Thế giới nghệ thuật trong tập thơ ánh trăng của nguyễn duy - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-----------***----------

VŨ THỊ LOAN

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TẬP THƠ ÁNH TRĂNG
CỦA NGUYỄN DUY

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2010

Vũ Thị Loan

1

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam và
đặc biệt là Thạc sỹ - Giảng viên La Nguyệt Anh – người hướng dẫn trực tiếp.
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn
trân trọng nhất tới các thầy cô.

Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Sinh viên

Vũ Thị Loan

Vũ Thị Loan

3

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan
Khóa luận “Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Ánh trăng của Nguyễn
Duy” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo ý kiến của những người
đi trước, dưới sự giúp đỡ khoa học của Thạc sỹ - Giảng viên La Nguyệt Anh.
Khóa luận không sao chép từ một tài liệu, công trình có sẵn nào.

Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Sinh viên


4. Nhiệm vụ nghiên cứu

6

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

7

6. Phương pháp nghiên cứu

7

7. Đóng góp của khóa luận

7

8. Bố cục khóa luận

7

NỘI DUNG

8

Chương 1. Thế giới hình tượng trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy 8
1.1. Hình tượng cái tôi trữ tình nhà thơ

8


25

1.3.1. Thời gian nghệ thuật

26

1.3.1.1. Thời gian hiện tại gắn với cuộc sống chiến trường

26

1.3.1.2. Thời gian hiện tại gắn với cuộc sống đời thường

29

1.3.1.3. Thời gian quá khứ gắn với những hoài niệm

32

Vũ Thị Loan

5

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

1.3.2. Không gian nghệ thuật


2.2. Giọng điệu thơ

49

2.2.1. Giọng điệu tự nhiên thiết tha sâu lắng

50

2.2.2. Giọng điệu lời ru

52

2.3. Ngôn ngữ thơ

55

2.3.1. Ngôn ngữ thơ bình dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày

56

2.3.2. Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính

61

KẾT LUẬN

67

TÀI LIỆU THAM KHẢO

mang tính hiện thực cuộc sống mà không hoàn toàn miêu tả, sao chép lại.
Điều này khẳng định văn học là bức tranh phản ánh cuộc sống nhưng luôn
chứa đựng sự hấp dẫn đối với người đọc. Mỗi thế giới nghệ thuật tương ứng
với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới giúp ta hình
dung tính độc đáo trong tư duy sáng tạo và cá tính sáng tạo của nghệ sỹ.
Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu
tố, cấp độ của sáng tạo nghệ thuật. Mỗi cấp độ, yếu tố này lại có thể là một
chỉnh thể nhỏ hơn được đặt trong những mối quan hệ biện chứng nhất định,
xâu chuỗi với các yếu tố khác. Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để tìm hiểu
quy luật của từng loại thế giới nghệ thuật, sự sáng tạo của chủ thể, quan niệm
về nghệ thuật, cuộc sống, nhân sinh… của người nghệ sĩ. Chọn đề tài: “Thế
giới nghệ thuật trong tập thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy”, chúng tôi mong
muốn góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu những sáng tạo độc đáo cũng
như những đóng góp của Nguyễn Duy trong thơ cho nền thi ca hiện đại.

Vũ Thị Loan

7

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp
1.2.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Nguyễn Duy là nhà thơ của những vẻ đẹp đời thường, những giá

trị tưởng khiêm nhường mà bền vững như cây tre Việt Nam, như cọng rơm



Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Nguyễn Duy “đậm đà phong cách Việt Nam, giọng thơ chân chất, tình thơ
chắc, ý thơ sâu”[20, 211].
Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã ghi nhận ở nhà thơ trẻ Nguyễn Duy
“một hồn thơ trữ tình” khi “nói về đời sống bộ đội” và “chất dân gian đằm thắm
của một điệu cảm xúc và cả ở lối phô diễn”[8, 105] . Vẻ đẹp của người lính trong
thơ Nguyễn Duy được thể hiện rõ qua“những suy nghĩ về đất nước quê hương và
cuộc sống bình dị hằng ngày tạo trong thơ anh một chiều sâu tâm trạng”[7, 123].
Sau “Cát trắng”, “Ánh trăng” ra đời chứng tỏ sự cứng cỏi của Nguyễn
Duy. Thơ Nguyễn Duy được quan tâm nhiều hơn, các bài viết cũng ở phạm vi
rộng và sâu hơn.
Lê Quang Hưng viết bài “Thơ Nguyễn Duy và Ánh trăng” giới thiệu
cho bạn đọc diện mạo của tập thơ cùng những bước tiến dài của người làm
thơ. Tác giả chỉ ra thành công của Nguyễn Duy ở cách dựng tứ thơ, cho rằng
nguyên nhân quyết định của sự thành công đó là ở “độ chín của cảm xúc tình
cảm”. Đồng thời tác giả khẳng định chất ca dao đậm đà trong thơ Nguyễn Duy:
“Nhiều bài thơ trong Ánh trăng đậm đà ca dao, nhiều đoạn thơ lục bát nhuần
nhị, ngọt ngào khiến người ta khó phân biệt đấy là ca dao hay là thơ”[13, 291].
Về bài thơ tiêu biểu mà Nguyễn Duy lấy làm tiêu đề cho cả tập thơ, bài
thơ Ánh trăng, tác giả Nguyễn Bùi Vợi đã nhận thấy ý nghĩa lớn lao mà tác
giả gửi trong đó: “Bài thơ đã dừng nhưng lẽ đời, tình người vẫn vấn vương
cùng người đọc”[26].
Nếu Nhị Hà tìm thấy chất xốn xang của “chất nhựa tình” ứa ra từ câu
chữ qua bài Xuồng đầy thì Hoàng Nhuận Cầm lại thấy giọng điệu lời ru “vừa
hấp dẫn vừa tinh quái hóm hỉnh trong một cái nhìn tinh tế như không có gì

ngôn ngữ và cảm xúc”.
Lê Quang Hưng tìm hiểu thơ Nguyễn Duy ở cách dựng tứ “từ những khoảnh
khắc những câu chuyện rất riêng tư”. Cách dựng tứ này đã tạo nên một phần “chất
dân gian trong thơ Nguyễn Duy”. Tiếp cận từ góc độ hình tượng tác giả viết: “Hình
tượng thơ là sự kết hợp giữa cụ thể và suy ngẫm, giữa riêng và chung, cảm xúc đằm
nén gây được sự đồng cảm”. Tác giả nhấn mạnh: “Nguyễn Duy rất chắc tay trong
thơ khi dựng tứ và biết tiết kiệm lời, lựa chọn chữ khi thể hiện”[13, 156, 158].
Tính đến năm 1987 thì người viết về Nguyễn Duy đầy đủ hơn cả là
Nguyễn Quang Sáng. Nhà văn khẳng định sự thành công của Nguyễn Duy
trên nhiều phương diện như đề tài, thể loại, ngôn ngữ…. Tìm hiểu thơ lục bát
Nguyễn Duy, tác giả nhận ra “sự chuyển động biến đổi trong câu chữ”, “từ
nội tâm mà ứa ra”, việc vận dụng, chắt lọc rất tinh tế ngôn ngữ đời thường để

Vũ Thị Loan

10

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tạo ra lời thơ và làm cho tiếng Việt thêm giàu đẹp. Tác giả viết: “Thơ Nguyễn
Duy đậm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian, lời thơ đơn sơ
gần với khẩu ngữ. Tư duy thơ thì hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất phong
vị cổ điển Phương Đông”[16, 96].
Vũ Văn Sỹ trong bài: “Nguyễn Duy - người thương mến đến tận cùng
chân thật” một lần nữa khẳng định sự thành công của Nguyễn Duy ở thơ lục


Trường ĐHSP Hà Nội 2

mạch kết dính chưa nhuần nhuyễn”[22, 201]… Nhưng nhìn chung các nhà
phê bình đều đánh giá cao thơ ông, khẳng định ông là một người “luôn biết
tạo cho mình một tiếng nói riêng cũng mới mẻ hiện đại nhưng bắt sâu vào
những kinh nghiệm của thơ ca truyền thống” [15].
Trên đây là những bài viết về thơ ca Nguyễn Duy nói chung cũng như
tập thơ “Ánh trăng” nói riêng. Qua những bài viết này, những giá trị chung
và nổi bật của tập thơ đã được các tác giả phát hiện và ghi nhận. Điều đó tạo
thuận lợi giúp người đọc tiếp cận tập thơ ở nhiều góc độ cả về nội dung lẫn
hình thức nghệ thuật.
Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu tùy theo quan niệm và sở thích của
mình mới chỉ đề cập đến một khía cạnh, một vấn đề nào đó trong tập thơ
“Ánh trăng”.
Kế thừa ý kiến của người đi trước chúng tôi đi sâu hơn vào “Thế giới
nghệ thuật trong tập thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy” với hy vọng đóng góp
phần nào đó vào việc tìm hiểu sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Duy.
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả khóa luận hướng đến các mục đích sau:
- Tìm hiểu về thế giới nghệ thuật trong tập thơ “Ánh trăng”.
- Có được cái nhìn toàn diện về sự đóng góp của Nguyễn Duy vào nền
thơ ca Việt Nam nói chung.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Khảo sát và tìm hiểu thế giới hình tượng trong tập thơ “Ánh trăng”.
- Chỉ ra một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu thể hiện hình tượng
nghệ thuật trong tập thơ “Ánh trăng”.

Vũ Thị Loan

luận được triển khai thành 2 chương:
Chương 1: Thế giới hình tượng trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy
Chương 2: Một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu

Vũ Thị Loan

13

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG
TRONG TẬP THƠ “ÁNH TRĂNG’’ CỦA NGUYỄN DUY
Khái niệm thế giới nghệ thuật rất rộng, nó bao gồm tất cả các yếu tố,
cấp độ của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Trong đó hình tượng nghệ thuật là
yếu tố trung tâm của chỉnh thể, nơi tập trung mọi mối quan hệ, chúng tôi coi
đây là góc độ tiếp cận tốt nhất để khám phá thế giới nghệ thuật của văn học
nói chung và tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy nói riêng.
Thế giới hình tượng chịu sự chi phối của cách nhà văn nhìn nhận, cắt
nghĩa đời sống. Tìm hiểu thế giới hình tượng trong tập thơ “Ánh trăng” của
Nguyễn Duy, chúng tôi cho rằng thế giới hình tượng thơ ông rất đa dạng. Các
hình tượng thiên nhiên con người luôn kết hợp hài hòa giữa cảnh, sự, ý, tình.
Trong nhiều bài thơ khi cảm xúc dâng trào thì nổi rõ hình tượng tâm trạng. Ở
đây luận văn đề cập đến ba hệ thống hình tượng chính của tập thơ:
- Hình tượng cái tôi trữ tình nhà thơ

năng của nó. Hình tượng cái tôi này chính là nhân vật trung tâm trong tác
phẩm thơ, mang vẻ đẹp độc đáo, không lặp lại.
Ở đây, chúng tôi nghiên cứu hình tượng cái tôi ở cấp độ nhà thơ trong
một tập thơ tiêu biểu. Ở cấp độ này, hình tượng cái tôi là một kiểu nhân vật
trong tác phẩm văn học. Cái tôi trữ tình trong thơ hiện lên qua cách cảm thụ
đời sống, qua cái nhìn, qua giọng điệu. Hình tượng cái tôi trữ tình đến với
người đọc bằng tâm trạng, qua tâm trạng. Nó không hoàn toàn đồng nhất với
con người tác giả mà là kết quả của sự điển hình hóa nghệ thuật khi cá nhân
nhà thơ nghe thấy mình trong người khác, với người khác và cho người khác.
Trong thực tế mỗi thời kỳ văn học, thể loại văn học, mỗi tác phẩm văn
học, mỗi phong cách chỉ nhìn thấy những lớp đời sống nhất định. Vì thế, biểu
hiện cái tôi trữ tình cũng khác nhau. Trong văn học lãng mạn nổi bật là cái tôi
cô đơn sầu muộn khát khao giao cảm với đời, với người. Thể hiện cái tôi
chung này mỗi nhà thơ lại có một cái tôi riêng: Lưu Trọng Lư “triền miên sầu
mộng”, Thế Lữ “ôm mộng chinh phu”, Xuân Diệu “cái tôi cô đơn”, Huy Cận
“hoài vọng xa xăm”. Trong thơ Cách mạng chủ yếu là cái tôi sử thi. Tố Hữu
nổi bật với cái tôi thủy chung, nghĩa tình. Chế Lan Viên nổi bật với cái tôi suy
ngẫm, triết lý. Thơ ca những năm 80 trở về đây nghiêng về cái tôi thế sự với
các tên tuổi như: Thanh Thảo, Nguyễn Duy… Dù ở dạng nào thì cái tôi trữ

Vũ Thị Loan

15

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2


16

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Đến với thơ Nguyễn Duy có thể thấy rõ, cảm hứng về quê hương đất
nước là cảm hứng bao trùm làm nên sức sống cho toàn bộ thế giới nghệ thuật
của ông. Thơ ông thể hiện vẻ đẹp bình dị mà cao quý của cuộc sống con
người trên quê hương, đất nước. Cảm hứng về quê hương đất nước tạo nên
một giọng điệu trữ tình đằm thắm và là âm hưởng chủ âm trong toàn bộ sáng
tác của nhà thơ.
Ở mảng đề tài này, đã có biết bao câu thơ viết về quê hương đầy ám
ảnh trong lòng người đọc. Ai đã từng xa quê mới thấm thía nỗi nhớ quê da
diết của Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị - Yên ba giang thượng sử
nhân sầu” và càng thấm thía hơn khi đọc hai câu thơ của Huy Cận: “Lòng
quê dợn dợn vời con nước - Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Trong đời
thơ của mình, nhà thơ nào mà chẳng có một hoặc vài bài thơ về quê hương để
ghi lại những kỷ niệm không bao giờ mờ phai trong ký ức. Tế Hanh trở về với
con sông quê êm đềm gắn chặt với tuổi thơ: “Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy Bầy chim non bơi lội trên sông”. Tố Hữu nhớ xứ Huế trầm tư, xa vắng: “Huế
ơi quê mẹ của ta ơi - Nhớ tự ngày xưa tuổi chín mười”, Giang Nam bâng
khuâng nuối tiếc tuổi học trò: “Nhớ những buổi trốn học đuổi bướm cạnh cầu
ao - Mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc”. Nguyễn Duy cũng để lại
những bài thơ hay và ấn tượng về quê hương đất nước. Đọc thơ Nguyễn Duy,
Hoài Thanh đã nhận định: những bài thơ hay nhất của anh là “viết về tình
nghĩa thủy chung của con người đối với gốc rễ của mình”.

của cánh cò trắng và những dải mây bay của lúa, cây tre, cây sim mọc trên đất
đai cằn cỗi, của những đêm lễ hội thơm ngát hương huệ, hương trầm…
Những cái tên như “Đò Lèn”, “cống Na”, “chợ Bình Lâm”, “đền cây Thị”,
“đền Sòng”… gợi một nếp quê bình dị và thân thuộc. Nhà thơ bắt đầu bằng
lời giới thiệu thật cởi mở, chân tình về làng quê mình:
“Ai qua Thanh Hóa về Quảng Xá
men rượu là hương vị của làng tôi
nhắc Cầu Bố chắc nhiều người còn nhớ
đình nhà Lê rêu đã phủ bao đời”
(Cầu Bố)
Không gian làng quê được mở rộng với men rượu say, với ký ức về
truyền thống lịch sử. Đất này là nơi Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Đất này còn
là nơi làm ăn sinh sống của bao lớp người lam lũ, nghèo khó.
Ông yêu quê hương không chỉ vì cánh cò trắng, có hương lúa ngọt lành,
có khúc dân ca réo rắt mỗi chiều… có mùa gặt rộn ràng, đầm ấm… Tình yêu

Vũ Thị Loan

18

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

đồng ruộng của Nguyễn Duy giản dị, thấm thía thể hiện qua những hình ảnh
rất cụ thể:
“Vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải



Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

người lính mới đẹp làm sao, nó không chỉ bó gọn trong hai con người mà ở đó
có cả tình yêu Tổ quốc:
“Mặt trời là trái tim anh
mặt trăng vành vạnh là tình của em”
(Bầu trời vuông)
Tình yêu ấy nó gắn liền với những điều thiêng liêng cao cả, yêu nhưng
không quên nghĩa vụ, trách nhiệm với quê hương, đất nước. Đó là tình cảm
chân thành tha thiết của những người lính nơi khói lửa chiến tranh. Thật đáng
quý đáng trân trọng biết bao.
Đến với tập thơ “Ánh trăng”, người đọc bắt gặp một Nguyễn Duy lãng
mạn, đa tình nhưng tình yêu đó không thuần túy là bản năng mà là cái đẹp
trong cái tình của con người đối với con người. Chẳng thế mà một cơn mưa
vô tình, một nụ cười vương lại, một thoáng áo trắng qua đường… cũng như
hút lấy hồn thi sỹ để rồi đọng lại thành thứ tình yêu cháy bỏng mà nhà thơ
dành cho tất cả mọi người:
“Đường nào cũng lắm thương yêu
lối nào cũng đẹp rất nhiều lứa đôi
trong veo là nắng với trời
ngổn ngang thân mến là người với nhau"
(Mưa trong nắng, nắng trong mưa)
Tình yêu làm cho con người ta nhìn mọi thứ trở nên đẹp hơn, sinh động
hơn. Nó hòa vào thiên nhiên và dường như chỉ có thiên nhiên mới diễn tả
được nỗi nhớ ấy.
Xa xôi cách trở, sự hủy diệt của bom đạn kẻ thù càng làm cho tình yêu

hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê”
(Sông Thao)
Đọc thơ Nguyễn Duy, ta hiểu thêm những biến thái của tâm hồn con
người, của một cái tôi rất mực say mê, rất mực yêu đời, chân thành, say đắm,
tình yêu giúp con người trở nên gắn bó với cuộc đời, yêu người, yêu đời hơn.
Như vậy, cái tôi trữ tình của nhà thơ ở đây giàu sức sống và luôn hướng
đến cái đẹp, ông ca ngợi tình yêu, thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng với quê
hương đất nước. Hành trình con đường sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Duy
là về với thiên nhiên trong veo, nguyên sơ, về với những con người bình
thường và vĩ đại. Yêu quê, yêu người lắm nên “anh luôn cảm thấy mắc nợ
cuộc sống, mắc nợ đồng đội”. Theo Lê Quang Hưng: “cái cảm giác đáng quý
ấy cũng là ý thức trách nhiệm thôi thúc anh, nâng giúp anh viết ngày một

Vũ Thị Loan

21

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

nhiều hơn, hay hơn về người chiến sỹ, về quê hương, về những người thân yêu
của mình”[13, 156].
1.1.2.2. Cái tôi trăn trở suy tư trước cuộc đời
Năm 1975 là bước ngoặt lịch sử của đất nước và dân tộc. Đất nước
thống nhất, dân tộc hòa hợp trong một không khí và những điều kiện mới.
Văn học cũng vận động trong những đòi hỏi mới. Tuy nhiên, văn học sau năm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

… “cánh tay cặp khẩu AK
ngày là bệ súng đêm là gối êm”
(Lời ru đồng đội)
Cùng tìm về với nhân dân trong cội nguồn giá trị truyền thống, Nguyễn
Khoa Điềm và Nguyễn Duy đã gặp nhau ở phong tục, giá trị lịch sử của dân
tộc, nhưng Nguyễn Duy không lặp lại những gì mà Nguyễn Khoa Điềm đã
viết. Nếu Nguyễn Khoa Điềm tìm thấy hình tượng nhân dân qua miếng trầu
bà ăn, búi tóc sau đầu của mẹ, qua cái cột cái kèo, qua gừng cay muối mặn…
thì Nguyễn Duy lại thấy nhân dân qua tên đồng, tên lúa, lũy tre làng… Nếu
Thanh Thảo tìm về với đất để thấy trong đó tấm lòng thơm thảo, thủy chung,
thấy sức sống dẻo dai, bền bỉ của dân mình: “Đất nằm im như chết - Có bao
giờ đất chết đâu anh”, Bằng Việt tìm về với linh hồn dân tộc qua những hạt
cát bất tử với dòng chảy thời gian: “Cát thơm hồn cha ông” thì Nguyễn Duy
lại tìm thấy sự hóa thân của nhân dân trong đất. Đất như người nén đau
thương biến thành sức mạnh chống lại sự hủy diệt của kẻ thù. Điều này đã
được Nguyễn Duy khẳng định ở tập thơ đầu tay của mình:
“Phễu bom sâu hóa giếng hồng
đất tuôn lặng lẽ một dòng nước xanh
quê mình đó phải không anh
đau thương mấy vẫn ngọt lành bên trong”
(Đất đỏ - nước xanh)
Tiếp nối mạch cảm xúc ấy, ở tập thơ “Ánh trăng”, Nguyễn Duy viết về
nhân dân bằng cả tấm lòng “thương mến đến tận cùng máu thịt của ta ơi”
(Chiến hào), thơ Nguyễn Duy cho ta hiểu rõ hơn những con người lam lũ, vất
vả nhưng hào hiệp, phóng khoáng, thanh thản trước dòng đời vội vã:
“Ai nghèo thiếu, qua chia cơm sẻ áo
bụng người sôi cũng sôi giống bụng ta

con nhà nghèo. Nơi ấy, mộc mạc, bình dị nhưng quá đỗi thiêng liêng, nó là
nơi đời ông khởi đầu. Với ông, bà là hiện thân của hình ảnh quê hương đơn sơ
mà đầm ấm đã cho ông những năm tháng tuổi thơ vô tư, trong sáng, với niềm
vui nhỏ nhoi, bình dị.
Và khắc sâu, ám ảnh hơn khi ông chứng kiến nỗi khổ của bà trong
chiến tranh tàn khốc:
“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

Vũ Thị Loan

24

K32D – Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”
(Đò Lèn)
Tất cả trở thành nỗi day dứt, xót xa, ân hận khi ông hiểu rõ hơn nỗi cơ
cực của bà:
“Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”
(Đò Lèn)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status