Tầm quan trọng của Marketing quốc tế trong việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang thị trường Mỹ của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội - Pdf 83

ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………………….3
PHẦN I:VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI …………….6
1.1. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU..............................................6
1.2. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY
HÀ NỘI……………………………………………………………………………9
1.2.1. Nghiên cứu thị trường Mỹ…………………………………………….........9
1.2.1.1. Môi trường kinh tế………………………………………………………..10
1.2.1.2.Môi trường chính trị luật pháp……………………………………………11
1.2.1.3. Môi trường văn hoá – xã hội……………………………………………..12
1.2.2.Những thuận lợi của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội trong việc xuất
khẩu hàng hoá sang thị trường Mỹ………………………………………………13
1.2.2.1.Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ có nhiều chuyển biến tích cực...13
1.2.2.2.Nguồn nhân lực dồi dào, chi phí rẻ………………......................................17
PHẦN II: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARKETING QUỐC TẾ TẠI TỔNG
CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI…………………………………….20
2.1.TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI…..20
2.1.1.Quá trình hình thành và các giai đoạn phát triển của Tổng công ty cổ phần Dệt
May Hà Nội …………………………………………………………………..20
2.1.1.1.Quá trình hình thành của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội ………..20
2.1.1.2.Các giai đoạn phát triển của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội …….20
2.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty cổ phần Dệt May
Hà Nội ……………………………………………………………………………...24
2.1.2.1.Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh…………………………………...24
2.1.2.2.Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội ...25
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
1

chuyển đổi trên nhiều lĩnh vực, trong đó không thể không kể đến Xuất Nhập Khẩu một
lĩnh vực đóng vai trò rất quan trọng giúp Việt Nam mở rộng được các mối quan hệ cũng
như tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội hơn để xâm nhập thị trường quốc
tế.
Thời gian qua, hoạt động Xuất Nhập Khẩu của Việt Nam cũng đã được Đảng và Nhà
nước đặt nhiều sự quan tâm, nó được coi là hướng ưu tiên, là trọng điểm của kinh tế đối
ngoại. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng đang ngày càng được mở rộng, từ
những mặt hàng truyền thống từ lâu đã quen thuộc với bạn hàng quốc tế như dệt may, đồ
thủ công mỹ nghệ hay thuỷ hải sản…đến những mặt hàng có hàm lượng kĩ thuật cao hơn
như phần mềm điện tử. Trong đó, mặt hàng dệt may đã, đang và sẽ tiếp tục là một trong
những mặt hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất của Việt Nam.
Nhìn chung tình hình xuất nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam vẫn đang diễn biến khá
thuận lợi khi kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng, uy tín ngày càng cao và thị trường
ngày càng được mở rộng…Tuy nhiên bên cạnh đó những hạn chế còn tồn tại của hàng
dệt may Việt Nam như chất lượng sản phẩm chưa ổn định, quy mô sản xuất không lớn,
vẫn chủ yếu là gia công xuất khẩu lại đang trở thành trở ngại lớn cho hoạt động mở rộng
kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt là đối với một thị trường
khó tính như Mỹ.
Mỹ, một thị trường lớn, đầy tiềm năng nhưng đồng thời cũng là thị trường có nhiều
trở ngại lớn do hệ thống Pháp luật phức tạp, do cạnh tranh gay gắt từ nhiều nhà cung ứng
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
3
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
trên thế giới và đặc biệt Mỹ ngày càng sử dụng triệt để chính sách bảo hộ sản phẩm
trong nước dưới các hình thức thuế chống bán phá giá, yêu cầu kí quỹ, quy định khắt khe
về chất lượng sản phẩm…Điều này gây khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam. Vì thế để đạt được hiệu quả cao hơn nữa trong lĩnh vực kinh doanh xuất
nhập khẩu hàng dệt may đòi hỏi Đảng và Nhà nước nói chung và các doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực này nói riêng phải có công cụ quản lí kinh tế hữu hiệu hơn, đồng

quốc dân
5
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
PHẦN I
VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI
-VINATEX HANOSIMEX-
1.1. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.1.1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển theo nhịp độ phát triển chung của thế giới
đều không thể chỉ dựa vào hoạt động sản xuất trong nước mà cần phải có quan hệ, có
trao đổi lưu thông hàng hoá với các nước khác trên thế giới. Đây là một đòi hỏi tất yếu
để nhu cầu tiêu dùng của các quốc gia đó được đáp ứng tốt hơn, nhất là khi các điều kiện
tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên ở những quốc gia đó là khác nhau dẫn đến tình trạng sản
phẩm mà quốc gia này cần lại không thể sản xuất trong nước hoặc có thể sản xuất trong
nước nhưng giá thành cao do phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài. Trong lúc này ở
một quốc gia khác, sản phẩm đó lại được sản xuất ra dễ dàng hơn do có nhiều điều kiện
phù hợp. Tại hoàn cảnh này hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra là tất yếu và là cơ sở cho
việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của các quốc gia tham gia trao đổi.
Với xu thế toàn cầu hoá, tăng cường tự do thương mại như hiện nay hoạt động xuất
khẩu đang là hoạt động kinh tế cơ bản đối với mọi quốc gia trên thế giới. Đơn giản là vì
nó mang lại nhiều ưu thế cho quốc gia thực hiện nó như: tạo ra nguồn thu nhập cho nền
kinh tế nhất là nguồn thu ngoại tệ, hay tạo động lực cho hoạt động nâng cao năng lực
cạnh tranh của mỗi quốc gia, hoặc giải quyết vấn đề lao động và trên hết là thúc đẩy mối
quan hệ kinh tế, giao lưu hợp tác giữa nhiều quốc gia trên thế giới. Tóm lại, hoạt động
xuất khẩu không chỉ mang lại những hiệu qủa to lớn trực tiếp cho nền kinh tế mà còn
góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt động văn hoá xã hội mà mọi quốc gia đều quan
tâm.
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân

KH TH SS(%) KH TH SS(%
)
KH TH SS(%
)
Tổng doanh
thu
1.204.500 1.430.168 118.7 1.705.000 1.824.149 107.0 1.853.791 1.939.755 108.4
Kim ngạch
xuất khẩu
28.000.00
0
35.218.55
3
125.8 37.800.00
0
39.452.75
9
104.4 45.000.00
0
51.067.13
7
113.5
Lợi nhuận 7.761 7.761 100 7.761 12.500 108.7 17.000 17.000 100
( Nguồn: Phòng kế hoạch vật tư)
Bảng 1.1.Các chỉ tiêu kinh doanh của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
Bảng 1.2. Kết quả kinh doanh xuất khẩu theo thị trường của Tổng công ty cổ phần Dệt
May Hà Nội
Kim ngạch
xuất khẩu
theo từng

Tây Ba
Nha
- - 45.964,16 45.964,16 - -
Đan Mạch - - 4.350,00 4.350,00 - -
Pháp - - 10.050,00 10.050,00 - -
Đức - - 1.249.181,44 1.249.181,44 - -
(Nguồn: Phòng Xuất nhập khẩu)
Những con số trên đã cho chúng ta thấy tình hình xuất khẩu của Tổng công ty cổ phần
Dệt May Hà Nội trong năm 2007 vừa qua, và xứng đáng với vị trí là thị trường quan
trọng bậc nhất của toàn doanh nghiệp, tổng giá trị xuất khảu sản phẩm vào thị trường
Mỹ đạt mức 1.349.094 USD chiếm tới 45.66% Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
Kim ngạch xuất khẩu của toàn công ty.
1.2 TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY
HÀ NỘI
1.2.1.Nghiên cứu thị trường Mỹ
Mỹ là một trong những quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới xấp xỉ 9,4 triệu km²,
dân số 296,5 triệu người (số liệu thống kê năm 2005), đứng thứ 4 thế giới về diện tích và
dân số. Nước Mỹ gồm 50 bang, trong đó có 48 bang kề nhau trên lục địa Bắc Mỹ, một
bang Alasca nằm tách riêng ở phía Bắc Canada, bang Hawaii ở giữa Thái Bình Dương.
Phía Bắc và Nam giáp 2 nước Canada và Mehico, phía Đông và Tây giáp 2 đại dương
lớn là Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
9
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
Mỹ là một nước đa chủng tộc. Trong tổng số dân Mỹ có 84,1% là người da trắng,
12,4% là người da đen và 3,5% là người da vàng và Indian bản địa. Hiện có tới 75% dân
Mỹ sống ở thành thị. Số dân sống bằng nông nghiệp chiếm 2,9%, công nghiệp 26,9%,
diạch vụ 70,2%.
Mỹ là nước có nguồc tài nguyên thiên nhiên khá phong phú. Nhiều loại khoáng sản

khẩu chính gồm dầu thô và các sản phẩm dầu, máy móc, ôtô, hàng tiêu dùng, vật liệu
công nghiệp, thực phẩm và đồ uống.
1.2.1.2.Môi trường chính trị - luật pháp
Mỹ là một nước cộng hoà liên bang thực hiện chế độ chính trị “tam quyền – phân
lập”. Hiến pháp quy định Quốc Hội thực thi quyền lập pháp, Tổng thống thực thi quyền
hành pháp và Toà án thực thi quyền tư pháp. Mỗi cơ quan thực thi quyền lực một cách
độc lập.
Mỗi tiểu bang của Mỹ có một bộ máy chính quyền và hệ thống pháp luật riêng. Hệ
thống pháp luật của các tiểu bang, về nguyên tắc không được trái với Hiến pháp của liên
bang.
Hệ thống luật pháp của Mỹ là hệ thống Thông luật, gồm hai ngành công pháp và tư
pháp. Công pháp được thể hiện dưới hình thức văn bản bao gồm Hiến pháp, Bộ luật,
Đạo luật và các văn bản dưới luật. Tư pháp chủ yếu tồn tại dưới hình thức án lệ. Hệ
thống pháp luật của Mỹ rất phức tạp, đặc biệt là pháp luật điều chỉnh các hoạt động xuất
nhập khẩu.
Về cơ chế hoạch định và thực thi chính sách thương mại, Hiến pháp của Mỹ quy định
Quốc hội có quyền quản lí ngoại thương và quyết định thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, trên
thực tế quốc hội uỷ quyền cho các cơ quan hành pháp quản lí nhiều hoạt động trong lĩnh
vực này.
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
11
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
1.2.1.3.Môi trường văn hoá – xã hội
Khác với các quốc gia Châu Âu, môi trường văn hoá của Mỹ rất phức tạp. Mỹ là một
quốc gia đa sắc tộc, văn hoá, tôn giáo. Đây là quốc gia của những người nhập cư với mọi
màu da, tôn giáo, tín ngưỡng…Năm 2004, các tôn giáo tại Mỹ bao gồm: Tin lành (56%),
Cơ đốc giáo La Mã (28%), Do thái (2%), các đạo khác (4%), không theo đạo nào (10%).
Văn hoá Mỹ được đặc trưng bởi sự đề cao chủ nghĩa cá nhân. Cá nhân thường tự quyết
định hàng hoá mua sắm và tiêu dùng mà không cần tham khảo ý kiến của những người

quan hệ với chính quyền Sài Gòn cũ. Tuy nhiên, kim ngạch buôn bán không lớn, chủ yếu
là hàng nhập khẩu bằng vịên trợ của Mỹ. Từ thàng 5/1964, áp dụng đạo luật buôn bán
với kẻ thù ( Jackson – Vanik), Mỹ thực thi lệnh cấm vận chống miền Bắc nước ta.
Theo đạo luật này, Mỹ ngăn cấm tất cả các tổ chức, công ty và cá nhân Mỹ xuất khẩu
sang Việt Nam bất cứ sản phẩm, hàng hoá, kĩ thuật hay dịch vụ nào của Mỹ dù trực tiếp
hay gián tiếp thông qua nước thứ ba. Mọi giao dịch buôn bán, giúp xuất hoặc nhập khẩu,
đứng ra làm môi giới cũng bị coi là xuất khẩu dịch vụ, vi phạm lệnh cấm vận. Sau khi
Việt Nam thống nhất vào 30/04/1975, Mỹ đã mở rộng cấm vận đối với toàn bộ lãnh thổ
Việt Nam (15/05/1975). Đồng thời Mỹ áp dụng chế tài khống chế các nước đồng minh
và các tổ chức quốc tế nhằm ngăn cản, thao túng và phong toả các mối quan hệ kinh tế
thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới.
Có thể thấy, chính sách cấm vận của Mỹ với Việt Nam là cấm vận toàn diện bao gồm:
cấm mọi giao dịch thương mại, tài chính và đầu tư vào Việt Nam; phong toả tài sản; xếp
Việt nam vào nhóm Z cùng với Cuba và Bắc Triều Tiên…đây là nhóm nước bị hạn chế
nhất trên cơ sở “Đạo luật kiểm soát xuất khẩu 1969”; khống chế các nước đồng minh
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
13
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
trong quan hệ với Việt Nam. Vì thế trong suốt thời gian dài trước khi có những cải thiện
đi đến bãi bỏ cấm vận, hầu như hai nước không có quan hệ thương mại chính thức nào.
Mặc dù bị mỹ cấm vận, nhưng thông qua các con đường trực tiếp và gián tiếp Việt
Nam vẫn có quan hệ kinh tế và viện trợ phát triển ở nhiều nước, nhiều tổ chức kinh tế và
phi chính phủ. Ngay chính nhiều công ty của Mỹ qua con đường gián tiếp cũng đã có
hàng xuất khẩu vào nước ta. Vào những năm cuối của thập kỉ 80, trị giá hàng xuất khẩu
của Mỹ vào Việt Nam có dấu hiệ tăng mặc dù con số đó còn khá khiêm tốn. Năm 1987,
hàng hoá của Mỹ nhập vào nước ta trị giá 23 triệu USD, năm 1988: 15 triệu USD, năm
1989: 11 triệu USD( theo thống kê của Bộ Thương Mại Mỹ tháng 7/1994).
Còn đối với xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, theo số liệu thống kê Việt Nam, thời kì
1986-1989 hầu như không đáng kể. Bắt đầu từ năm 1990, Việt Nam đã xuất được lượng

11/1993 Hội nghị các nhà tài trợ quốc tế ủng hộ Việt Nam được tổ chức tại Pari ( Pháp),
đại biểu của Mỹ đã tham dự với tư cách là quan sát viên.
*Giai đoạn sau khi lệnh cấm vận được bãi bỏ ( từ năm 1994)
Trong suốt thời gian dài, chính sách cấm vận của Mỹ đã cản trở rất lớn đến quan hệ
thương mại giữa hai nước. Nó ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân của cả Mỹ và Việt Nma.
Hiển nhiên là trong mối quan hệ này, Việt Nam là thiệt hại hơn cả. Số nước bị Mỹ cấm
vận không nhiều, ngoài Việt Nam, còn có các nước như: Cuba, CHDCND triều Tiên,
Irac…Những quốc gia bị Mỹ bao vây, cấm vận bị cô lập với thế giới bên ngoài và đều
rơi vào tình trạng khó phát triển.
Như chúng ta thấy, vào đầu những năm 90, Việt Nam và Mỹ đều có những bước cải
thiện rõ rệt trong chính sách của mình. Chính sách của Mỹ từ cấm vận toàn diện với Việt
Nam đã chuyển sang mới lỏng từng phần. Còn phía Việt Nam, chính sách của Việt Nam
đã có sự đột bién từ “đóng cửa” sang “ mở cửa”. Đặc biệt với Mỹ, Việt Nma đã tỏ rỏ
thiện chí của mình bằng những hành động cụ thể, đáp ứng những đòi hỏi từ phía Mỹ. Và
khi các điều kiện xúc tác đã biến đổi thuận lợi cho việc nối lại bình thường hoá quan hệ
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
15
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
giữa hai nước thì việc bãi bỏ cấm vận của Mỹ với Việt Nam là một đòi hỏi tất yếu,
khách quan. Điều này không chỉ phù hợp với mong mỏi của Việt Nma mà còn phù hợp
với nguyện vọng của giới kinh doanh Mỹ nói riêng và đại đa số dân Mỹ, nhất là khi xu
thế toàn cầu hoá ngày càng trở nên rõ nét và phổ biến. Trong xu thế này, không nền kinh
tế nào đứng ngoài các tiến trình tự do hoá về thương mại và đầu tư. Do đó, Việt Nam và
Mỹ với tư cách là thực thể cấu thành nên thế giới này dĩ nhiên không thể đi ngược lại xu
hướng chung của thế giới.
Năm 1994, sau khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton chính thức tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm
vận chống Việt Nam, Chính phủ Mỹ đã có những xúc tiến và chuẩn bị về chính sách và
luật pháp để phát triển hợp tác thương mại với Việt Nam. Tiếp đó, ngày 10/02/1994, Bộ
trưởng thương mại Mỹ đã chuyển Việt Nam từ nhóm nước Z lên nhóm Y, nhóm ít có

hai bên nhằm thúc đẩy tiến trình bình thường hoá quan hệ kinh tế thương mại hai nước.
Thông qua những kết quả đạt được trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Mỹ , đặc
biệt là nhờ hợp tác tích cực của cả hai phía ở tầm vĩ mô và những nỗ lực cảu các doanh
nghiệp hai nước, ngay từ khi lệnh cấm được bãi bỏ đến nay buôn bán thương mại giữa
hai nước đã có những bước tiến đáng kể.
1.2.2.2.Nguồn nhân lực dồi dào, chi phí rẻ
Hiện nay, Việt nam là nước có dân số đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 2 trong
ASEAN. Dân số cả nước là 76.327.900 người ( tính đến 1/4/1999), trong đó số người
trong độ tuổi lao động là 43,8 triệu người. Hàng năm có khoảng 1,5-1,7 triệu người bổ
sung vào lực lượng lao động. Với lực lượng lao động dồi dào, nếu sử dụng một cách hợp
lí, triệt để và có hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp dệt may.
Việt Nam được đánh giá là nước có dân số đông và trẻ trong khu vực và trên thế giới.
Lợi thế của nguồn nhân lực Việt Nam được thể hiện khá rõ qua trình độ văn hoá cao của
lực lượng lao động. Hiện nay, gần 94% dân cư từ 15 tuổi trở lên biết chữ, tất cả các tỉnh,
thành phố trong cả nước đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập tiểu học. So với
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
17
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
các nước trong khu vực, có tính đến sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội thì tỷ lệ
biết chữ và số năm đi học của lực lượng lao động Việt Nam là khá cao.
Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại nhiều bất cập trong trình độ chuyên môn kĩ thuật của
lực lượng lao động Việt Nam. Cụ thể là do cơ cấu giữa các loại lao động có trình độ
chuyên môn kĩ thuật cao đẳng và đại học tăng nhanh hơn nhiều so với lao động có trình
độ chuyên môn kĩ thuật viên và công nhân kĩ thuật dẫn đến tình trạng “ thừa thầy, thiếu
thợ, thiếu công nhân có tay nghề cao”. Lao động có kĩ năng đang bị thiếu, trong vòng 8
năm từ 1989-1997, lực lượng chuyên môn có kĩ thuậy chỉ tăng có 2% và tỷ trọng lực
lượng lao động không có chuyên môn kĩ thuật vẫn chiếm gần 90% lực lượng lao động
toàn xã hội.
Do đặc thù của công nghiệp dệt may là sử dụng nhiều lao động giản đơn, không đòi

PHẦN II
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARKETING QUỐC TẾ TẠI TỔNG CÔNG TY
CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
19
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
2.1.TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
2.1.1.1.Quá trình hình thành của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
Tổng công ty dệt may Hà Nội là một công ty thành viên lớn trực thuộc Tập đoàn dệt
may Việt Nam (Viet Nam Textile & Garment Group- VINATEX). Được chính thức
thành lập từ ngày 21/11/1984 với tiền thân là Nhà máy sợi Hà Nội nay đổi tên là Tổng
công ty Dệt may Hà Nội, và lấy tên giao dịch đối ngoại là :
Hanoi Textile-Garment Joint Stock Corporation
( viết tắt là: HANOSIMEX)
2.1.1.2.Các giai đoạn phát triển của Tổng công ty cổ phần D ệt may Hà Nội
Từ khi đi vào hoạt động đến nay trải qua 24 năm, HANOSIMEX đã có 14 thành
viên. Bao gồm 2 nhà máy sợi, 3 nhà máy dệt và nhuộm, 1 nhà máy giặt và 8 nhà máy
may mặc nằm trên khu đất rộng 24 ha với hơn 6000 công nhân và kĩ sư lành nghề.
Nhưng để đạt được những thành công bước đầu này Tổng công ty đã phải trải qua rất
nhiều giai đoạn.
Giai đoạn 1: từ khi thành lập đến ngày 28/02/2000
Tổng công ty đã trải qua nhiều lần đổi tên như:
Vào ngày 30/04/1991: Nhà máy sợi Hà Nội được đổi tên thành Xí nghiệp Liên
hợp Sợi - Dệt Kim Hà Nội, tên giao dịch quốc tế là HANOSIMEX .
Đến ngày 19/06/1995: Công ty đổi tên từ Xí nghiệp Liên hợp Sợi- Dệt Kim Hà
Nội thành công ty Dệt Hà Nội.
Và vào ngày 28/02/2000: Một lần nữa công ty được đổi tên thành Công ty Dệt
may Hà Nội.

Vinh thành Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, trong đó HANOSIMEX sở hữu
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
21
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
100% vốn đồng thời sáp nhập với Công ty Dệt kim Hoàng Thị Loan, một đơn vị thành
viên VINATEX.
Đối với đơn vị phụ thuộc là Công ty Dệt Hà Đông và Nhà máy Dệt vải bò cũng sẽ
chuyển thành Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do HANOSIMEX sở hữu 100%
vốn và di dời đến Khu công nghiệp Phố Nối vào năm 2005. Riêng đơn vị phụ thuộc là
Nhà máy May Đông Mỹ, Nhà máy May hàng thời trang và toàn vộ 10 cửa hàng bán lẻ sẽ
được chuyển thành công ty cổ phần, trong đó HANOSIMEX sở hữu 51% vốn.
Các đơn vị phụ thuộc còn lại là bộ phận dịch vụ cơ khí và bộ phận sản xuất ống
giấy sẽ hợp thành một công ty cổ phần, trong đó HANOSIMEX sở hữu 35% vốn. Thời
gian tiến hành được tính đến năm 2005.
Một vấn đề nổi cộm trong phương án sắp xếp giai đoạn này của HANOSIMEX là
việc sáp nhập Công ty Dệt kim Hoàng Thị Loan. Qua đánh giá ban đầu, đây là một công
ty nhỏ làm ăn thua lỗ với vốn chủ sở hữu âm (ngay cả sau khi thực hiện chuyển nợ thành
vốn chủ sở hữu năm 2002). HANOSIMEX là khách hàng và nhà cung cấp lớn nhất hiện
nay của Công ty này để sáp nhập. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng để xuất rằng, chỉ nên sáp
nhập những tài sản và nguồn lực phục vụ sản xuất cũng như một số công nợ nhất định
của Công ty Dệt kim Hoàng Thị Loan vào HANOSIMEX .
Đến năm 2005, tuy vẫn gặp phải nhiều khó khăn, thách thức trong cạnh tranh trên
thị trường trong nước, khu vực và trên thế giới nhưng HANOSIMEX đã vượt lên với
những con số đầy ngoạn mục :
♦ Tổng doanh thu đạt : 1.430.168 triệu đồng tăng 30,3% so với năm trước
♦ Kim ngạch xuất khẩu đạt : 35,218 triệu USD, tăng hơn năm trước 34,7%
♦ Lợi nhuận đạt : 7.761 triệu đồng
♦ Nộp ngân sách Nhà nước : 6.805 triệu đồng
Giai đoạn 3: từ năm 2005 đến nay

May Đông Mỹ, trong đó Công ty mẹ chiếm 51-49% tổng số vốn điều lệ.
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
23
ào Thu LinhĐ ỳ Marketing 46B
Cùng với đó Tổng công ty đã tiếp nhận, củng cố xong và đang cổ phần hoá Công
ty sản xuất, xuất nhập khẩu Hải Phòng; đồng thời mua 30% tổng số cổ phần Công ty
Dệt-May Huế.
Thêm nữa Tổng công ty cũng đã tổ chức di dời các nhà máy dệt nhuộm hoàn tất
vải dệt kim ở nội thành Hà Nội về khu Công nghiệp dệt-may tại Phố Nối (Hưng Yên) đã
có đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật xử lý môi trường để đảm bảo phát triển ổn định bền
vững lâu dài. Nhà máy này sẽ đảm bảo cung ứng đầy đủ kịp thời 2.300 tấn vải dệt kim
chất lượng tốt cho 4 xí nghiệp chuyên may quần áo dệt kim phục vụ xuất khẩu là chủ
yếu, bao gồm May I, May 2, May Đông Mỹ và May thời trang với tổng năng lực trên 6,5
triệu sản phẩm/năm.
Với hàng loạt hoạt động hiệu quả được thực hiện bài bản công ty đã đạt được
những kết quả đáng kể :
♦ Tổng doanh thu đạt : 1.939.755 triệu đồng
♦ Lợi nhuận đạt : 17.000 triệu đồng
♦ Nộp ngân sách Nhà nước : 23.000 triệu đồng.
2.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội
2.1.2.1.Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ một đơn vị chủ yếu sản xuất mặt hàng sợi cung cấp cho thị trường, sau chặng
đường đổi mới, đầu tư phát triển với tinh thần dám nghĩ, dám làm, đến nay, Tổng công
ty Dệt - May Hà Nội đã tạo dựng được nhiều chủng loại sản phẩm đa dạng, chất lượng
cao đáp ứng tốt cho nhu cầu tiêu dùng ở cả trong nước và trên thế giới. Những mặt hàng
mà Tổng công ty chuyên sản xuất- kinh doanh- xuất nhập khẩu bao gồm: Các loại
nguyên liệu bông, sơ, sợi, vải dệt kim và sản phẩm may mặc dệt kim, vải denim và các
sản phẩm may dệt thoi; các loại khăn bông, nguyên phụ liệu, hoá chất (trừ những loại bị
Nhà nước cấm kinh doanh), thuốc nhuộm, thiết bị, phụ tùng, động cơ, vật liệu, điện tử,

Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
quốc dân
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status