Một số vấn đề về thị trường Quốc tế của Tổng công ty Hàng không Việt Nam - Pdf 46


LỜI NÓI ĐẦU
Đất Nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đổi mới toàn diện để phát
triển. Công cuộc đổi mới cùng với những thành tựu to lớn của nó đã tạo cơ
sở để chúng ta tiến vào thời kỳ Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá và hội nhập
với Khu vực và Thế giới.
Trong thập niên cuối cùng của Thiên niên kỷ thứ hai, chúng ta đã
chứng kiến sự phát triển nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực, nhưng sôi động
nhất có lẽ là lĩnh vực Kinh tế- Thương mại. Đây là một tuận lợi cơ bản cho
sự phát triển của ngành Hàng không dân đụng của các Quốc gia-Bởi tính
Quốc tế là một trong những đặc thù của ngành-nhất là những Quốc gia đang
phất triển.
Trước xu thế toàn cầu hoá, một sự cộng tác ngày càng cao, càng
chặt chẽ hơn giữu các nhóm Quốc gia và cả cộng đồng Quốc tế, khi Thế giới
đã nối mạng thì chính sự giao lưu sẽ tiếp tục tạo nên thịnh vượng cho ngành
Hàng không- Một ngành Kinh tế Kỹ thuật phát triển dựa trên các hoạt động
có hàm lượng trí tuệ cao và có vai trò đối với sự phát triển Kinh tế- Xã hội.
Nhận thức được tình hình chung của Đất nước, của ngành Hàng
không dân dụng Việt Nam nói riêng và khu vực, Quốc tế nói chung vấn đề
đặt ra đối với Tổng công ty Hàng không là làm thế nào để duy trì, phát triển,
mở rộng thị trường trong nước và đặc biệt là thị trường Quốc tế; nhằm quảng
bá và chứng minh sức mạnh của mình trong giai đoạn cạnh tranh khá gay gắt
của ngành Hàng không dân dụng hiện nay. Thời gian qua, Tổng công ty hàng
không Việt Nam đã cố gắng vượt qua khó khăn để tận dụng mọi nguồn lực
nhằm tăng cường hợp tác với nước ngoài, chủ động hội nhập Quốc tế mở
rộng thị trường, phát triển kinh doanh.
Xuất phát từ tế thực tế của Hàng không dân dụng Việt Nam, qua
thời gian thực tập tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam em đã có cơ hội
tìm hiểu và nắm bắt đưọc một số vấn đề cơ bản về thị trường Quốc tế của
Tổng công ty. Được sự hướng dẫn nhiệt tình của Thầy giáo Tiến sĩ Lê Danh
Tốn và sự giúp đỡ của cán bộ trong ban Kế hoạch thị trường của Tổng công

Tên viết tắt là: VAC
Tên giao dịch tiếng Việt: Tổng công ty Hàng không Việt Nam.
Trụ sở chính của Tổng công ty đặt tại Hà Nội, có văn phòng đại diện đặt
tại các Tỉnh, Thành phố; Cơ quan đại diện Hàng không ở nước ngoài gồm cơ
quan đại diện vùng và từng nước ; có con dấu , trang phục cờ và phù hiệu
riêng.
Tổng công ty có các đơn vị thành viên, là doanh nghiệp Nhà nước, hạch
toán kinh tế độc lập, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc và đơn vị sự nghiệp,
có quan hệ với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính công nghê, thông tin, nghiên
cứu tiếp thị, hoạt động trong ngành Hàng không nhằm tăng cường tích tụ tập
trung phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiêmj vụ
Nhà nước giao, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của các đơn vị
thành viên và của toàn Tổng công ty, đáp ứng nhu cầu của toàn bộ nền kinh
tế.
Trong thời gian qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn với sự suy thoái
kinh tế của nền kinh ttế khu vực Châu A và tâm lý bao trùm nhằm thoát khỏi
tình trạng kinh doanh xấu đi do tác động của sự kiện 11-9-2001 song các
2
thành viên trong Tổng công ty đã đồng tâm nhất trí cao, đoàn kết phát huy
truyền thống và thế mạnh, lập nhiều thành tích mới, đánh dấu bước phát triển
quan trỏngất có ý nghĩa trong những thập niên đầucủa thế kỷ mới - Thế kỷ
21.

1.2: Nhiệm vụ và chức năng của Tổng Công ty.
Là bộ phận cấu thành trong nền kinh tế Quốc dân,HKDDVN được Dảng
và Nhà nước giao phó hai nhiệm vụ chiến lượclà xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Với đặc thù là một ngành kinh tế kỹ thuật đi tiên phong trong quá trình
hội nhập Quốc tếcủa đất nước, HKDDVN đã và đang trực tiếp tham gia vào
quá trình hội nhập Quốc tế gắn liền các yếu tốvề chủ quyền và an ninh quốc
gia.

lực trong những năm qua là đào tạo lại và đào tạo mới người lái, kỹ thuật
viên, tuyển mới và đào tạo nâng cấp cán bộ quản lý, nâng cao chất lượng đội
ngũ tiếp viên. Tổng công ty về cơ bản đảm nhiệm khai thác, bảo dưỡng được
các loại máy bay ATR 72 và FOKKER70, cung ứng được toàn bộ lái phụvà
3
2/3 lái chính cho các loại máy bay AIRBUS A320 và BOEING 767, chỉ còn
thuê một số nhân viên người nước ngoài. Hàng trăm kỹ thuật viên máy bay
được đào tạo, một số người đã được nhận chứng chỉ hành nghề Quốc tế. Nhờ
thành công trong công tác đào tạo người lái và kỹ thuật viên mà hàng năm
Tổng công ty tiết kiệm rên 20 triệu USD từ việc chuyển giao công nghệ cho
riêng máy bay A320.
Về đội ngũ cán bộ, đa số cán bộ chủ chốt của Tổng công ty và các cơ
quan đơn vị đã được rèn luyện qua thử thách trong chiến đấu, xây dựng đất
nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng, hăng hái thực hiện chính sách đổi mới
của Đảng và Nhà nước.Có 70% cán bộ có trình độ Đại học và trên đại học;
phần lớn được đaò tạo, đào tạo lại từng bướcđúng các cơ chế quản lý và tiếp
cận trình độ quản lý mới.
1.3.2: Vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật.
1.3.2.1: Vốn.
Vốn và tài sản của Tổng công ty là khá lớn,tương xứng với vai trò và vị
rrí của Doanh nghiệp vận tải Hàng không. Đặc biệt là trong những năm gần
đây, cùng với sự đi lên của kinh tế Khu vực và kinh tế Việt Nam đã tạo cơ
hội phát triển cho ngành HKDDVN.
Theo quy định 225/ CT ngày 28-08-1989 của HĐBT, vào ngày 01-
01-1991, tổng số vốn Nhà nước giao cho Tổng công ty HKVN là:
613.082.713.000 đồng(chiếm 7% tổng số vốn)
Tính đến ngày 31-12-2000, vốn chủ sở hữu của Tổng công ty là:
2.784.103.564.000 đ ( trong Khối hạch toán độc lập : 402.713.228.000đ
Khối hạch toán tập trung: 1.999.022.818.000đ)
Cơ cấu vốn phân theo nguồn như sau:

Tổng công ty được thành lập ngày 27-05-1995, hoạt động theo điều lệ tổ
chức và được sự phê chuẩn của Chính Phủ tại nghị định 04/CP ngày 27-01-
1996, Tổng công ty lấy hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam làm nòng cốt.
Hiện nay, trong Tổng công ty có 07 đơn vị hạch toán tập trung, 12 đơn
vị hạch toánđộc lập và 01 đơn vị sự nghiệp. Ngoài ra Tổng công ty còn có
vốn góp tại Công ty Hàng không cổ phần Pacific Airlines và 06 công ty liên
doanh với nước ngoài.
Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết TW3 về việc tiếp tục sắp xếp đổi
mới và nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp Nhà nước tổ chức thực hiện Nghị
định số 63/2001/NĐ-CP ngày 14-9-2001 về chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà
nước thành công ty TNHH một thành viên và tiến hành chuyển đổi một số
đơn vị hạch toán độc lập thành Công ty TMHH (Dự kiến :VINAPCO và
SASCO)
Nhìn chung, Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty phù hợp với chủ trương
phát triển Kinh tế- Xã hội của Đảng và Nhà nước theo hướng tiếp tục đổi
mới và phát triển khu vực doanh nghiệp Nhà nưóc, hình thành các tập đoàn
kinh tế Nhà nước quy mô lớn trong lĩnh vực Kinh tế chủ chốt phục vụ việc
đẩy mạnh Công nghjiệp hoá-Hiện đại hoá Đất nước. Đòng thời nó nhận định
rõ chức năng quản lý Nhà nước và quản lý kinh doanh trong ngành Hàng
không, tăng cường quản lý Nhà nước đối với sản xuất kinh doanh , đồng thời
tăng quyền chủ động cho Tổng công ty. CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ CỦA TỔNG CÔNG TY.
2.1: Thị trường và nghiên cứu thi trường của Tổng công ty.
2.1.1: Sự cần thiết phải nghiên cứu thị trường.
5
Sự phát triển của thị trường Hàng không Việt Nam phụ thuộc rất nhiều
yếu tố khác nhau. Trong đó đặc biệt quan trọng là môi trường kinh tế-Xã hội

đường thuỷ. Nhận thức được tầm quan trọng đó nên ngay từ khi mới thành
lập và đặc biệt là khi Đất nước bắt đầu chuyển sang nền Kinh tế thị trường
thì bộ phận chuyên nghiên cứu về thị trường của Tổng công ty đã được thiết
lập và hoạt động rất có hiệu quả , mang lại thị phần lớn trên thị trường Quốc
tế.
* Ban kế hoạch thị trường (KHTT) là đơn vị đảm nhận vai trò tìm hiểu
và nghiên cứu thị trường của Tổng công ty cùng với sự hỗ trợ, hợp tác, tác
động của các ban ngành có liên quan ( như Ban Dịch vụ thị trường, Ban Kế
hoạch và tiếp thị hàng hoá, Ban Tiếp thị hành khách…). Về cơ sở vật chất,
phương tiện cũng như đội ngũ cán bộ công nhân viên ở đây đạt chất lượng
tương đối cao và trình độ phù hợp cho công việc của mình. Với mục tiêu
nắm bắt một cách rõ ràng và đưa ra những dự báo khá chính xác đối với thị
trường ở trong nước, Ban KHTT còn luôn quan tâm tới tới thị trường Quốc
6
tế bởi đó là thị trường có tính quyết định sự mở rộng và phát triển họi nhập
của HKVN với các Hãng Hàng không trên Thế giới.
* Phương thức nghiên cứu thị trường của ban KHTT với nhiều hình
thức phong phú luôn bám sát thực tế diễn ra một cách nhanh chóng của thị
trường Hàng không như việc nghiên cứu tài liệu và nghiên cứu thị trường,
việc tìm hiểu động cơ cũng như thái độ của khách hàng ngay trên thị trường
qua việc quan sát, tư vấn, hứơng đẫn, tổ chức hội nghị tham khảo ý kiến
khách hàng, tỏ chức các cuộc triển lãm nhằm giới thiệu cũng như quảng bá
sản phẩm của mình…Vì vậy qua từng thời kỳ biến động của thị trường, Ban
KHTT đã lập ra các mô hình cũng như các bảng so sánh thị trường để tiến
hành xác định và thâm nhập thị trường mục tiêu.
* Với một thể thống nhất hợp lý, khi Tổng công ty có ý định xâm
nhập vào một thị trường mới hay đánh giá lại hoạt động, chính sách của
mình trong thời gian tương đối dài trên thị trường nhất định thì điều đầu tiên
phải làm đó là nghiên cứu khái quát thị trường .
- Thứ nhất,xác định thị trường nào là thị trường quan trọng nhất

7
Bình Dương, đã mở rộng mối quan hệ của mình bằng cách ký kết với hãng
Hàng không khác về vấn đề thị trường chung. Và thực tế cho thấy lưu lượng
hành khách và hàng hoá cũng như một số dịch vụ khác đã tăng lên một cách
đáng kể và tăng trung bình hàng năm khoảng 5.2%. Theo số liệu thì doanh
thu ngày càng lớn từ hoạt động mở rộng giao lưu quan hệ Quốc tế của Tổng
công ty đã chứng minh điều này.
* Quy mô cơ cấu và sự vận động của thị trường cũng là một nhân
tố được xác định và phân tích khá kỹ lưỡng.
Qua quá trình nghiên cứu, khảo sát thì từ số liệu thống kê và tin tức thu
thập được đã xác minh thị trường Châu Á vẫn là một thị trường tiềm năng và
đem lại khả năng thu lời cao đối với KHVN.
- Châu Á là khu vực có số dân phát triển nhanh và chiếm tỷ lệ
lớn trong tổng số dân số Thế giới, có môi trường thuận lợi về điều kiện cơ
cấu dân cư trẻ cũng như sự gần gũi về văn hoá giữa các quốc gia.Theo xu thế
gần đây, khi nền kinh tế Châu Á đã thoát khỏi cơn khủng hoảng và đang dần
đi lên với sự ổn định thì chính nó trở thành trung tâm quan trọng về nhiều
mặt mà các khu vực kinh tế khác đang hướng tới. Vì vậy nhu cầu đời sống
của nhân dân được nâng cao rõ rệt, thu nhập bình quân tăng lên dẫn đến nhu
cầu đi lại của người dân càng lớn. Do sự phát triển của nền kinh tế và nhu
cầu cũng như mục đích phong phú trong việc đi lại đã tạo ra tính mùa vụ
trong quá trình kinh doanh của các Hãng Hàng không Quốc gia nói chung và
của Hãng HKQGVN nói riêng. Vào các ngày hội, ngày lễ, thời gian hè, giao
lưu giữa các quốc gia, Khu vực… thì lượng sản phẩm (hay lượng hành khách
và hàng hoá) tăng lên đáng kể. Tổng công ty HKVN có thể cung ứng và đủ
khả năng làm thoả mãn nhu cầu đi lại đó.
- Với một địa hình thuận lợi, điều kiện thời tiết khá lý tưởng
thì việc mở rộng thị trường bằng cách tìm kiếm và nối thêm nhiều mạng
đường bay mới ở tầm ngắn (500Km-1000Km), tầm trung (1000Km-
1500Km) có hiệu quả ở trong tầm tay của Tổng công ty. Qua tìm hiểu, trong

Sân bay Changgi- Singapore- 6tỷ USD (Chinh phục mục
tiêu vận chuyển hành khách đứng thứ 3 khu vực trong năm 2005).
Trong đó đặc biệt chú ý sự phát triển một cách mạnh mẽ của thị trường
hàng không Trung Quốc. Sau khi trở thành thành viên của WTO, Hãng Hàng
không Trung Quốc có kế hoạch khá táo bạo là xây dựng 118 sân bay trong
vòng 15 năm, và với tổng số vốn đầu tư ltrên 15tỷ USD xây dựng nâng cấp
sân bay Quốc tế (một số sân bay đã hoàn thành như sân bay Pudong- Thượng
Hải -1.8 tỷ- 20 triệu khách/ năm…)
Hiện nay, Hãng HKVN dã dầu tư khá nhiều trong việc xây mới cũng
như nâng cấp các sân bay quốc tế nhằm thu hút lượng khách trong nước và
Quốc tế lớn hơn (mặc dù số vốn đầu tư còn thấp).
- Chất lượng phục vụ: So với các Hãng Hàng không lớn trên
Thế giới thì các Hãng Hàng không khu vực Châu Á còn có nhiều hạn chế
trong vấn đề này. Vì vậy trong thời gian qua việc tìm mọi cách nâng cao
chất lượng phục vụ, không ngừng đầu tư váo chính sách hạ tầng để xây dựng
và duy trì sân bay trung tâm ở khu vực trọng điểm là mối quan tâm lớn của
họ. Người ta đều nhận thức được rằng trong cuộc cạnh tranh nhằm bắt kịp
với thị trường du lịch đang không ngừng phát triển ở khu vực Châu Á, các
thành phố lớn không chỉ cạnh tranh trong hoạt động xây dựng những sân bay
lớn hơn, tốt hơn, rẻ hơn mà còn phải đáp ứng một chất lượng phục vụ hoàn
hảo nhất(về đội ngũ tiếp viên, độ an toàn, hình thức giải trí trên không,
phương thức phục vụ ở mặt đất…). Như sân bay quốc tế Incheon-Hàn Quốc
có quy mô lớn gấp 12 lần sân bay Quốc tế Kansai ở Osaka-Nhật Bản và chất
lượng phục vụ cao nên dã thu hút một lượng khách hàng cực lớn bằng cách
giảm chi phí thấp hơn bất kỳ sân bay cũ nào ở Châu Á.
Do chưa sở hữu nhiều máy bay lớn, cơ sở hạ tầng chưa hiện đại, chi phí
tương đối cao nên Hãng HKVN còn hạn chế trong khâu giải trí trên không,
trong thời gian tới hy vọng yêu cầu này sẽ sớm được giải quyết.
- Mức độ an toàn và việc nối chuyến giữa các Quốc gia: Đây
thực sự là vấn đề đáng quan tâm của tất cả các Hãng Hàng không trong giai

Do phần lớn nhu cầu các thị trường bay dịch vụ phụ thuộc vào ngân
sách Nhà nước, khai thác theo mùa vụ và bị ảnh hưởng của thời tiết nên việc
dự báo thị trường này khá khó khăn, Tổng công ty HKVN phải thường xuyên
cập nhật và điều chỉnh dự báo. Có nhiều loại hình bay dịch vụ, song bay thuê
chuyến tìm kiếm cứu nạn, cấp cứu y tế đi và đến Việt nam mang tính Quốc tế
( mặc dù trong điều kiện kinh tế và hệ thống y tế vẫn còn hạn chế) có khả
năng tăng trưởngtừ 2.8% đến 3.2%/ năm. Một số số liệu cụ thể trong 03 năm
1999,2000,2001 về tình hình bay dịch vụ.

Bảng 02: Tình hình bay dịch vụ.
Năm Giờ bay % % so sánh
THKH
1999 920 12 13.2
2000 1030 7.5 8.3
2001 1060 7.8 8.4
Nguồn: Ban KHTT
10
Từ số liệu trên ta nhận thấy giờ bay dịch vụ hàng năm càng tăng.Năm
2000 tỉ lệ giờ bay tăng lên 12% so với năm 1999, và năm 2001 tỉ lệ đó tăng
lên là 6%.
Như vậy với trình độ và khả năng chuyên nghiệp về các lĩnh vực bay
dịch vụ , vừa qua Tổng công ty đã ký kết một số hợp đồng với các hãng
thuộc khu vực Đông Nam Á ( cụ thể : Hãng HK Campuchia, Hãng HK Thai
Lan, Hãng HK Philipin)
2.1.3.2: Thị trường vận tải Hàng không.
Trong những năm gần đây Tổng công ty HKVN đã thường xuyên điều
chỉnh, cập nhật, dự báo daì hạn thị trường vận tải HKVN để phục vụ cho
chiến lược phát triển mở rộng thị trường của mình.
Hàng năm thị trường vận tải Hàng không Quốc tế đi và đến Việt Nam
có mức tăng trưởng từ 9% đến 10% (dự báo trong giai đoạn 2001-2010 sẽ có

1000Km( chiếm gần 50% trong tổng số khách Quốc tế)
Đối với các tuyến bay Quốc tế khu vực tầm ngắn, để phát huy thế mạnh
của mình và biến Việt Nam thành cửa ngõ ra vào của khu vực Đông Dương,
Tổng công ty HKVN đang xây dựng đề án khai thác đường bay giữa 4 nước
tiểu vùng Campuchia- Lao-Mianma-Việt Nam.
11
Từ đó mạng đường bay khai thác bằng tàu bay ngắn Quốc tế khu vực sẽ
được mở rộng. Trong các đường bay tầm ngắn có độ dài dưới 600Km, có
tách ra những đường bay có dung lượng thị trường thấp, cần được khai thác
bằng tàu bay nhỏ hơn để đảm bảo có tần suất và hệ số sử dụng ghế hợp lý
nhằm mục đích giảm chi phí/ hành khách.
Nhận thức đây là thị trường đem lại hiệu quả nhanh và với chi phí thấp
hơn so với việc đầu tư vào thị trường vận tải hành khách khác, Tổng công ty
đã đề ra những chính sách và phương án cụ thể phát triển trong giai đoạn
2000-2010.
Với ưu thế cũng như vai trò trung tâm của thị trường vận tải hành khách
thì tổng số doanh thu đem lại hàng năm là con số đáng quan tâm đối với
Tổng công ty, bởi từ đó có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá, dự báo hợp
lý.
* Thị trường vận tải hàng hoá( tầm ngắn).
Thị trường vận tải hàng hoá tầm ngắn Quốc tế khu vực (Đông
Nam Á, Đông Dương) phù hợp với việc khai thác tàu bay chở hàng có trọng
tải từ 15 tấn đến 20 tấn.
Thị trường này chủ yếu trên các tuyến từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh đi Bangkok, Singapore, Manila, Kualalumpur, Phnompenh, Siêm
Diệp…(và hướng bay ngược lại).
Trong thời gian qua,Tổng công ty HKVN mới thực hiện vận tải hàng
hoá theo phương thức kết hợp với vận chuyển hành khách hoặc mua tải của
các hãng Hàng không, đã có tàu bay chuyên vận tải hàng hoá( thuê ngoài),
ngoại trừ tuyến SGN-MLN sử dụng tàu bay AN-30 của công ty bay dịch vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status