BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
Đề tài: Hoàn thiện chiến lược phát triển thị trường của
tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội Hanosimex
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế hội nhập và mở cửa thì các doanh nghiệp phải đối đầu
với vô vàn các khó khăn. Và chiến lược phát triển thị trường cũng là một khâu
đặc biệt quan trọng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Các doanh
nghiệp Dệt may Việt Nam đang thực sự hội nhập vào cơ chế thị trường thế
giới lắm cơ hội và đầy thách thức, trong điều kiện không còn sự hỗ trợ của
nhà nước. Với Tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội thì chiến lược phát triển
thị trường sản phẩm là khâu có vị trí ưu tiên. Trong thời gian qua em đã thực
tập và tiếp thu những kinh nghiệm thực tế tại phòng kinh doanh của Tổng
công ty cổ phần Dệt may Hà Nội, cùng với những kiến thức học được tại
trường đại học KTQD em đã chọn đề tài: Hoàn thiện chiến lược phát triển thị
trường của Tổng công ty cổ phần đệt may Hà Nội để làm chuyên đề thực tập.
Chuyên đề thực tập có 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về chiến lược phát triển thị trường.
Phần 2: Thực trạng hoạt động phát triển thị trường của tổng công ty
Hanosimex.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược phát triển thị
trường của Tổng công ty Hanosimex
CHƯƠNG I
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 1 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
1. Một số khái niệm cơ bản về tiêu thụ sản phẩm, thị trường:
Nghĩa hẹp, tiêu thụ là quá trình chuyển giao hàng hoá cho khách hàng và
nhận tiền từ họ. Theo đó người có cầu tìm người có cung hàng hoá tương ứng
hoặc người có cung hàng hoá tìm người có nhu cầu hàng hoá. Hai bên thương
lượng và thoả thuận về điều kiện mua và bán. Khi hai bên thống nhất người
bán trao hàng và người mua trả tiền. Quá trình mua bán hàng hoá kết thúc tại
bán, nhấn mạnh vai trò của người mua, người bán. Nhưng đã nói đến thị
trường là phải nói đến yếu tố sau:
+ Một là: Phải có khách hàng, không nhất thiết phải gắn với địa điểm xác
định
+ Hai là: Khách hàng phải có nhu cầu chưa được thoả mãn. Đây chính là
cơ sở thúc đẩy khách hàng mua hàng hoá và dịch vụ.
+ Ba là: Khách hàng phải có khả năng thanh toán, tức là khách hàng phải
có khả năng trả tiền để mua hàng hoá.
Thị trường có thể có nhiều cách thức và góc độ khác nhau được sử dụng
để mô tả. Sự khác nhau khi sử dụng các tiêu thức mô tả và phân loại thị
trường của doanh nghiệp thường được xuất phát từ những mục tiêu nghiên
cứu và nhiệm vụ cần giải quyết. Với mục tiêu nghiên cứu thị trường để tìm ra
giải pháp phát triển thị trường thì doanh nghiệp cần phải xem xét thị trường
của mình theo tiêu thức tổng quát. Theo tiêu thức này, thị trường của doanh
nghiệp bao gồm: Thị trường đầu vào và thị trường đầu ra.
Việc nghiên cứu thị trường đầu vào là quan trọng và đặc biệt có ý nghĩa
đối với sự ổn định và hiệu quả của nguồn cung cấp nguyên vật liệu, hàng hoá
và dịch vụ cho doanh nghiệp cũng như khả năng hạ giá thành và nâng cao
chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Nhưng do xuất phát từ phạm vi
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 3 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
nghiên cứu của đề tài này thì thị trường đầu ra nên chúng ta chỉ tập trung vào
cách thức phân loại theo thị trường đầu ra.
Thị trường đầu ra liên quan trực tiếp đến mục tiêu của Marketing là giải
quyết vấn đề tiêu thụ sản phẩm của công ty. Để mô tả thị trường tiêu thụ sản
phẩm của công ty, có thể sử dụng riêng biệt hoặc kết hợp ba tiêu thức cơ bản:
sản phẩm, địa lí và khách hàng.
2. Vai trò và tầm quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm, phát
triển thị trường của doanh nghiệp:
- Tiêu thụ hàng hoá giúp doanh nghiệp kết thúc một vòng luân chuyển
cơ bản sau:
- Chức năng thừa nhận: Đối với doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm mà họ
làm ra phải được bán, còn đối với các doanh nghiệp thương mại cũng vậy.
Doanh nghiệp thương mại mua hàng hoá về cũng là để bán, nhưng sản phẩm,
hàng hoá có bán được hay không là phải thông qua chức năng thừa nhận của
thị trường. Nếu hàng hoá bán được tức là đã được thị trường thừa nhận, doanh
nghiệp mới thu hồi được vốn để trang trải chi phí và có lợi nhuận. Ngược lại,
nếu hàng hoá đưa ra bán mà không có ai mua, tức là không được thị trường
thừa nhận, doanh nghiệp sẽ dần di đến chỗ phá sản. Để được thị trường thừa
nhận, trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải nghiên cứu
kỹ nhu cầu của khách hàng về sản phẩm, hàng hoá mà mình sẽ cung ứng ra
thị trường.
- Chức năng thực hiện: Qua tiêu thụ, hàng hoá được chuyển từ hình thái
hiện vật sang hình thái giá trị. Sản phẩm là ra được tiêu thụ thì tính chất hữu
ích của sản phẩm mới được xác định. Khi đó, giá trị và giá trị sử dụng mới
được thực hiện. Chức năng này đòi hỏi hàng hoá và dịch vụ phải được thực
hiện trao đổi hoặc bằng tiền hoặc bằng hàng, bằng các chứng từ có giá trị
khác. Người bán hàng cần tiền, còn người mua cần hàng. Sự gặp gỡ này được
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 5 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
xác định bằng giá hàng, hàng hoá bán được tức là có sự dịch chuyển hàng hoá
từ người bán sang người mua.
- Chức năng điều tiết và kích thích: Qua hành vi trao đổi hàng hoá và
dịch vụ trên thị trường, thị trường điều tiết và kích thích này luôn điều tiết sự
gia nhập hoặc rút lui khỏi ngành của một số doanh nghiệp. Nếu hàng hoá dịch
vụ bán hết nhanh sẽ kích thích doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động sản xuất,
tạo ra nguồn hàng, thu mua hàng hoá để cung ứng ngày càng nhiều hơn cho
thị trường. Ngược lại nếu hàng hoá và dịch vụ không bán được, doanh nghiệp
sẽ hạn chế sản xuất, hạn chế mua, phải tìm khách hàng mới, thị trường mới
hoặc chuyển hướng kinh doanh mặt hàng khác đang hoặc sẽ có khả năng có
Chức năng của doanh nghiệp thương mại là mua để bán: mua của nhà
sản xuất và bán cho khách hàng. Khi sản phẩm của nhà sản xuất được lưu
thông trên thị trường thông qua sự tham gia của nhà thương mại, các yếu tố
cấu thành viên sản phẩm mà người tiêu thụ được.
Xuất phát từ các bộ phận cấu thành nên sản phẩm của doanh nghiệp
thương mại, chiến lược và chính sách phát triển sản phẩm của doanh nghiệp
này bao gồm hai bộ phận cơ bản.
Thứ nhất, phát triển các sản phẩm hiện vật trong danh mục kinh doanh
buôn bán hàng hoá của doanh nghiệp. Các sản phẩm này có nguồn chế tạo bởi
các nhà sản xuất – là sản phẩm của nhà sản xuất. Dưới con mắt khách hàng,
mặc dù họ nhận được nó từ nhà thương mại, nhưng bộ phận này của sản phẩm
không được xem là sản phẩm theo hướng này, doanh nghiệp thương mại cần
tăng cường các hoạt động tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn sản phẩm mới được
chế tạo bởi nhà sản xuất để đưa vào danh mục hàng hoá kinh doanh của mình.
Thứ hai, phát triển sản phẩm - phát triển các dịch vụ liên quan đến khả
năng thoả mãn đồng bộ nhu cầu khách hàng từ sản phẩm hiện vật mà doanh
nghiệp kinh doanh. Trong trường hợp này, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả về hoàn thiện các hoạt động nghiệp vụ thu mua, tạo nguồn, vận chuyển,
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 7 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
dự trữ, đồng bộ, phương thức bán hàng, phương thức thanh toán… nhằm thoả
mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng chính là các nội dung cơ bản nhằm phát
triển sản phẩm của doanh nghiệp thương mại.
3.2. Phát triển khách hàng:
Hiểu biết đầy đủ về khách hàng, nhu cầu và cách thức mua sắm của họ là
một trong những cơ sở quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến khả năng lựa
chọn đúng cơ hội kinh doanh và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của doanh
nghiệp trong hoạt động thương mại để mở rộng và phát triển thị trường. Nội
dung phát triển khách hàng trước hết phải nghiên cứu nhu cầu của khách hàng
cũng như tìm hiểu các thông tin cần thiết về khách hàng và cách thức ứng xử
Kênh phân phối trực tiếp là dạng kênh mà trong đó doanh nghiệp không
sử dụng người mua trung gian để phân phối hàng hoá. Lực lượng bán hàng
của doanh nghiệp chịu trách nhiệm trực tiếp bán hàng đến tận người sử dụng
hàng hoá.
Kênh phân phối gián tiếp là kênh phân phối mà trong đó doanh nghiệp
“bán” hàng của mình cho người sử dụng thông qua người mua trung gian.
Tuỳ theo từng trường hợp, khách hàng trực tiếp của doanh nghiệp là nhà bán
buôn hay nhà bán lẻ. Doanh nghiệp không trực tiếp bán hàng cho người sử
dụng hàng hoá.
Kênh phân phối hỗn hợp là một sự lựa chọn kênh phân phối trên cơ sở sử
dụng đồng thời cả hai dạng kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp. Doanh
nghiệp vừa tổ chức bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng, vừa khai thác
lợi thế trong hệ thống phân phối của người mua trung gian.
Để thiết kế hệ thống kênh phân phối hợp lí nhằm ổn định và phát triển thị
trường thì doanh nghiệp cần phải nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến sự lựa chọn kênh phân phối, xác định dạng kênh và phương án kênh phân
phối, lựa chọn và phát triển các phần tử trong kênh, điều chỉnh hệ thống kênh
phân phối.
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 9 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
3.4. Đa dạng hoá kinh doanh:
Kinh doanh đa dạng hoá cũng giống như kinh doanh tổng hợp là doanh
nghiệp tổ chức kinh doanh nhiều mặt hàng cùng một lúc nhưng có sự khác
nhau giữa chúng là kinh doanh đa dạng hoá vừa thực hiện nhiệm vụ sản xuất,
vừa bán hàng, vừa thực hiện cả dịch vụ. Đa dạng hoá kinh doanh có ưu điểm
là phát triển thị trường, tăng doanh số bán hàng và nâng cao uy tín của doanh
nghiệp trên thị trường đồng thời kinh doanh đa dạng hoá cũng góp phần phân
tán rủi ro trong kinh doanh. Tuy nhiên nó có nhược điểm là nếu đa dạng hoá
mà không có ngành hàng chuyên môn hoá thì sự phát triển này không chắc
chắn. Để phát huy những ưu điểm, kinh doanh đa dạng hoá đòi hỏi phải có
doanh đơn ngành cũng như đối với các cơ sở trong đơn vị kinh doanh đa
ngành. Chiến lược phải làm rõ là đơn vị tham gia cạnh tranh như thế nào.
Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh có mức độ quan trọng như nhau đối với y
các đơn vị kinh doanh đơn ngành và từng đơn vị riêng biệt trong đơn vị kinh
doanh đa ngành. Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh dựa trên tổ hợp các chiến
lược khác nhau ở các bộ phận chức năng. Đối với nhiều hãng, chiến lược
marketing là trung tâm, đóng vai trò liên kết cùng với các chức năng khác, đối
với một số hãng thì vấn đề sản xuất hoặc nghiên cứu phát triển có thể được
chọn là chiến lược trung tâm. Mỗi chiến lược cấp cơ sở cần phù hợp với chiến
lược cấp công ty và chiến lược cấp cơ sở khác nhau của công ty.
Như vậy có thể nói chiến lược là phương thức mà các doanh nghiệp, các
công ty sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được thành công.
4.2. Vai trò của chiến lược phát triển thị trường:
Chiến lược phát triển thị trường của công ty là việc công ty định hướng
phát triển thị trường cho tương lai bằng các mục tiêu chiến lược mang tính
chất dài hạn về việc tập trung nhu cầu của khách hàng, đáp ứng nhu cầu của
khách hàng cả về thời gian lẫn sản phẩm và đưa ra các giải pháp cơ bản để
thực hiện các mục tiêu chiến lược đề ra.
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 11 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
Chiến lược phát triển thị trường nhằm đáp ứng chuỗi nhu cầu của khách
hàng: Các cách phân đoạn thị trường thường xuyên thay đổi, các lực lượng
môi trường cũng thường xuyên thay đổi ý thích của khách hàng, thay đổi tính
có ích của nhiều loại sản phẩm và thay đổi thứ tự ưu tiên của các loại hàng
hoá khi mua. Như ta biết là có hai kiểu phân chia thị trường: Kiểu thứ nhất
theo mục tiêu hay ý muốn của khách hàng; kiểu thứ hai theo khả năng bao
quát thị trường của công ty. Tương ứng như vậy các phân đoạn thị trường
cũng trải qua hai kiểu thay đổi cơ cấu. Một kiểu do thay đổi theo thời gian
trong các mục tiêu của khách hàng, còn kiểu kia lại do những thay đổi hoặc
về mặt địa lí hoặc về mặt dân cư, trong sự phân bổ cơ cấu những người tiêu
nghiệp không chỉ mua hàng hoá rồi bán ngay chính hàng hoá đó để kiếm lợi
như các doanh nghiệp thương mại thuần tuý, mà các doanh nghiệp thương
mại thuần tuý, mà các doanh nghiệp mua các hàng hoá, chế biến chúng, sau
đó mới bán các sản phẩm đã qua chế biến. Như vậy, hoạt động tiêu thụ của
doanh nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng của hoạt động mua, mà còn chịu ảnh
hưởng của quá trình sản xuất của chính doanh nghiệp và các hoạt động khác.
5.1. Yếu tố thị trường:
Có thể nói rằng đây là yếu tố ảnh hưởng nhất đến quá trình tiêu thụ sản
phẩm của các doanh nghiệp. Việc tìm hiểu chính xác nhu cầu thị trường sẽ
xác định nhu cầu thị trường cần khối lượng là bao nhiêu, chất lượng như thế
nào, màu sắc, mùi vị, hình dáng, kích thước… Đây là thị trường và khách
hàng của doanh nghiệp. Từ nhu cầu về hàng hoá đã được xác định ở hoạt
động này, các doanh nghiệp lên kế hoạch và sản xuất. Do các sản phẩm sản
xuất xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường nên việc tiêu thụ sản phẩm
cũng là tương đối dễ dàng.
Để tìm hiểu được chính xác nhu cầu của thị trường doanh nghiệp cần tìm
hiểu những vấn đề sau:
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 13 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
+/ Thị hiếu thói quen của người tiêu dùng.
+/ Thu nhập.
+/ Số tiền mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho sản phẩm và dịch vụ đó
trên tổng thu nhập.
+/ Văn hoá tiêu dùng
5.2. Yếu tố đầu vào:
* Vốn: Vốn điều lệ và vốn tự có của doanh nghiệp. Liệu số vốn của
doanh nghiệp có trong tay có đủ để sử dụng khi cần không. Để không phải nói
rằng “ Cái khó bó cái khôn”. Thường thì vốn chính là cái “Cần câu” để người
câu “kiếm sống” nhất là đối với hoàn cảnh hiện nay của nước ta - nền kinh tế
thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Có vô số kẻ mua người bán, có thể nói rằng
nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cho ngành công nghiệp nước nhà.
Hiện nay, lao động cung cấp cho các doanh nghiệp vẫn dựa trên 2 kênh
chính là hệ thống giáo dục phổ thông và đào tạo tại chỗ trong công việc để có
được kiến thức, kỹ năng tương ứng với hoàn cảnh sử dụng lao động đó.
Không thể phủ nhận được tình trạng lao động thiếu kỹ năng trong tổng số lao
động ở nước ta, tỷ lệ này khá lớn trong ngành công nghiệp (63% lao động
thiếu kỹ năng, 33% có tay nghề chưa thành thạo) cả nước mới có khoảng 30%
lực lượng lao động qua đào tạo có kiến thức, nghĩa là có sự thiếu hụt gay gắt
về lực lượng lao động được đào tạo cơ bản, có tay nghề “cứng” để đáp ứng
cho nền công nghiệp hiện đại, tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam trong
tương lai.
Một vấn đề quan trọng đặc biệt có tác động không nhỏ đến chiến lược
kinh doanh là cơ chế quản lý doanh nghiệp và năng lực của đội ngũ cán bộ
quản lý. Đội ngũ cán bộ quản lý DNNN thường xuyên được tập huấn, đào tạo
và có trình độ học vấn khá cao, có điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực
quản lý doanh nghiệp nhưng hệ thống DNNN trong ngành công nghiệp chưa
mang lại hiệu quả tương xứng. Ngược lại, doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 15 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
nhà nước giải quyết việc làm cho xã hội, tạo ra lợi nhuận và đóng góp cho
NSNN không nhỏ nhưng đội ngũ cán bộ quản lý ít được nhà nước quan tâm
đào tạo, nâng cao trình độ.
Chất lượng tay nghề của người công nhân, năng lực quản lý điều hành
doanh nghiệp của người chủ và một thị trường lao động linh hoạt, có hiệu quả
là 2 trụ cột bổ sung cần thiết đối với chiến lược nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại. Thế nhưng, đội ngũ
cán bộ quản lý doanh nghiệp giỏi ở 2 khu vực còn ít, phần lớn cán bộ không
được đào tạo lý thuyết cơ bản, không đủ kinh nghiệm và năng lực cần thiết để
điều hành doanh nghiệp trong một môi trường cạnh tranh quốc tế. Theo đánh
giá của CIEM và UNDP, những mặt hạn chế của lực lượng lao động Việt
tranh – đó là vai trò của chiến lược và nhà hoạch định chiến lược kinh doanh
trong doanh nghiệp. Điều đó không dễ dàng gì thực hiện được mà quá trình
hội nhập kinh tế của Việt Nam trong khu vực và thế giới đang ngày càng
được đẩy mạnh. Hoàn thiện công nghệ xây dựng chiến lược kinh doanh phù
hợp với đòi hỏi của thực tiễn là con đường duy nhất đảm bảo cho sự tồn tại và
đi lên của doanh nghiệp trong thời mở cửa
CHƯƠNG II
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 17 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA
TỔNG CÔNG TY HANOSIMEX
I. Sơ lược về tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội
1. Quá trình hình thành và phát triển của tổng công ty Hanosimex:
Tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội (tên giao dịch HaNoi Textile and
Garment Company, viết tắt là HANOSIMEX) là một trong những Công ty
thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX) chuyên sản xuất kinh doanh,
xuất nhập khẩu sản phẩm Sợi, vải Dệt kim, vải Denim, sản phẩm may dệt
kim, khăn các loại, nguyên phụ liệu, phụ tùng thuộc ngành dệt may,…
Công ty có trụ sở chính tại: Số 1 – Mai Động – Hoàng Mai – Hà Nội.
Điện thoại: 04-8621224 / Fax: 04-8622334
Email: [email protected]
Giấy chứng nhận ĐKKD số:0106000323, ngày cấp: 22/09/2004.
Loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp Nhà nước.
Vốn đăng kí: 155.232.228.000 đồng.
Vốn đầu tư hiện nay: 70 tỷ VND đồng.
Các đơn vị thành viên của Hanosimex.
1. Nhà máy Sợi Hà Nội
1. Nhà máy May 1
3. Nhà máy may 2
4. Nhà máy May 3
tháng 9/1995 khánh thành và đưa vào sản xuất
- Tháng 3/1995, Bộ công nghiệp nhẹ lại quyết định sáp nhập Công ty
Dệt Hà Đông vào xí nghiệp liên hợp.
- Tháng 6/1995, Bộ công nghiệp nhẹ quyết định đổi tên Xí nghiệp Liên
hợp Sợi - Dệt Kim Hà Nội thành Công ty Dệt Hà Nội.
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 19 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
- Để phù hợp với tình hình và xu thế mới của Công ty, được sự đồng ý
của Bộ chủ quản, ngày 28/02/2000 Tổng Công ty Dệt may Việt Nam
quyết định đổi tên Công ty Dệt Hà Nội thành Công ty Dệt may Hà
Nội như hiện nay.
Với sự cố gắng vượt bậc của ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ công
nhân viên trong Công ty, ngày 1/7/2000, Công ty đã khánh thành Nhà máy
Dệt vải Denim chuyên sản xuất sản phẩm vải bò.
Cùng với thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến, trình độ quản lí giỏi và
đội ngũ cán bộ công nhân viên có năng lực, hiện nay, Công ty Dệt may Hà
Nội luôn là đơn vị đứng đầu trong ngành Dệt may Việt Nam, sản phẩm của
Tổng công ty luôn đạt chất lượng cao, được tặng nhiều huy chương vàng và
các bằng khen tại Hội chợ triển lãm kinh tế và được nhiều người tiêu dùng tín
nhiệm, bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao nhiều năm liền.
Trong quá trình phát triển , Tổng công ty luôn duy trì sản xuất bằng việc
phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất. Đến nay,
với đội ngũ thiết kế trẻ, có trình độ chuyên môn, Tổng công ty đã thiết kế ra
nhiều mẫu mã đẹp, phong phú phục vụ nhu cầu dùng trong và ngoài nước với
tổng sản phẩm xuất khẩu chiểm một phần không nhỏ, góp phần làm tăng
nguồn ngoại tệ quốc gia. Điều đó khẳng định tên tuổi và chỗ đứng của Tổng
công ty trên thị trường.
2. Chức năng và nhiệm vụ của tổng công ty Hanosimex:
2.1. Chức năng:
- Sản xuất kinh doanh và xuất khẩu các loại sản phẩm có chất lượng cao
mối liên doanh, liên kết nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 21 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
• Phấn đấu nâng cấp chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí
sản xuất bằng mọi biện pháp có thể.
• Khai thác và mở rộng thị trường hiện có, xây dựng thị trường mới cả
trong và ngoài nước.
• Chú trọng phát triển mặt hàng xuất khẩu qua đó mở rộng sản xuất, tạo
công ăn việc làm và đảm bảo thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân
viên trong toàn Tổng công ty.
• Không ngừng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá, khoa học
kỹ thuật, chuyên môn cho cán bộ nhân viên trong Tổng công ty.
II. Thực trạng kinh doanh phát triển thị trường của Tổng công
ty Hanosimex:
1. Các mặt hàng kinh doanh:
Mặt hàng kinh doanh là một yếu tố tác động to lớn tới tình hình tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải nắm bắt và tìm hiểu kĩ
càng để có thể đưa ra những chiến lược tiêu thụ và cạnh tranh hợp lí nhằm
thực hiện mục tiêu thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Tổng công ty dệt may Hà Nội
có nhiều loại sản phẩm, ở mỗi loại sản phẩm, tình hình cạnh tranh lại khác
nhau, đòi hỏi công ty phải có những chiến lược tiêu thụ phù hợp với mỗi loại
sản phẩm.
- Về sợi PE hiện nay, nước ta chưa có đơn vị nào sản xuất chính. Vì vậy
Tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội đều phải nhập từ nước ngoài còn với
bông cotton hiện nay nước ta cũng đã trồng được nhưng diện tích còn quá ít,
khối lượng cung ứng không đồng đều mặt khác chất lượng chưa cao. Vì vậy
chi phí nguyên vật liệu thường đắt hơn không dưới 10% so với các nước
Đông Nam Á là các nước đã sản xuất được nhiều sợi tổng hợp và trồng được
nhiều bông đặc biệt là đối thủ cạnh tranh nhất của Tổng công ty cổ phần dệt
Tỷ lệ
(%)
Bán lẻ 293.512 319.253 383.582 25.741 8,77 64.329 20,15
Bán buôn
trong đó
376.980 546.818 587.371 169.838 45,04 40.553 7,42
BB theo
đơn đặt
hàng
189.006 26.586 298.086 76.680 40,57 32.400 12,19
BB theo
hợp đồng
187.974 281.132 289.285 93.158 49,56 8.153 2,9
Tổng cộng 670.492 866.071 970.953 195.597 29,17 104.822 12,11
(Nguồn: phòng kế hoạch thị trường)
Qua bảng phân tích kết quả tiêu thụ của Tổng công ty Dệt may Hà Nội
theo các sản phẩm chủ yếu trong 3 năm 2003, 2004, 2005 có thể nhận thấy:
năm 2004 tổng kết kết quả tiêu thụ hàng hoá của công ty tăng so với năm
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 23 -
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
2003 là 201.328 triệu đồng (trđ), tương ứng với tỷ lệ tăng là 34,88%. So với
năm 2004 thì năm 2005 tổng kết quả tiêu thụ theo các sản phẩm chủ yếu tăng
49940 trđ, tương ứng với tỷ lệ tăng 6,41%. Cụ thể:
- Với sản phẩm sợi đơn các loại: so với năm 2003 thì kết quả tiêu thụ sản
phẩm sợi đơn các loại của năm 2004 tăng 51208 trđ, tương ứng với tỷ lệ tăng
22,36%.
- Đối với sản phẩm dệt kim: So với năm 2003 thì kết quả tiêu thụ của sản
phẩm dệt kim tăng lên 31000 trđ, tương ứng với tỷ lệ tăng là 37,31%. Tuy
nhiên, năm 2005 thì kết quả tiêu thụ sản phẩm này lại giảm so với năm 2003
là 50364 trđ, tương ứng với tỷ lệ tăng là 16,47%.
2.1. Theo nhóm sản phẩm:
Tổng công ty dệt may Hà Nội có nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau,
trong đó có bốn loại sản phẩm chủ yếu mà sản lượng tiêu thụ chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng sản lượng tiêu thụ của toàn công ty. Đó là các sản phẩm sợi các
loại, sản phẩm dệt kim, vải Denim và sản phẩm Denim.
Tình hình tiêu thụ sản phẩm của Tổng công ty qua các năm (bảng 2)
Qua bảng 1 cho thấy kết quả tiêu thụ sản phẩm của Tổng công ty tăng
dần qua các năm sau luôn cao hơn năm trước. Tuy nhiên, tốc độ tăng ở mỗi
năm là khác nhau. Sự chênh lệch về tốc độ tăng này cũng tương đối rõ rệt.
Năm 2004 tăng 11,0% so với năm 2003, năm 2005 tăng so với năm 2004 là
14,0%. Trong năm loại sản phẩm chủ yếu của công ty thì sản phẩm sợi và sản
phẩm dệt kim là hai loại sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất. Sản phẩm Denim
chiếm tỷ trọng nhỏ nhất do đây là mặt hàng mới đang được Tổng công ty chú
trọng và đầu tư.
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG - Quản lý kinh tế 46A - 25 -