không chỉ ở số lượng hành khách -
hàng hoá vận chuyển được, doanh thu tăng qua các năm, chất lượng sản phẩm và
dịch vụ ngày càng được nâng cao, đổi mới trang thiêt bị kỹ thuật, nâng cao đời
sống của cán bộ công nhân viên chức Vietnam Airlines ngày càng xứng đáng với
vị trí của một hãng Hàng không Quốc gia giữ vai trò chủ đạo trên thị trường vận tải
quốc tế nhìn chung là thuận lợi. Kết quả công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước
tạo đà thuận lợi cho kinh tế – xã hội ổn định và phát triển vững chắc với tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân 9%/ năm, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện,
quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng và phát triển. Trên bình diện quốc tế
kinh tế thế giới dần đi vào quỹ đạo phát triển ổn định trong xu thế hợp tác.
Gần một nửa thế kỷ qua đã chứng kiến sự lớn mạnh không ngừng của ngành
Hàng không dân dụng Việt nam kể từ khi tiếp quản sân bay Gia lâm từ tay người
Pháp năm 1956. Qua quá trình xây dựng, đổi mới và phát triển đến nay Hàng không
dân dụng Việt nam là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Đất nước và
Hãng Hàng không Quốc gia Việt nam ( Vietnam Airlines ) đang trở thành một trong
những hãng hàng không có tầm cỡ trong khu vực.
Từ những ngày đầu tiên với cơ sở vật chất còn thiếu thốn với đội bay chỉ có
5 chiếc. Hàng không Việt nam đã bắt đầu phát triển đáp ứng nhu cầu vận chuyển
hành khách và hàng hoá trong nước và quốc tế ngày càng cao. Năm 1956 HKVN
mở đường bay quốc tế đầu tiên đi Bắc kinh, đi Viên chăn năm 1976, Băngkốc năm
1978 và Phnôm-pênh năm 1979. Vào cuối thập kỉ 80 đầu thập kỉ 90 mạng đường
bay liên tục được mở rộng tới Singapore, Manila, Kualar-lumpur, và Hongkong.
Tháng 4/1993 Vietnam Airlines được thành lập như một doanh nghiệp Nhà nước
trực thuộc Cục Hàng không dân dụng Việt nam-đánh dấu bước trưởng thành mới
với hoạt động kinh doanh sôi động, nhiều tuyến bay quốc tế quan trọng được bổ
sung như Moscow, Paris, Kaohsisung, Seuol, Osaka, Sydney/ Melbuourne. Mạng
dường bay trong nước cũng ngày càng được mở rộng với nhiều điểm đến mới. Mức
độ tăng trưởng bình quân đã đạt hơn 30%/ năm
Ngày 27/5/1996 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Tổng Công ty
Hàng không Việt nam ( Vietnam Airlines Corporation) trên cơ sở liên kết 20 doanh
nghiệp hoạt dộng trong ngành hàng không do Vietnam Airlines làm nòng cốt. Sự
kiện này đánh dấu một bước chuyển mình của HKDDVN trong giai đoạn đổi mới
19 văn phòng chi nhánh và hàng ngàn đại lý trên toàn thế giới. Vietnam Airlines trở
thành sự lựa chọn thuận tiện cho khách du lịch đến và đi từ Đông nam á với việc
Vietnam Airlines được phép hoạt động trong lĩnh vực du lịch.
Năm 2002 vừa qua đánh dấu mốc son lớn trên con đường phát triển của HKVN
khi lượng hành khách vận chuyển đã đạt trên 4 triệu và hơn 60 nghìn tấn hàng.
Trong quá trình hội nhập kinh tế –văn hóa với thế giới, Vietnam Airlines còn đảm
đương vai trò “ Đại sứ lưu động” của Việt Nam. Biểu tượng mới “ Bông sen vàng”
tượng trưng cho nền văn hoá và thể hiện những thành tựu của công cuộc đổi mới
của Việt Nam.
Vietnam Airlines đang trên đà phát triển ngày càng bền vững, tiến lên trở thành
hãng hàng không có tầm cỡ và có bẳn sắc trong khu vực và trên thế giới.
II- Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam.
1. Mô hình tổ chức.
Tổng Công tyHàng không Việt Nam (TCTHKVN) là tổng công ty nhà nước có
quy mô lớn (mô hình tổng công ty 91) lấy hãng hàng không quốc gia làm nòng cốt
và bao gồm các đơn vị thành viên là các doanh nghiệp hạch toán độc lập, hạch toán
phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp có quan hệ gắn bó với nhau về tổ chức, lợi ích kinh tế,
công nghệ thông tin, đào tạo nghiên cứu hoạt động trong ngành hàng không nhăm
tăng cường tích tụ tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực
hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các
đơn vị thành viên và của TCT đáp ứng nhu cầu cuả nền kinh tế.
TCTHKVN là doanh nghiệp nhà nước hoạt động toàn cầu, lấy vận tải hàng không
làm lĩnh vực kinh doanh cơ bản, đồng thời thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, ngành
nghề kinh doanh trên cơ sở tham gia vốn của các doanh nghiệp khác tạo thành hệ
thống các công ty thành viên của Tổng Công ty. Mô hình tổ chức hiện tại của TCT
được thể hiện ở sơ đồ 1 dưới đây:
2. Chức năng nhiệm vụ
nẵng, Tân Sơn Nhất, các xí nghiệp sữa chữa tàu bayA75, A76.
- Cung ứng các dịch vụ thương mại các cảng hàng không sân bay : do các
công ty dịch vụ hàng không sân bay Nội Bài (Nasco), Đà Nẵng (Masco), Tân
Sơn Nhất (Sasco) đảm nhiệm trong dó doanh thu từ Vietnam Airlines tương
đối nhỏ.
- Kinh doanh nhiên liệu hàng không : do Công ty xăng dầu hàng không (
VINAPCO) thực hiện.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu chuyên ngành : do Công ty xuất nhập khẩu hàng
không ( AIRIMEX) thực hiện là chủ yếu dưới hình thức nhập uỷ thác cho
Vietnam Airlines và các đơn vị hàng không khác.
- Kinh doanh xây dựng chuyên ngành và dân dụng : do Công ty công trình
hàng không và Công ty tư vấn khảo sát thiết kế hàng không đảm nhiệm với
thị trường có khả năng mở rộng nhưng thiếu ổn định.
- Các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ khác. CHƯƠNG II
Một số nét về tình hình sản xuất kinh doanh của tổng công ty trong những năm
hành
khách
Vietnam
Airlines
Tăng
tuyệt
đối
Tăng
tương
đối
1991 235,771 100% 235,771
1992 457,172 221,401 93.91%
98.03% 448,180 212,409
90.09%
1993 678,725 221,553 48.46%
95.29% 646,733 198,553
44.30%
1994 1,038,831
360,106 53.06%
93.20% 968,162 321,429
49.70%
2,202 2.67% 95.06% 1,594,159
25,072 1.61%
2000 1,855,783
178,127 10% 93% 1,718,410
124,251
7.00%
2001 2,249,302
393,159 12.12%
85.13% 1,915,845
197,435
11.49%
2002 2,611988 756,205 16.1% 85.74% 2,239,623
323,778
17.00%
Bảng số 3: Tổng số hành khách quốc tế vận chuyển (1991 – 2002)
Năm Tổng số
1993
1,146,585 270,285 30.84 36.46% 418,049 45,485 12.21%
1994
1,626,335 497,750 41.84 40.55% 659,464 241,415 57.75%
1995
2,060,570 434,235 26.70 43.75% 901,413 241,949 36.69%
1996
2,263,797 203,227 9.86 44.29% 1,002,576 101,163 11.22%
1997
2,324,555 60,758 2 42.9% 973,610 -28,966 -2.8%
1998
2,360,807 36,252 1.56 38.64% 912,330 -61,280 -6.3%
1999
2,601,160 240,353 11.35 38.48% 998,540 86,210 9.51%
2000
3,034,636 433,476 17 39% 1,185,590 187,050 19%
2001
3,460,279 425,643 14.03 42.54% 1,472,959 287,369 24.24%
2002
4,236,821 776,542 22.4 41.59% 1,761,952 288,993 19.8%
119,9
122,4
116,1
VN
Khách
- Quốc tế
- Nội địa
Lượt khách
4.001.575
1.761.952
2.239.623
102,7
101,1
104,0
118,2
119,8
117,0
Khách luân
chuyển
- Quốc tế
- Nội địa
1000
khách . km
6.600.197
4.873.326
1.726.871
cuộc khủng bố diễn ra ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Hậu quả dẫn
đến nền kinh tế của nhiều nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là ba nền kinh
tế lớn nhất thế giới là Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản liên tục chao đảo và dẫn tới sự phá
sản của một số công ty lớn, kéo theo những ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế
của nhiều nước khác. Mặc dù vậy tính chung nền kinh tế thế giới vẫn tăng trưởng
(1,7%), thấp hơn rất nhiều mức tăng trưởng 2,6% năm 2001 và 4,7% năm 2000.
Những diễn biến bất lợi như trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường và
ngành hàng không dân dụng thế giới. Theo số liệu của Hiệp hội vận chuyền hàng
không quốc tế (IATA). Tính đến tháng 11/2002, tổng số khách quốc tế luân chuyển
giảm 5,03% và ghế luân chuyển, giảm 7,76% so với cùng kỳ năm 2001. Suy giảm
chủ yếu ở thị trường Mỹ và Châu Âu, riêng thị trường Châu á vẫn phát triển. Nhiều
hãng hàng không rơi vào hoàn cảnh khó khăn, cắt giảm đường bay, đội bay, nhân
công thậm chí phá sản.
Về tình hình trong nước, sau rất nhiều khó khăn trong những tháng đầu năm,
kinh tế Việt Nam đã có được đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm. GDP cả
năm đạt 536 nghìn tỷ đồng, tăng 7,04% so với năm 2001, xếp thứ hai về tốc độ phát
triển kinh tế ở Châu á sau Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu đạt 16, 53 tỷ đô la Mỹ
tăng 10% so với năm 2001.
Trong khi thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp Việt Nam vẫn nổi lên
như một điểm du lịch an toàn, là sự lựa chọn thay thế hấp dẫn cho các chuyến du
lịch đi đến các điểm khác. Theo thống kê của Tổng Cục Du lịch trong năm 2002 có
2,63 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 2,8% so với năm 2001, khách du
lịch nội địa cũng tăng trưởng 11,6%, đạt 13 triệu lượt.
Chính sách không tải theo hướng nới lỏng các hạn chế cạnh tranh, tăng tải cung
ứng được phép trên các đường bay trọng điểm đi Nhật Bản, Đài Loan, úc,
Singapore tạo điều kiện cho các hãng tăng cường khai thác đáp ứng nhu cầu đi lại
ngày càng tăng của hành khách.
Do thị trường hàng không Việt Nam tăng trưởng mạnh trong khi thị trường thế giới
và khu vực suy giảm, một số hãng hàng không mở đường bay đến Việt Nam và hầu
hết các hãng hàng không có khai thác đến Việt Nam đều tăng tần suất bay.
Đánh giá chất lượng lịch bay trong năm 2002, đội bay của Việt Nam được tăng
cường 3 máy bay B767, nâng tổng số máy bay khai thác lên 30 chiếc trong đó có 8
B767, 10 chiếc A320, 2 chiếc A321, 2 chiếc FOKKER và 8 chiếc ATR-72. Với đội
bay được tăng cường, về cơ bản Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng
của thị trường, giảm bớt căng thẳng về cung ứng trên mạng đường bay nội địa, đặc
biệt là đường bay địa phương. Tổng cung ứng luân chuyển của Việt Nam trong năm
2002 là 8,64 tỷ ghế.km, đạt 99,5% so với kế hoạch, tăng 18% so với năm 2001,
trong đó cung ứng trên các đường bay quốc tế là 6,53tỷ ghế.km, đạt 99,1% so với
kế hoạch, tăng 14,6% so với năm 2001, cung ứng trên các đường bay nội địa là 2,1
tỷ ghế.km đạt 100,7% kế hoạch và tăng 17,2% so với 2001
Số liệu cụ thể thể hiện trong bảng số 5 dưới đây:
Bảng 5: Tình hình cung ứng năm 2002
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2002 So với kế
hoạch
(%)
So 2001
(%)
Số chuyến bay
- Quốc tế
Chuyến 1
chiều
41418
20615
99.5
-1.0
2.7
Số chuyến bay khai thác năm 2002 theo bảng 6 dưới đây
Bảng 6: Tình hình khai thác năm 2002
Chỉ tiêu 2002 So với 2001
Số chuyến %
1. Số chuyến bay
kế hoạch
2. Số chuyến bay
thực hiện
3. Số chuyến bay huỷ
4. Số chuyến bay tăng
5. Số chuyến bay chậm
44,446
44,381
1,105
1,291
6,190
6,996
6,795
150
phủ Việt Nam.
Tình hình thị trường
- Thị trường hàng quốc tế nhìn chung có những diễn biến thuận lợi đặc biệt
trong giai đoạn cuối năm. tổng thị trường tăng 32,8% đạt mức tăng trưởng cao nhất
trong 5 năm qua. Phần lớn các thị trường đều tăng trưởng so với năm 2001 trước đó.
Một số đã đạt tốc độ rất cao như: thị trường Miền Bắc 50%, Miền Nam 34%, Hông-
kong và Thái Lan 56%, Malaysia 61%, và Hàn Quốc 59% Các thị trường khác
tăng trưởng khá từ 7% đến 15%. Riêng thị trường Châu Âu và Quảng Châu giảm so
với 2001( tương ứng là 99.3% và 96,1%).
- Thị trường hàng nội địa: Do điều chỉnh giá kịp thời, tải cung ứng nhiều nên
nhu cầu vận chuyển hàng nội địa tăng khoảng 20% so với năm 2001. Mặt hàng chủ
yếu vẫn là hàng trái cây, thuỷ sản, hàng thông thường. Tuyến vận chuyển chủ lực là
tuyến Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Ngoài Vietnam Airlines
tham gia khai thác thị trường nội địa còn có Pacific Airlines với tần suất bay và tải
cung ứng ổn định, giờ bay hợp lý.
Cụ thể tổng thị trường nội địa đạt 36734 tấn, tăng 20,5% so với 2001 trong đó
hàng từ SGN đạt 18588 tấn, tăng 19,8% so với năm 2001 và từ HAN đạt 13974 tấn
tăng 25,8% so với năm 2001; còn lại là hàng từ khu vực Miền Trung 2054 tấn tăng
10,9%.
Công tác bán của Vietnam airlines
Phần lớn các thị trường đã hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra. Một số thị
trường vượt ở mức cao như: Singapore(37,2%), Hàn Quốc(29,4%), Miền
Trung(32,9%), Miền Bắc(19,9%) Vietnam airlines vẫn giữ được thị phần chủ đạo
đối với hàng đi từ Việt Nam đến các phân thị Nhật Bản(44%), Hong-kong(65%),
úc(77%),
Đối với thị trường trong nước đã áp dụng nhiều hình thức giao giá như: giá theo
mùa, giá mục tiêu, giá theo nguồn hàng kết hợp với chính sách mạng bán. Giá cước
năm 2001, chiếm 71,8% thị phần so với 71,2% năm 2001.
+ Hàng quốc tế đạt 32,629 tấn vượt 7,3% kế hoạch và tăng 17,9% so với năm
2001.
Thực hiện kế hoạch doanh thu
Trong năm 2002, doanh thu hàng hoá của Việt Nam đạt 866 tỷ đồng (bằng
57.447.699 USD tính theo tỷ giá kế hoạch), đạt 113,5% kế hoạch và tăng 22,3% so
với năm 2001.
Hàng nội địa đạt 82,3 tỷ đồng (5452300 USD), vượt 18,4% so với kế hoạch và
tăng 21,4% so với năm 2001.
Hàng quốc tế đạt 783,5 tỷ đồng (51995400 USD) vượt 7,3% kế hoạch và tăng
17,9% so với năm 2001.
IV. Chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng:
Dịch vụ mặt đất: có nhiều tiến bộ, đạt điểm đánh giá ở mức khá. Năm 2002 là
năm đầu tiên chất lượng vượt ngưỡng trung bình và được khách hàng đánh giá khá
cao. Trong đó các đường bay nội địa có đánh giá tốt hơn do dinh vụ trên đường bay
trục có những tiến bộ đáng kể, đảm bảo khi thực hiện khai thác ổn định nhà ga thứ
nhất NBA với việc nâng cấp toàn diện trang thiết bị phục vụ, phòng khách C, hệ
thống thủ tục tự đóng DCB
Dịch vụ trên máy bay được duy trì khá ổn định và có chuyển biến tốt. Điểm
đánh giá đạt mức trung bình khá.
Tình hình phục vụ hành khách tại các đầu sân bay được thực hiện tốt, đúng quy
định và chính sách của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam. Tuy nhiên, còn xảy ra
mất mát, thất lạc hành lý, giấy tờ tuỳ thân không hợp lệ, khách bị từ chối chuyên
chở hay nhập cảnh. Một số điểm phục vụ nối chuyến chưa thực sự tốt, một số thời
điểm quá tải.
Công tác hợp đồng phục vụ mặt đất: ký lại và ký mới hợp đồng phục vụ mặt đất
tại hầu hết sân bay khai thác. giá dịch vụ tại phần lớn các đầu sân bay là giá cân
động phổ thông. Khối thương mại số lượng lao động có trình độ đại học và cao
đẳng là lớn nhất. Khối tổng hợp lao động chủ yếu có trình độ đại học và cao đẳng .
Tuy đội ngũ lao động có trình độ sau đại học chưa nhiều(<1%) nhưng đều
giữ chức vụ quan trọng trong Tổng Công ty.
Nhìn chung lao động của Tổng Công ty qua các năm có sự gia tăng về chất
lượng và số lượng. Lao động phổ thông giảm xuống ở tất cả các khối đặc biệt ở
khối thương mại.
Lao động có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học tăng lên rõ rệt đáng chú
ý là khối thương mại và khối khai thác. Do đó tỷ trọng lao động có trình độ đại học
và cao đẳng đã tăng lên đáng kể trong một số năm qua, chiếm gần 40%.
Đây là một biểu hiện thể hiện chất lượng lao động của Tổng Công ty đang và
sẽ đáp ứng những yêu cầu của công việc ở từng bộ phận, đóng góp mangh tính
quyết định của Tổng Công ty. Tuy nhiên số lượng lao động có trình độ sơ cấp và lao
động phổ thông còn chiếm tỷ trọng lớn ( gần 40% ), cần được đào tạo để đáp ứng
nhu cầu công việc.
2. Cơ cấu lao động theo độ tuổi.
Với nhiệm vụ chủ yếu của Tổng Công ty là sản xuất – phục vụ dịch vụ vận
tải hàng không nên cơ cấu lao động của Hàng không Việt Nam theo độ tuổi cũng có
đặc trưng riêng. Lực lượng lao động của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam rất
trẻ, trong đó số cán bộ công nhân viên có độ tuổi dưới 35 chiếm hơn 80% trong đó
tập trung ở khối thương mại và khối khai thác, sau đó đến khối kỹ thuật. Riêng khối
khai thác bay lao động trẻ từ 18 đến 25 tuổi chiếm 2/3 . Trong khi đó lao động từ 36
tuổi trở lên tăng nhẹ về số lượng nhưng giảm về tỷ trọng trong số lao động toàn
Tổng Công ty. Số lượng lao động tuổi 50 trở lên chiếm tỷ trọng nhỏ ( hơn 2%) chủ
yếu là thành phần cốt cán gắn bó với tổng công ty trong quá trình mới thành lập và
trưởng thành. Số lượng thống kê các năm qua cho thấy tốc độ tăng hàng năm tương
đối ổn định và không có sự nhảy vọt. Tốc độ tăng có xu hướng giảm ở lao động trên
tăng của loại lao động này đã giảm đáng kể do thực hiện chủ trương giảm biên chế
lao động trục tiếp trong các Doanh nghiệp Nhà nước (Nghị quyết trung ương VII
khoá VIII).
Vì vậy trong cơ chế thị trường hiện nay, với việc sản xuất kinh doanh mang
tính cạnh tranh cao do đó Tổng Công ty cần có kết cấu lao động theo nghề nghiệp
phù hợp, bộ máy gọn nhẹ. Đáp ứng sự phát triển không ngừng của Vietnam
Airlines.
4. Kết cấu lao động theo giới tính
Nhìn chung cơ cấu lao dộng theo giới tính của Tổng Công ty thay đổi không
đáng kể giữa các năm. Năm 2000 lao động nữ chiếm 38,87% so với tổng số, tập
trung chủ yếu ở ba xí nghiệp phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất, đoàn tiếp viên.
Còn lao động nam chiếm đa số (61,13%) tập trung chủ yếu ở các xí nghiệp kỹ thuật
máy bay A75, A76 và đoàn bay do yêu cầu công việc đòi hỏi sức khoẻ và kỹ thuật.
II. Công tác quản trị nhân lực của tổng công ty hàng không Việt Nam.
1.Tình hình tuyển mộ, tuyển chọn và bố trí việc làm cho cán bộ công
nhân viên
Sự thành công của bất kỳ một doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều phụ thuộc chủ yếu
vào năng lực và hiệu suất làm việc của người lao động. Do đó, công tác tuyển mộ
và bố trí việc làm cho cán bộ công nhân viên luôn được Tổng Công ty coi trọng.
Hơn nữa, do vận tải hàng không là một nghành kỹ thuật- công nghệ hiện đại nên nó
đặt ra yêu cầu rất cao đối với lao động của mình, đặc biệt là đối với những lao động
đặc thù như người lái máy bay, tiếp viên, nhân viên kỹ thuật.
Tuỳ theo từng loại hình công việc mà Tổng Công ty áp dụng những quy trình và
phương pháp tuyển dụng khác nhau. Nhưng nhìn chung Tổng Công ty sử dụng hai
hình thức sau:
- Tuyển chọn: bao gồm các thủ tục sau:
+ Sơ tuyển về hồ sơ: Hồ sơ xin việc bao gồm đơn xin việc, lí lịch, bằng cấp và
phát triển nhân sự trên cơ sở trình độ chuyên môn, sức khoẻ và các khả năng
khác: ngoại ngữ, tin học.
b. Khuyết điểm:
- Chưa có kế hoạch tuyển dụng dài hạn mà chủ yếu là tuyển dụng lao động
theo nhu cầu lao động phát sinh. Công tác quy hoạch và tuyển dụng nhân sự
chưa khoa học, không dựa trên những dự báo dài hạn sát với thực tế. Tuyển
người thiếu chọn lọc và không lường hết được hiệu suất làm việc của họ.
- Phần lớn nguồn nhân lực của tổng công ty là từ cơ chế cũ chuyển sang, việc
cập nhật kiến thức mới còn có nhiều hạn chế.