Một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các trường Đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 31

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỖ HỮU TUYẾT

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, tháng 8/ 2013


2

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng
Đào tạo Sau đại học, Khoa Quản lý Giáo dục, Phòng Quản lý Khoa học-Thiết
bị trường Đại học Vinh, Ban Giám hiệu trường Đại học Sài gòn, quý thầy
giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ, cung cấp tài liệu và hướng dẫn
tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện
hỗ trợ giúp đỡ; lãnh đạo cùng cán bộ quản lý Phòng ban chức năng các trường
Đại học Sư phạm, Đại học Kinh tế, Đại học Sư phạm Kỹ thuật, Đại học Luật,
Đại Sư phạm TDTT, Đại học Mở, Đại học Nông Lâm, Cao đẳng Sư phạm
Trung ương tại Tp.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi được điều tra, khảo
sát để có dữ liệu viết luận văn. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

:

Đại học công lập

GD – ĐT

:

Giáo dục và đào tạo

SV

:

Sinh viên

GV

:

Giảng viên

CBVC

:

Cán bộ, viên chức

QLNN


Ủy ban nhân dân

CNH

:

Công nghiệp hóa

KĐCLĐH

:

Kiểm định chất lượng đại học



:

Lãnh đạo

WTO

:

Tổ chức thương mại thế giới (World
Trade Oganization)

MỤC LỤC

Chương

học công lập
1.1
Lịch nghiên cứu nghiên cứu vấn đề
1.1.1
Các nghiên cứu ngoài nước
1.1.2
Các nghiên cứu ở trong nước
1.2
Một số khái niệm cơ bản
1.2.1
Trường đại học công lập
Quản lý, quản lý giáo dục; cơ chế quản lý và giải
1.2.2
pháp đổi mới cơ chế quản lý giáo dục đại học
Một số vấn đề lý luận của cơ chế quản lý các
1.3
trường đại học công lập.
Sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý các
1.3.1
trường đại học
Nội dung đổi mới cơ chế quản lý các trường đại
1.3.2
học công lập
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới cơ chế
1.3.3
quản lý trường đại học
Thực trạng công tác quản lý và đổi mới cơ chế quản lý
Chương 2 các trường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại
THCM
Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội


2.1.2

Kinh tế - xã hội
Toàn cảnh hệ thống các trường đại học, cao
2.2
đẳng tại thành phố Hồ Chí Minh
Hệ thống các trường đại học, cao đẳng tại Tp.Hồ
2.2.1
Chí Minh
Các trường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT
2.2.2
tại thành phố Hồ Chí Minh
Thực trạng công tác quản lý các trường đại học
2.3
công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tại
TP. HCM qua số liệu khảo sát
2.3.1
Khái quát về khảo sát thực trạng
2.3.2
Chọn mẫu và kết quả khảo sát
Kết quả khảo sát công tác quản lý giáo dục
thông qua ý kiến của Ban giám hiệu nhà
2.4
trường, Ban chủ nhiệm khoa, Trưởng, phó
phòng ban
Thực trạng đổi mới cơ chế quản lý các trường
2.5
đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào
tạo tại thành phố Hồ Chí Minh

40
43
47
47
48
49

68
68
70
71
72
73
74
74
77
81
81
82


6

3.2.1
3.2.2
3.2.3
3.2.4
3.2.5
3.2.6
3.2.7

93
96
97
101
102
108
111


7

Sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, đất nước ta đã và đang thu được
những thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hoá xã hội và giáo dục đào tạo. Thực hiện chủ trương đường lối của đảng
và nhà nước, hiện nay cả nước và toàn ngành giáo dục và đào tạo đang tiếp
tục thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo nói chung
cũng như giáo dục đại học nói riêng. Những năm gần đây, công tác đổi mới
giáo dục mà trọng tâm là đổi mới quản lý về giáo dục đại học được đề cập rất
nhiều thông qua các văn bản quản lý nhà nước như: Nghị quyết số
50/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội khóa XII về việc thực hiện chính
sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với giáo dục
đại học; Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi

mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020;
Chỉ thị số 296/CT - TTg ngày 27/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới
quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012; Chương trình hành động của
Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Nghị quyết số 05 - NQ/BCSĐ ngày
06/01/2010 của Ban cán sự Bộ Giáo dục - Đào tạo về đổi mới quản lý giáo
dục đại học giai đoạn 2010 – 2012 … đã cho thấy giáo dục đại học đang là
một nội dung ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo

muốn, dẫn đến chất lượng đào tạo đại học còn thấp và chưa theo kịp với thực
tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiện nay giáo dục đại học đang
đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu phát triển toàn diện về quy mô, đa
dạng về loại hình với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Việc đổi
mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý đối với giáo dục đại
học là một yêu cầu cấp thiết nhằm góp phần đổi mới căn bản, toàn diện sự
nghiệp giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đúng như Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng


9

chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong
đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý là khâu then chốt” [24; tr.130 ].
Thực hiện chủ trương về đổi mới quản lý giáo dục đại học như đã nói ở
trên, những năm qua cùng với các trường ĐH-CĐ trong cả nước, các trường
ĐH-CĐ công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại Tp.Hồ Chí Minh cũng đã không
ngừng được đổi mới về mọi mặt: Quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây
dựng cơ sở vật chất… Tuy nhiên, để có thể góp phần cung ứng nguồn nhân
lực chất lượng cao cho cả nước cũng như cho Tp.Hồ Chí Minh và xa hơn nữa
là cho nhu cầu xuất khẩu về dịch vụ giáo dục đào tạo trong khu vực và thế
giới đòi hỏi công tác quản lý các trường ĐH-CĐ nói chung, cũng như công
tác quản lý các trường ĐH-CĐ công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại Tp.Hồ Chí
Minh nói riêng cần phải tiếp tục được đổi mới tích cực và toàn diện hơn nữa,
trong đó then chốt nhất vẫn là vấn đề đổi mới về cơ chế quản lý.
Với lý do trên tác giả chọn đề tài: “ Một số giải pháp đổi mới cơ chế
quản lý các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tại

6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu tập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của Đề tài. Trong nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích-tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.


11

6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin từ thực tiễn để
xây dựng cơ sở lý luận thực tiễn của Đề tài. Trong nhóm này có các phương
pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý số liệu, thông tin thu được.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
Luận văn hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đổi mới cơ chế quản lý
các trường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT; làm rõ những đặc trưng
trong đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập đó.
7.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn khảo sát tương đối toàn diện cơ chế quản lý các trường đại
học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất
các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi để nâng cao hiệu lực, hiệu
quả cơ chế quản lý các trường đại học công lập trực thuộc Bộ GD-ĐT tại

lịch sử phát triển và hiện trạng của nó.
Đặc điểm cơ bản nhất và rất riêng biệt của nền đại học Hoa Kỳ là vai
trò quản lý trực tiếp mờ nhạt của nhà nước và quyền tự chủ các trường được
đề cao.
Định hướng thị trường mạnh, tự do cạnh tranh giữa các trường đại học
cũng là đặc điểm cơ bản của GDĐH Hoa Kỳ.
Nền đại học Hoa Kỳ có sự phân hoá lớn về trình độ và chất lượng giữa
các trường.
Một số bài học kinh nghiệm từ mô hình GDĐH Hoa Kỳ:
- Vai trò của Nhà nước trong điều hành hệ thống GDĐH: Vận hành của
hệ thống GDĐH nước ta còn kém năng động so với hệ thống GDĐH Hoa Kỳ.
Điều này được lý giải là do ở Hoa Kỳ, tính thị trường tác động mạnh mẽ lên
mọi khía cạnh vận hành của hệ thống. Sự điều chỉnh của Nhà nước, nếu có,
thường chỉ là gián tiếp. Còn ở nước ta, thói quen theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung và bao cấp vẫn còn khá nặng nề, và tác động của Nhà nước trong điều
hành GDĐH vẫn thường là áp đặt trực tiếp.


14

- Đại chúng hóa GDĐH nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời
sống văn hoá và nguồn nhân lực trình độ cao, điều này đặc biệt cần thiết trong
điều kiện hiện nay ở nước ta.
Việc tăng quy mô GDĐH ở Việt Nam là một chủ đề gây nhiều tranh
luận vì nhiều học giả cho rằng tăng quy mô GDĐH là nguyên nhân của tình
trạng “thừa thầy thiếu thợ”. Tuy nhiên, GDĐH Hoa Kỳ cho thấy sự tăng
nhanh quy mô phải đồng thời với đảm bảo chất lượng GDĐH. Và không phải
bao giờ chất lượng cũng tỷ lệ nghịch với quy mô.
- Có cơ chế tăng cường mở rộng việc áp dụng học chế tín chỉ:
GDĐH ở nước ta hiện đã có nhiều thay đổi. Học chế “học phần” đã ra

Anh dường như chỉ mở cửa đối với tầng lớp giàu có ở trong và ngoài nước.
1.1.1.3. GDĐH ở Cộng hòa Pháp
Nền giáo dục đại học của Pháp đã có một lịch sử lâu đời, rất cởi mở. Ở
Pháp không hề có sự phân biệt giữa sinh viên nước ngoài với sinh viên Pháp,
cùng một tiêu chuẩn xét tuyển, cùng một loại bằng cấp. Luật pháp của Pháp
quy định như vậy. Là đất nước của quyền con người và quyền công dân, Pháp
không chấp nhận bất cứ hình thức phân biệt đối xử nào.
Đào tạo đại học của Pháp vừa hiện đại vừa năng động, nền giáo dục
này đào tạo ra đội ngũ các cán bộ thực thi của một quốc gia đi tiên phong
trong khoa học, quản lý và văn hóa. Ngày nay, Pháp là cường quốc kinh tế
lớn thứ tư và là nước xuất khẩu dịch vụ lớn thứ hai trên Thế giới.
Trong hệ thống giáo dục của Cộng hòa Pháp, Nhà nước sử dụng đại
học như một công cụ để hiện đại hoá xã hội. Các trường đại học ở pháp có
quyền chủ động xây dựng chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy


16

cũng như nghiên cứu khoa học. Năm 1968, Pháp tiến hành cải cách giáo dục,
quyền tự trị của các trường đại học được mở rộng thêm về lĩnh vực tài chính,
nhân sự,…Mô hình giáo dục đại học Pháp được hình thành trong cơ chế thị
trường, do đó có thể khuyến khích sự cạnh tranh về nhân lực và chất lượng
giữa các trường đại học. Giáo dục đại học Pháp được chia thành hai hệ là đào
tạo tổng quát và đào tạo nghề nghiệp. Hai hệ này không tách rời nhau-giữa
hai hệ thường có cầu nối để sinh viên có thể chuyển từ hệ này sang hệ kia.
1.1.1.4. GDĐH ở CHLB.Đức
Mô hình giáo dục đại học Đức do Uyn-hem Vôn Hăm-bôn sáng lập từ
thế kỷ XIX với mục đích xây dựng những trung tâm nghiên cứu đại học hiện
đại để “đẩy lùi những biên giới của kiến thức”. Mô hình này không coi trọng
sự can thiệp của chính trị và quyền lực nhà nước đối với giáo dục đại học. Nó

nghĩa đối với Việt Nam, đó là:
- Cải cách GDĐH là một công việc khó khăn, lâu dài, do đó cần có tầm
nhìn xa, sáng suốt trong hoạch định chính sách và sự nỗ lực không ngừng
cũng như sự kiên quyết, tâm huyết trong tổ chức thực hiện.
- Từng bước bãi bỏ cơ chế bao cấp nhà nước cho GDĐH (công lập). Áp
dụng mô hình và phương pháp quản lý doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm
của đại học (doanh nghiệp tri thức) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và chất
lượng đào tạo, nghiên cứu và hiệu quả đầu tư.
- Cân đối, hài hòa giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quốc tế.
- Đề cao vai trò và thực quyền quyết định các vấn đề cốt lõi cải cách
GDĐH của Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo. Bên cạnh đó, không nên
xem nhẹ các khuyến nghị của các tổ chức tư vấn, các chuyên gia, các nhà
khoa học, nhà quản lý, nói chung là đội ngũ trí thức.


18

- Đổi mới mô hình quản lý GDĐH phải tiến hành song song với đổi
mới quản lý trên các ngành, lĩnh vực khác và của cả nền hành chính.
- Chú trọng phát triển các trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực nhưng
phải tổ chức, sắp xếp lại hợp lý đồng thời tăng cường giao quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm cho họ.
- Nâng cao vai trò của các tổ chức chuyên môn, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức đánh giá độc lập trong đánh giá và kiểm
định chất lượng GDĐH thông qua đánh giá 3 bên.
- Tăng cường liên kết với đại học quốc tế (mời giáo sư sang nghiên
cứu và giảng dạy, quốc tế hóa chương trình đào tạo, liên kết đào tạo... )
1.1.1.6. Quản lý giáo dục đại học Thái Lan
Chỉ trong vòng 50 năm phát triển, Thái Lan đã có một hệ thống GDĐH
tương đối hoàn chỉnh. Một số ĐH Thái Lan đã trở thành những trung tâm giáo

GDĐH các quốc gia này đã phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành quả.
Vậy Việt Nam có thể học tập được gì từ hệ thống này? Đây là câu hỏi không
dễ trả lời. Để có giải đáp đúng đắn, trước tiên chúng ta phải có những hiểu
biết sâu sắc về các hệ thống giáo dục này. So sánh với nền GDĐH nước nhà
để từ đó rút ra những điểm tương đồng và khác biệt, sau đó có những giải
pháp phù hợp.
Nhận xét: Qua một số thông tin về hệ thống giáo dục và giáo dục đại
học của một số nước, chúng ta thấy một số vấn đề cần quan tâm sau đây:
1. Tất cả chương trình giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói
riêng của các nước trên thế giới đều hướng đến mục tiêu đào tạo nguồn nhân
lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu cụ thể của quá trình phát triển đất
nước.


20

2. Chính phủ luôn có cơ chế, chính sách quản lý và quan tâm đến hoạt
động giáo dục đại học thông qua chính sách đầu tư ngân sách, phân quyền
quản lý cho địa phương, giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho cơ sở,
đa dạng hóa hoạt động giáo dục đại học đáp ứng thiết thực mục tiêu đào tạo
nguồn nhân lực.
3. Giáo dục đại học luôn là nội dung chính trong các cuộc cải cách
giáo dục hoặc các chiến lược phát triển giáo dục của các nước, trong đó yếu tố
con người và yếu tố tài chính luôn luôn được đề cập.
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
1.1.2.1. Thời kỳ trước đổi mới
* Giai đoạn trước 1975 ở miền Bắc
Vào năm 1070 Vua Lý Thánh Tông đã thành lập Văn Miếu tại Thủ đô
Thăng Long (Hà Nội). Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075. Đến
thời Vua Lý Nhân Tông, “Quốc Tử Giám” được thành lập để con vua và con

quản lý. Bộ Xây dựng nắm Đại học Kiến trúc, Bộ Nông lâm điều khiển Đại
học Nông lâm,… Hệ thống giáo dục đại học bị phân tán đơn lẻ. Bộ Giáo dục
không giữ vai trò quản lý mà chỉ là cơ quan liên lạc giữa các trường sở. Bậc
đại học của Việt Nam lúc đó không đào tạo tiến sĩ mà được gửi đi đào tạo ở
Liên Xô và Đông Âu.
Trường Đại học Y khoa Hà Nội: trước thuộc Viện Đại học Hà Nội
nhưng theo nghị định năm 1956 thì tách riêng. Trường Y khoa bị cắt khỏi Bộ
Giáo dục và chuyển sang Bộ Y tế và học trình rút bỏ từ bảy năm thành sáu
năm. Ngoài ra Bộ Y tế mở một chương trình hai năm học bắt đầu từ năm
1960 ở Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hà
Nam, Hà Đông và Phú Thọ để đào tạo hàng ngàn y sĩ trung cấp trong khi học


22

trình bác sĩ y khoa rút xuống còn bốn năm. Việc này diễn ra được hai năm
nhưng vì thấy không hiệu quả nên sau đó lại trở lại học trình sáu năm cho y
khoa.
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội: thành lập năm 1956, có 9 khoa với
khoảng 30-40 ngành học.
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội: thành lập năm 1956, tập trung vào
các ngành khoa học cơ bản. Năm 1993, trường này sáp nhập với Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội để
hình thành Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội: thành lập năm 1951, ban đầu với tên
gọi Trường Đại học Sư phạm Khoa học (1951–1956), sau đó là Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội (1956-1966), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (1966–
1993), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1993–1999) thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội và trở lại tên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 10 năm
1999.

Sau khi tiếp quản, chúng ta đã tiến hành giải thể các trường đại học tư
thục và đại học cộng đồng, tổ chức lại các trường đại học theo mô hình nhà
trường XHCN. Hệ thống trường đại học miền Nam cũ được tổ chức lại thành
15 trường đại học đó là: Đại học Sư phạm TPHCM; Đại học Bách khoa
TPHCM; Đại học Kinh tế TPHCM; Đại học Sư phạm kỹ thuật TPHCM; Đại
học Tổng hợp Huế; Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Đại học Cần Thơ; Đại học
Đà Lạt; Đại học Nông-Lâm TPHCM; Đại học Kiến trúc TPHCM; Đại học Sư
phạm Huế; Đại học Y Huế; Đại học Y-Dược TPHCM; Đại học Thuỷ sản Nha
Trang; Đại học Tây Nguyên.


24

Tính đến năm 1977-1978 cả nước có 50 trường đại học và 20 trường
cao đẳng. Mô hình quản lý giáo dục theo mô hình quản lý tập trung cao ở
Chính phủ và Bộ Giáo dục. Quy mô đào tạo các trường theo chỉ tiêu kế hoạch
Nhà nước giao. Tổ chức quá trình đào tạo từ kế hoạch học tập, tuyển sinh, chế
độ học bổng, phân công công tác đều do kế hoạch của Nhà nước. Mục tiêu
đào tạo chủ yếu là cung cấp cán bộ biên chế Nhà nước và cho biên chế của
hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Việc tổ chức thi tuyển sinh cũng được tiến hành thống nhất theo kế
hoạch: Ngày thi được qui định chung trong toàn quốc, mỗi thí sinh được thi
một trường đại học và có ba khối thi A, B, C để thí sinh lựa chọn. Bộ Giáo
dục quản lý thống nhất các khâu ra đề thi, chỉ đạo chấm thi, thông báo kết
quả.
Năm 1976, lần đầu tiên một Luận án Phó Tiến sĩ đã được bảo vệ thành
công trong nước, đánh đấu một bước phát triển mới về chất của giáo dục đại
học Việt Nam. Hệ đào tạo sau đại học, đào tạo Phó tiến sĩ theo mô hình của
Liên Xô (cũ) chính thức được hình thành trong hệ thống giáo dục quốc dân
nước ta.

Tổ chức lại quy trình đào tạo, thực hiện quy trình đào tạo hai giai đoạn
đáp ứng mục tiêu đào tạo theo diện rộng (mở rộng kiến thức cơ bản). với chế
độ học phí mềm dẻo theo nguyên tắc người học tích luỹ kiến thức, tăng tính
chủ động và phát huy sở trường cá nhân.
Đổi mới việc lựa chọn cán bộ quản lý thông qua việc thăm dò tín
nhiệm, bầu cử chức danh hiệu trưởng trường đại học. Trong 3 năm 1987-1990
đã có 26 trường đại học tiến hành bầu hiệu trưởng.


Trích đoạn Quản lý, quản lý giáo dục và cơ chế quản lý 1 Quản lý Quản lý giáo dục Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam Hội nhập quốc tế Điều kiện tự nhiên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status