Giải pháp hoàn thiện chiến lược phát triển thị trường dịch vụ vận chuyển hàng hoá QT của Tổng công ty hàng không Việt nam - Pdf 12

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Đề tài:
Trong bối cảnh chủ động hội nhập sâu về kinh tế thương mại với khu vực và
trên thế giới hiện nay, thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp nói chung và các
Tổng công ty nước ta nói riêng là sức cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm
thấp, chậm đổi mới đã đặt ra những yêu cầu vừa cấp thiết, vừa trọng yếu trong ứng
xử dài hạn - ứng xử bằng chiến lược - để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững.
Tổng Công ty Hàng không Việt Nam – Vietnam Airlines Corporation được thành lập
năm 1996. Qua gần 10 năm hoạt động, Tổng công ty đã đạt được những kết quả sản
xuất kinh doanh đáng tự hào, tạo được vị thế và uy tín trên thị trường dịch vụ hàng
không trong nước và quốc tế, đóng góp đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế – xã
hội của đất nước, góp phần tạo dựng hình ảnh nước Việt Nam đổi mới trong con mắt
của khách hàng và công chúng trong và ngoài nước. Tổng Công ty Hàng không Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hoạt động kinh doanh dịch vụ vận
chuyển và đã khẳng định được vị thế của mình trên cả hai lĩnh vực: vận chuyển Hành
khách (Passenger) và vận chuyển Hàng hoá (Cargo).
Vận chuyển hàng hoá đã đóng góp một phần quan trọng vào tăng trưởng
chung của Tổng Công ty. Doanh thu vận chuyển hàng hoá trong những năm qua
chiếm từ 10 đến 13% trên tổng doanh thu của Vietnam Airlines Corporation, khoảng
1.300 tỷ đồng. Bên cạnh những thành công và đóng góp đó, vận chuyển hàng hoá của
Tổng Công ty còn tồn tại hiều hạn chế và bất cập, điển hình là chiến lược phát triển
thị trường được hoạch định chưa đáp ứng sự thay đổi nhanh của môi trường hàng
không quốc tế, chưa phát huy tối đa những lợi thế và hạn chế những khó khăn của
Tổng Công ty. Các giải pháp, kế hoạch thực hiện chiến lược phát triển thị trường
chưa đồng bộ, còn nhiều hạn chế trong phát triển các yếu tố nguồn lực để triển khai
hữu hiệu các mục tiêu chiến lược,…đã làm giảm hiệu quả kinh doanh, giảm tốc độ
tăng thị phần, hạn chế khả năng xâm nhập thị trường mới,…
Với những nhận thức nêu trên, chúng tôi chọn định hướng: “ Một số giải pháp
hoàn thiện chiến lược phát triển thị trường dịch vụ vận chuyển hàng hoá quốc tế
1
của Tổng công ty hàng không Việt nam - Vietnam Airlines Corporation trong xu

định phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
+ Dịch vụ vận chuyển hàng hoá quốc tế của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam.
+ Các số liệu điều tra, dữ liệu khảo sát về dịch vụ vận chuyển hàng hoá của Tổng
Công ty Hàng không Việt Nam chủ yếu từ năm 1999 đến nay và các kết quả dự
báo đến năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác- Lê nin làm nền tảng nghiên cứu; kết hợp với các phương pháp phân
tích, so sánh, điều tra phỏng vấn, phương pháp toán và mô hình hoá các vấn đề
nghiên cứu.
6. Những đóng góp của luận văn:
- Trên cơ sở khái quát hoá các đặc điểm của sản phẩm dịch vụ và thị trường dịch vụ
vận chuyển hàng hoá hàng không, luận văn đã xác lập khái niệm chiến lược phát
triển thị trường, xây dựng mô hình và luận giải nội dung các bước trong hoạch
định và triển khai chiến lược phát triển thị trường dịch vụ vận chuyển hàng hoá
hàng không.
- Lượng giá những nhân tố ảnh hưởng và chỉ ra những bài học kinh nghiệm của
Tổng Công ty Hàng không Việt Nam từ quá trình triển khai chiến lược thị trường
của số hãng hàng không trên thế giới tạo luận cứ cho việc đánh giá và đề xuất các
giải pháp cho Tổng Công ty Hàng không Việt Nam.
- Qua phân tích chi tiết thực trạng triển khai chiến lược thị trường vận chuyển hàng
hoá quốc tế của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam để chỉ ra những hạn chế và
nguyên nhân sinh ra.
- Xác lập các định hướng phát triển và những đề xuất nhằm hoàn thiện chiến lược
phát triển thị trường dịch vụ vận chuyển hàng hoá quốc tế của Tổng Công ty Hàng
3
không Việt Nam và những kiến nghị vĩ mô tạo môi trường và điều kiện trong triển
khai chiến lược của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam đến năm 2010 và tầm
nhìn đến năm 2015.
7. Kết cấu của luận văn: ngoài phần lời nói đầu và mục lục, luận văn được chia

quan hệ giữa nhà vận chuyển với những tài sản hàng hoá của khách hàng, mà quyền
sở hữu những hàng hoá đó vẫn thuộc về khách hàng.
Sản phẩm của kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hoá hàng không là lượng
tải cung ứng, hay lượng hàng hoá có thể được vận chuyển theo những hành trình, thời
gian được định trước. Sản phẩm vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không được
cấu thành bởi nhiều yếu tố như: tải cung ứng, mạng đường bay, ngày giờ bay, thời
gian bay, điểm nối chuyến, thời gian nối chuyến và các sản phẩm bổ trợ khác.
5
Theo Mopuens Lindequard thì sản phẩm vận chuyển hàng hoá đường hàng
không được phân ra thành 3 loại: Sản phẩm chính, Sản phẩm kết hợp và Sản phẩm bổ
trợ.
Sản phẩm chính: được hiểu là lượng tải cung ứng hay lượng hàng hoá được
vận chuyển theo hành trình, thời gian cụ thể từ sân bay giao hàng đến sân bay nhận
hàng. Hàng hoá được tiếp nhận tại Văn phòng của các Hãng hàng không tại sân bay
xuất phát với những tài liệu cần thiết, nhà vận chuyển xuất AWB cho lô hàng và dán
các nhãn mác cần thiết cho mỗi kiện hàng và chất xếp lên máy bay (chất rời hoặc
chất lên các ULD). Sau đó hàng hoá được vận chuyển tới sân bay đến, có thể chuyển
thẳng hoặc có thể quá cảnh qua sân bay nào đó, nhưng trong cả hành trình lô hàng
được vận chuyển riêng bằng đường hàng không.
Sản phẩm kết hợp: là sản phẩm kết hợp giữa vận chuyển bằng đường không
với nhiều loại hình vận tải khác, như kết hợp giữa vận chuyển bằng đường không với
vận chuyển bằng đường bộ và (hoặc) đường thuỷ, nhưng vận chuyển bằng đường
không vẫn là chính và AWB vẫn là chứng từ vận chuyển cho cả quá trình vận
chuyển.
Sản phẩm bổ trợ: để mang lại sự thuận tiện cho khách hàng và đa dạng hoá
sản phẩm, các hãng hàng không có thể sử dụng các sản phẩm bổ trợ để cung cấp cho
khách hàng một sản phẩm hoàn hảo với sự thuận tiện nhất. Sản phẩm đó có có thể là
các sản phẩm:
Door to Airport: nhà vận chuyển sẽ nhận hàng hoá của khách hàng tại kho của
khách hàng, làm các thủ tục vận chuyển kể cả thủ tục Hải quan tại sân bay đi, và

tới một điểm tức là họ mua sản phẩm dịch vụ của hãng đó. Tuy nhiên trước khi
họ mua sản phẩm đó thì họ không thể đo đếm được chất lượng cụ thể của sản
phẩm dịch vụ đó, mà họ chỉ có thể kỳ vọng thông qua những sản phẩm được bán
trước đó hoặc những thông tin về hãng đó. Tức là khách hàng không thể nhìn
thấy, không cầm được sờ được sản phẩm đó.
7
Khi khách hàng mua sản phẩm dịch vụ vận chuyển hàng hoá của một hãng
hàng không họ chỉ tiếp xúc trực tiếp được với người cung cấp dịch vụ khi họ làm các
thủ tục gửi hàng, lúc này họ mới trực tiếp đánh giá được một số chỉ tiêu chất lượng
dịch vụ của hãng vận chuyển như: yếu tố con người (những nhân viên trực tiếp tiếp
nhận hàng hoá), lượng tải cung ứng (lượng hàng được tiếp nhận)…Tuy nhiên suốt cả
quá trình sau đó, từ khâu soi chiếu hàng hoá, phục vụ chất xếp hàng hoá lên máy bay,
vận chuyển tới sân bay đến, dỡ hàng xuống cho đến khi khách hàng nhận lại lô hàng
của mình…thì khách hàng không thể biết được tình trạng lô hàng của mình như thế
nào, chất lượng dịch vụ vận chuyển của hãng vận chuyển trong suốt quá trình đó ra
sao, mà họ chỉ dự đoán và tin tưởng thông qua danh tiếng của hãng đó, qua kết quả
vận chuyển của những lần vận chuyển trước đó hay qua sự giới thiệu của những
người khác….Đây chính là điểm nổi bật thể hiện tính vô hình của sản phẩm dịch vụ
vận chuyển hàng hoá hàng không.
- Tính đồng thời của dịch vụ vận chuyển hàng hoá hàng không (Inseparability):
các sản phẩm dịch vụ không thể tách rời khỏi nguồn cung cấp cho dù đó là con người
hay máy móc. Dịch vụ không thể được hình thành, sản xuất, sau đó mới tiêu thụ mà
quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời. Nếu dịch vụ có nguồn cung
cấp là con người, sự có mặt của người cung cấp là điều tất yếu. Chính đặc trưng này
dẫn đến sự hạn chế đối với hiệu quả của kênh phân phối dịch vụ đó. Người cung ứng
dịch vụ có thể khắc phục hạn chế này bằng cách làm việc với số đông khách hàng
hơn hoặc tìm cách làm giảm thời gian của dịch vụ hoặc mở rộng mạng lưới phân phối
bằng cách đào tạo nhiều người cung ứng dịch vụ hơn.
Tính đồng thời của sản phẩm dịch vụ còn được thể hiện ở sự tham gia của
khách hàng trong các dịch vụ hàng không ngoại trừ trường hợp hàng hoá được người

- Tính không lưu giữ được của dịch vụ hàng không (Perishability): các dịch vụ
không thể được sản xuất trước, sau đó được dự trữ trong kho cho đến khi bán. Trong
điều kiện nhu cầu không thay đổi thì điều này không phải là vấn đề nhưng nếu nhu
cầu biến động thì các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong việc sử dụng cơ sở vật
chất kỹ thuật. Các chuyến bay có thể sử dụng không hết công suất vào ngày thường
9
nhưng vào ngày cao điểm (thường là những ngày đầu tuần) nhu cầu vận chuyển sẽ
tăng lên, có nhiều người đặt chỗ hơn đòi hỏi tần suất cũng như tải cung ứng vào
những ngày này cao hơn.
Khi cung cấp một lượng tải nhất định trên một đường bay cụ thể, nếu lượng
tải đó không được bán hết khi chuyến bay cất cánh thì phần tải thừa đó cũng không
thể lưu kho được để bán vào chuyến bay tiếp theo. Đó chính là tính không lưu giữ
được của sản phẩm dịch vụ vận chuyển hàng hoá hàng không. Để khắc phục hiệu quả
khó khăn này cho các nhà cung cấp dịch vụ, cần phải có dự báo thị trường chính xác,
phát động bán tốt để tránh hiện tượng dư thừa hay thiếu hụt, giữ uy tín với khách
hàng.
1.1.3 Thị trường dịch vụ vận chuyển hàng hoá hàng không
1.1.3.1 Thị trường
Thị trường là phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hoá, là một khâu
của quá trình tái sản xuất được mở rộng cùng với sự mở rộng của sản xuất và lưu
thông hàng hoá, dịch vụ. Hàng hoá được bán ra tại không gian và thời gian nhất định
trên thị trường. Sản xuất sáng tạo ra các thuộc tính hàng hoá của sản phẩm và được
xác định để bán vì vậy tạo lập nguồn cung; ở khách hàng tồn tại thu nhập dưới hình
thái tiền tệ và trở thành nguồn cầu. Sự vận động và đồng quy của cung và cầu phát
sinh giá được thể hiện tập trung trong các hoạt động mua bán hàng hoá bằng tiền tệ ở
những thời gian, không gian, đối tượng, phương thức khác nhau, tạo ra khái niệm “thị
trường”.
Theo định nghĩa sơ khai thì thị trường được coi là một địa điểm nhất định tại
đó các hoạt động trao đổi mua bán được hình thành, ví dụ như cửa hàng, chợ . . . cơ
sở làm nảy sinh thị trường là nhu cầu sử dụng vật phẩm được đáp ứng dựa trên sự

một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi với dịch vụ văn minh.
- Thúc đẩy nhu cầu đưa đến cho khách hàng những sản phẩm mới. Nó kích
thích sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao và gợi mở nhu cầu hướng tới các hàng hoá
chất lượng cao, văn minh và hiện đại.
- Dự trữ các hàng hoá phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội, giảm bớt dự trữ ở
các khâu tiêu dùng, đảm bảo việc điều hoà cung cầu.
11
- Phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá
nhân ngày càng phong phú, đa dạng và văn minh.
- Thị trường hàng hoá, dịch vụ ổn định có tác dụng to lớn để ổn định sản xuất,
ổn định đời sống nhân dân.
1.1.3.2 Thị trường dịch vụ vận chuyển hàng hoá hàng không.
Theo IATA, thị trường vận chuyển hàng hoá hàng không giữa hai điểm bất kỳ
là hàng hoá thực tế và tiềm năng, đang hoặc có thể được vận chuyển bằng các
chuyến bay thương mại. Đối với thị trường vận tải quốc tế thì hai điểm mà hãng hàng
không khai thác nằm trên hai nước hay vùng lãnh thổ độc lập với nhau.
Dịch vụ vận chuyển hàng hoá hàng không được tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu
chuyên chở của con người như nhu cầu buôn bán, triển lãm, hội trợ. . . Chính nhu cầu
vận chuyển trên đã tạo ra thị trường vận chuyển hàng hoá hàng không và về cơ bản
thị trường này có những đặc điểm chung như đối với các thị trường vận tải khác:
- Thị trường vận chuyển hàng hoá hàng không cung ứng một dịch vụ đặc biệt
mang tính đồng nhất cao; hoạt động tạo ra sản phẩm dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn
ra đồng thời. Dịch vụ này không thể cất trữ để dự trữ hay để điều chỉnh theo sự thay đổi
của nhu cầu thị trường mà chỉ xuất hiện ở các địa điểm và thời điểm có nhu cầu cần phải
đáp ứng. Chất lượng dịch vụ tuỳ thuộc vào Hãng hàng không cung ứng, thời gian và
địa điểm cung ứng. Do đó, đối với thị trường vận chuyển hàng hoá hàng không, các
hãng thường phải đầu tư huấn luyện cho nhân viên và đánh giá mức độ hài lòng của
khách hàng thông qua việc thăm dò ý kiến, hệ thống thư khiếu nại và góp ý để phát
hiện những trường hợp phục vụ không đạt yêu cầu để điều chỉnh kịp thời.
- Đối với thị trường vận chuyển hàng hoá hàng không, mục đích của việc tạo ra

a) Cung trên thị trường
Cung là số lượng hàng hoá và dịch vụ và người bán có khả năng bán và sẵn
sàng bán ở mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định. Đối với thị
trường vận chuyển hàng hoá hàng không thì cung thường được thể hiện thông qua số
tải thương mại mà các hãng hàng không cung ứng. Nó thường được tính bằng lượng
tải cung ứng, hay lượng hàng hoá có thể được vận chuyển theo những hành trình, thời
gian được định trước.
13
Số lượng dịch vụ được cung ứng ra trên thị trường trong khoảng thời gian
nhất định tuân thủ theo quy luật cung. Tức là khi giá cả tăng lên thì lập tức các hãng
hàng không sẽ gia tăng số lượng dịch vụ cung ứng do lợi nhuận cá biệt tăng lên, cung
tăng trong điều kiện cầu không đổi dẫn đến giá cả giảm xuống đến mức cân bằng
mới.
Cung của hàng hoá trên thị trường nói chung được hình thành từ phía các hãng
hàng không. Khi các hãng gia tăng lượng dịch vụ cung ứng như tăng tần suất, sử
dụng loại máy bay lớn hơn. . . thì lượng cung lớn và ngược lại. Tuy nhiên, đối với
ngành hàng không thì cung trên thị trường còn bị giới hạn bởi các rào cản pháp lý
như hiệp định ký kết giữa các nước với nhau thường qui định rõ về tải thương mại
cung ứng trong một thời gian nhất định. Mặc dù với xu thế tự do hoá như hiện nay thì
ảnh hưởng của yếu tố pháp lý đến cung ngày càng giảm bớt nhưng đối với đa số các
nước thì cung của dịch vụ vận tải hàng không vẫn bị giới hạn bởi các qui định giữa
các nước.
Cung của dịch vụ vận tải hàng không trên thị trường bị tác động bởi các yếu
tố sau:
- Phụ thuộc vào giá cả của các yếu tố đầu vào: Giá cả càng cao thì sẽ càng làm
giảm lượng cung. Điều này có thể thấy được khi cuộc khủng hoảng năng lượng vào
những năm ’70 làm giá dầu tăng cao buộc các hãng hàng không phải cắt giảm các
chuyến bay nhằm hạn chế thua lỗ.
- Phụ thuộc vào giới hạn khả năng của nền kinh tế: do sự giới hạn của các
nguồn lực mà khả năng của một nước dành cho hoạt động hàng không cũng chỉ có

xếp, thời gian bay.
Quá trình hình thành cầu thị trường vận tải quốc tế rất phức tạp và nó chịu ảnh
hưởng lớn vào các nhân tố sau:
- Động cơ của khách hàng: Đây là các nhân tố tác động trực tiếp đến quy mô,
cơ cấu và hình thức của nhu cầu. Nói chung, khách hàng lựa chọn một dịch vụ nào đó
bao giờ cũng xuất phát từ động cơ nào đó mà ở đây chủ yếu là mong muốn của họ.
- Tác nhân môi trường của khách hàng: Tác nhân này được thực hiện ở nhóm
bạn bè trao đổi của khách hàng, cơ cấu gia đình, tầng lớp xã hội và trình độ văn hoá
của họ.
15
- Tác nhân bên cung ứng dịch vụ là các hãng hàng không: thường tác động trực
tiếp đến chất lượng, chức năng của dịch vụ cung ứng, giá cả của dịch vụ hiện tại và
tương lai, giá cả của dịch vụ thay đổi thế mạnh cạnh tranh,… các biện pháp và hiệu
quả tiếp thị.
- Tác nhân chủ quan của khách hàng: Đó là hàng loạt các tác nhân phải kể đến
như: mức thu nhập và khả năng kinh tế của họ, lứa tuổi, giới tính dân tộc, tôn giáo
địa phương nghề nghiệp, tính tình, thời gian của họ, kỳ vọng của khách hàng.
- Các tác nhân của môi trường lớn: Đó là cơ chế quản lý kinh tế, là các quan hệ
đối ngoại của đất nước, sức mua của đồng tiền, sự ổn định của chế độ xã hội.
Các tác nhân luôn biến động do đó cầu thị trường luôn thay đổi theo những
điều kiện chuyên biệt.
c) Giá cả
Giá cả dịch vụ là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị dịch vụ trên thị trường. Giá
cả dịch vụ thay đổi xung quanh giá trị của nó và được hình thành nên bởi tác động
của quy luật cung, cầu và một số các nhân tố khác như: qui luật lưu thông tiền tệ, giá
trị thực tế của đồng tiền sử dụng làm phương tiện thanh toán trên thị trường và sự
cạnh tranh của các doanh nghiệp cung ứng loại dịch vụ đó.
Đối với vận tải hàng hoá hàng không quốc tế, Hiệp hội hàng không quốc tế
(IATA) đã xây dựng nên một khung giá chung cho các đường bay của các hãng hàng
không. Mức giá này được các hãng hàng không tham gia hiệp hội chấp nhận và áp

hãng thường tập trung vào những chi phí có thể kiểm soát được: việc thanh toán, tổng
chi phí chung, chi phí bảo dưỡng,… ở mức độ thấp nhất để có thể phản ứng lại chính
sách giá cả của đối thủ cạnh tranh.
d) Cạnh tranh
Sự tự do trong sản xuất kinh doanh với nhiều đối tượng tham gia là nguồn gốc
của sự cạnh tranh. Bất cứ ai tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đều phải
tham gia vào cuộc cạnh tranh kinh tế. Cạnh tranh về mặt kinh tế khác hẳn với sự cạnh
tranh để đoạt một giải thưởng. Đó là một cuộc chạy “maratông kinh tế” không có
đích cuối cùng, ai cảm nhận thấy đích, người đó trở thành nhịp cầu cho các đối thủ
vượt lên phía trước. Đó là sự cạnh tranh về mặt chất lượng, hiệu quả, về giá cả, về
17
dịch vụ phục vụ khách hàng giữa người mua và người bán, giữa những người mua và
những người bán với nhau.
Một đặc điểm của dịch vụ vận tải hàng không là mức độ tiêu chuẩn hoá cao,
sự hoàn hảo về dịch vụ tương đối đồng đều, trong khi sự khác biệt về sản phẩm trong
vận chuyển hàng không rất nhỏ đã đẫn đến việc mức độ cạnh tranh giữa các hãng
hàng không là rất lớn. Các hãng hàng không cạnh tranh với nhau đa số là các hãng
mạnh có kinh nghiệm, có tiềm lực về mặt tài chính nên chấp nhận cạnh tranh với
nhau trên mọi lĩnh vực và giá cả là phương tiện hay được sử dụng nhất.
1.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN
HÀNG HOÁ HÀNG KHÔNG.
1.2.1 Khái niệm và mô hình chiến lược phát triển thị trường dịch vụ vận
chuyển hàng hoá hàng không
1.2.1.1Khái niệm
Theo Alfred Chandler, “Chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản
dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và
phân bổ các tài nguyên để thực hiện mục tiêu đó”.
Raymond Alain khái niệm “Chiến lược là tổng thể các quyết định, các hành
động liên quan tới việc lựa chọn các phương tiện và phân bổ nguồn lực nhằm đạt
được một mục tiêu nhất định”.

nhất định và đó là công việc của các quản trị viên cấp cao. Hiện nay, quá trình quản
trị chiến lược là một quá trình thường xuyên, liên tục và đòi hỏi sự tham gia của tất
cả các thành viên trong doanh nghiệp. Nhìn chung, chiến lược phát triển thị trường
dịch vụ được quản trị theo mô hình sau (Bảng 1.1):
19
Bảng 1.1: Mô hình chiến lược phát triển thị trường
dịch vụ vận chuyển hàng hoá hàng không
Phân tích tình thế và thời cơ
chiến lược phát triển thị trường
Nhân tố môi
trường vĩ mô
Nhân tố môi
trường trực
tiếp
Nhân tố môi
trường nội tại
Thời cơ và đe doạ Điểm mạnh,
điểm yếu
1.2.2 Các bước xây dựng chiến lược phát triển thị trường dịch vụ vận chuyển
hàng hoá hàng không.
1.2.2.1 Phân tích tình thế, thời cơ, chiến lược thị trường dịch vụ vận chuyển hàng
hoá hàng không
20
Xác đinh mục tiêu phát triển thị trường
Lựa chọn đoạn thị trường dịch vụ
vận chuyển hàng hoá hàng không
Đánh giá và lựa chọn chiến lược
phát triển thị trường đạt mục tiêu
Tổ chức triển khai chiến lược phát triển thị
trường

Yếu tố văn hóa xã hội: Yếu tố văn hóa xã hội ảnh hưởng đến hoạt động của
các doanh nghiệp trong nền kinh tế, bao gồm các khía cạnh chủ yếu như: quy mô dân
số, thu nhập bình quân, truyền thống dân tộc, tập quán tiêu dùng...Yếu tố văn hoá xã
hội cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển văn hoá doanh nghiệp, quyết
định bản chất văn hoá doanh nghiệp và tư tưởng chủ đạo trong triết lý kinh doanh của
từng doanh nghiệp.
Yếu tố công nghệ: sự phát triển, những đột phá trong lĩnh vực khoa học và kỹ
thuật trên thế giới đã cho ra đời nhiều công nghệ mới, mới tác động mạnh mẽ đến đời
sống kinh tế xã hội của nhiều quốc gia trên phạm vi toàn cầu, chúng vừa là cơ hội
vừa là nguy cơ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Yếu tố này trở nên
đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp thuộc ngành hàng không, lĩnh vực mà
khoa học công nghệ chiếm vị trí hết sức then chốt trong quá trình hoạt động và phát
triển của mình.
21
Yếu tố môi trường kinh doanh quốc tế: trong quá trình mở cửa và hội nhập với
các nước trong khu vực và trên thế giới, mọi biến động trong môi trường kinh doanh
quốc tế đều có tác động đến doanh nghiệp: việc ký Hiệp định thương mại Việt-Mỹ,
các hiệp định thương mại song phương, đa phương với các nước trong khu vực và dự
kiến trong năm 2005, Việt Nam sẽ gia nhập WTO đã đặt các doanh nghiệp Việt nam
nói chung và các doanh nghiệp thuộc ngành hàng không nói riêng vào cuộc cạnh
tranh thực sự mà không còn sự bảo hộ của nhà nước như trước đây. Nó có thể đem
lại những cơ hội đối với các doanh nghiệp, tuy nhiên nó cũng có thể đem lại nguy cơ
mất thị trường đối với nhiều doanh nghiệp.
b) Phân tích các yếu tố thuộc môi trường trực tiếp
Môi trường trực tiếp bao gồm các yếu tố trong ngành hàng không và là các
yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động
của doanh nghiệp theo các mức độ khác nhau. Môi trường trực tiếp bao gồm 5 yếu tố
cơ bản sau:
Yếu tố khách hàng: Đây là đối tượng có ảnh hưởng rất mạnh trong các chiến
lược kinh doanh, nó quyết định sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

giá trị lợi ích mà họ nhận được thông qua tương quan giá cả-chất lượng. Đối với dịch
vụ vận chuyển hàng hoá hàng không thì sản phẩm thay thế chính là các dịch vụ vận
chuyển đường bộ, đường sắt, đường thuỷ.
c) Phân tích các yếu tố môi trường nội tại.
Yếu tố con người: Con người là cốt lõi trong mọi hoạt động của doanh nghiệp
hàng không. Mọi quyết định liên quan đến quá trình quản trị chiến lược đều do con
người quyết định. Khả năng cạnh tranh trên thị trường mạnh hay yếu, văn hoá tổ
chức tốt hay chưa tốt,...đều xuất phát từ con người. Vì vậy, con người là yếu tố đầu
tiên trong các nguồn lực mà các nhà quản trị cần phải xem xét, phân tích để quyết
định nhiệm vụ, mục tiêu và những giải pháp cần thực hiện.
Khả năng tài chính: thể hiện ở khả năng thanh toán, tổng lượng vốn, cơ cấu
vốn, khả năng huy động vốn, tốc độ chu chuyển vốn, hiệu quả đầu tư vốn và quản lý
23
vốn. Khả năng tài chính có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Đối với ngành hàng không - ngành đòi hỏi đầu tư lớn và không ngừng tái đầu
tư, mở rộng phạm vi kinh doanh để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa
học công nghệ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng - thì vốn và tài sản là
một trong những nguồn lực cực kỳ quan trọng.
Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật: Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành hàng không
bao gồm những yếu tố như: đội bay, thiết bị xếp dỡ hàng hoá, máy móc thiết bị,
xưởng bảo dưỡng sửa chữa,…Cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ hiện đại sẽ làm tăng tỷ
lệ an toàn, giảm tỷ lệ lỗi dịch vụ, thời gian; là điều kiện cơ bản để nâng cao năng suất
và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Các lợi thế về cơ sở vật chất kỹ thuật không chỉ làm
giảm chi phí mà còn sáng tạo ra sản phẩm mới với những tính năng sử dụng tốt hơn
thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Yếu tố tổ chức quản lý: Công tác tổ chức quản lý đóng vai trò quan trọng trong
việc hoạch định các chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trên
cơ sở kết hợp hợp lý giữa chuyên môn hoá theo chức năng và hợp tác hoá theo mục
tiêu, tối đa hoá hiệu lực vận hành kinh doanh, phân định tường minh nghiệp vụ của
các nhóm, các bộ phận chức năng, các tuyến lao động trong trật tự tổ chức hệ thống

tính khả thi và tính hữu hiệu khả thi.
Các nguyên tắc phân đoạn thị trường: Trên lý thuyết, bất kỳ đặc tính nào của
tập khách hàng tiềm năng trên thị trường đều có thể dùng làm nguyên tắc để phân
đoạn thị trường đó. Song những nguyên tắc thường được sử dụng là: vùng địa lý, dân
số, hành vi ứng xử,... Một số nguyên tắc cơ bản thường được vận dụng trong phân
đoạn thị trường dịch vụ vận tải hàng hoá hàng không là:
- Phân đoạn thị trường theo nguyên tắc địa lý: thị trường được chia cắt thành
những đơn vị địa lý khác nhau như: Châu lục, khu vực, quốc gia, vùng..
- Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học: thị trường được chia thành các nhóm
trên căn bản các biến số nhân khẩu học: thu nhập, tuổi tác, tôn giáo, quốc tịch,...
Các biến số nhân khẩu học là các nguyên tắc phổ biến nhất để phân biệt các nhóm
khách hàng.
25

Trích đoạn Phân đoạn thị trường dịch vụ vận chuyển hàng hoá hàng không: Chiến lược định vị dịch vụ vận chuyển hàng hoá đối với thị trường trọng điểm Chiến lược phát triển thị trường theo chiều rộng: Về chính sách sản phẩm: Về chính sách giá:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status