Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
PHần Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Văn học sau năm 1975 cho đến nay, sau hơn ba mươi năm đã có bước
phát triển và đạt được nhiều thành tựu trên nhiều phương diện: trong đó thể
loại văn xuôi được xem là có nhiều thành tựu nổi trội hơn cả, đặc biệt đây
được coi là giai đoạn được mùa của truyện ngắn. Ngoài những cây bút đàn anh
đạt đến độ chín văn chương như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma
Văn Kháng... giai đoạn này còn có sự góp mặt hàng loạt các cây bút trẻ, khởi
đầu là Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anhvà gần đây nhất là
Nguyễn Ngọc Tư.Với một sức viết dồi dào và có nhiều tìm tòi, thể nghiệm
trong sáng tác, các nhà văn này đã tạo được một tiếng nói, giọng điệu riêng
trên văn đàn và được công chúng đón nhận.
Sự đổi mới văn học đã được lí luận văn học nghiên cứu, đánh giá theo
tinh thần mới. Những khái niệm như: chủ đề, hình tượng, tính cách điển hình,
phản ánh không còn được sử dụng y như trước. Thay vào đó là các khái
niệm như: phong cách, cảm hứng, quan điểm nghệ thuật, cấu trúc ngôn
từtạo nên một hệ thống các khái niệm lí luận nhiều màu sắc. Nhìn chung đó
là sự đổi mới góc nhìn và cách tiếp cận với những hiện tượng văn học. Sáng
tác văn học và lí luận văn học luôn song hành trên con đường tiếp tục hiện đại
hoá nền văn học dân tộc. Tính thời sự của hai phạm trù này góp phần quan
trọng trong việc tạo nên diện mạo của nền văn học trong giai đoạn đổi mới
hiện nay.
Một trong những sáng tác văn học gần đây nhất gây được sự chú ý của
độc giả là tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Với mười bốn
truyện, mỗi truyện để lại một dấu ấn riêng, tập truyện được coi là hiện tượng
văn học trong năm 2005 và được giải thưởng của Hội nhà văn 2006.
Có một sự tìm tòi đổi mới nhất định trong cách thức viết, cây bút trẻ
Đôi điều cảm nhận về Cánh đồng bất tận (Đỗ Nguyên Thương)
Cần có cái nhìn công bằng hơn về Cánh đồng bất tận (Ngô Văn Tuần)
Bàn lại với tác giả Bùi Việt Thắng về Cánh đồng bất tận (Trần Thiện
Khanh)
Cánh đồng bất tận và cách kể chuyện sáng tạo (Nguyễn Thanh Tú )
Trên đây là những bài viết trực tiếp về Cánh đồng bất tận. Ngoài ra
trong một số bài báo nghiên cứu về các vấn đề văn học hiện nay như: sự đổi
mới thi pháp, thể tài, cấu trúctruyện ngắn cũng đề cập đôi chút về Cánh
đồng bất tận. Qua những bài viết này, những giá trị chung và nổi bật của tập
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
truyện đã được các tác giả phát hiện và ghi nhận. Tuy nhiên chưa có một công
trình nào đi sâu vào khai thác thế giới nghệ thuật của tập truyện Cánh đồng
bất tận. Kế thừa những phát hiện của các tác giả về giá trị của tập truyện,
người viết bằng cảm nhận riêng của mình, trên cơ sở lí luận văn học muốn
khai thác có chiều sâu hơn qua việc đi tìm hiểu thế giới nghệ thuật. Việc tìm
hiểu thế giới nghệ thuật thường được các nhà nghiên cứu đi sâu vào các nhà
văn lớn, phong cách lớn như: Nguyễn Du, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... Xét
trên góc độ rộng nó thuộc vấn đề Thi pháp học đem lại cho người đọc một
cách hệ thống về giá trị nghệ thuật. Đối với nhà văn trẻ như Nguyễn Ngọc Tư,
sự nghiệp văn học mới bắt đầu song đã đặt được dấu ấn cá nhân và mở ra một
thế giới nghệ thuật đáng để chúng ta lưu tâm trên con đường đi tìm vẻ đẹp văn
Dung lượng thông tin của mỗi truyện ngắn trong tập truyện là khác nhau,
người viết tập trung vào chủ yếu các truyện như: Cánh đồng bất tận, Dòng
nhớ, Biển người mênh mông, Một trái tim khô, Cái nhìn khắc khoải...
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
Phương pháp này giúp chúng ta xem xét, nghiên cứu và tách đối tượng
ra thành nhiều yếu tố (mỗi yếu tố có chức năng, nhiệm vụ khác nhau). Phân
chia như thế, phương pháp này giúp người nghiên cứu nhận ra được sự tác
động chi phối là trực tiếp hay gián tiếp giữa các yếu tố trong cùng một hệ
thống.
4.2. Phương pháp so sánh hệ thống
Phương pháp này giúp ta nhận thức đúng hơn về bản chất vấn đề, qua so
sánh để thấy được sự giống nhau, khác nhau của các yếu tố trong cùng một
loại. Từ đó phát hiện cái riêng, cái độc đáo của vấn đề đang được xem xét và
đặt tên chuẩn xác cho sự độc đáo đó.
4.3. Phương pháp khảo sát đối tượng theo quan điểm loại hình
Phương pháp này giúp cho việc định hướng nghiên cứu vấn đề một cách
đúng đắn, nhất là những vấn đề mới. Bởi yếu tố cơ sở loại hình có thể biến đổi
nhưng vẫn đạt được sự ổn định tương đối cùng với các đặc tính dân tộc.
Trên đây là ba phương pháp chủ đạo người viết đã vận dụng vào nghiên
cứu tập truyện Cánh đồng bất tận một sáng tác văn xuôi hiện đại có nhiều
dịch chuyển về nghệ thuật.
5. Đóng góp của khóa luận
Khám phá Thế giới nghệ thuật trong tập truyện Cánh đồng bất tận
một tập truyện ngắn hiện đại, người viết mong muốn:
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Thế giới là một khái niệm thuộc phạm trù triết học. Theo Từ điển triết
học, thế giới có thể được hiểu:
- Theo nghĩa rộng là toàn bộ hiện thực khách quan (tất cả những gì tồn
tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức con người). Thế giới là nguồn gốc của
nhận thức [tr.1083].
- Theo nghĩa hẹp: dùng để chỉ đối tượng của vũ trụ học, nghĩa là bộ
phận thế giới vật chất do thiên văn học nghiên cứu. Người ta đã chia bộ phận
thế giới vật chất đó thành hai lĩnh vực, nhưng không có ranh giới tuyệt đối:
Thế giới vĩ mô và thế giới vi mô [tr.1083].
Như thế, có thể nói thế giới là một phạm vi rất rộng, một vũ trụ rộng lớn
tồn tại xung quanh con người và độc lập bên ngoài ý thức con người. Có thể
hình dung dưới sơ đồ sau:
Không
gian
Vũ trụ
Con người
Thời gian
Thế giới vật chất, thế giới hiện hữu là như vậy, còn Thế giới nghệ thuật
là gì?
Khái niệm Thế giới nghệ thuật cũng là một phạm trù rất rộng, nó là
thuật ngữ chỉ dùng trong văn học, trong sáng tác nghệ thuật.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
đọc.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
Thế giới nghệ thuật đã khẳng định phương thức phản ánh vũ trụ con
người theo cách riêng của văn học. Người nghệ sĩ muốn khẳng định cá tính
riêng và đem lại cho người đọc nhận thức phong phú thì phải được cho mình
một thế giới nghệ thuật riêng, tức mọi tư duy trong tác phẩm đều nói theo
cách của nhà văn, thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng,
quy luật tâm lý riêng, quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, bậc thang giá
trị riêng.... chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật. Mỗi thế
giới nghệ thuật có mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới: sự hiện
diện của nó không cho phép đánh giá và tác phẩm văn học theo lối đối chiếu
đơn giản giữa các yếu tố hình tượng với các sự thực trong đời sống riêng lẻ
xem có giống hay không, thật hay không mà phải đánh giá trong chỉnh thể tác
phẩm, xem xét tính chân thực tư tưởng chỉnh thể của tác phẩm so với chỉnh
thể hiện thực. Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ
thuật đó.
Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách
cắt nghĩa về thế giới giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của
sáng tạo nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan văn hoá chung, văn hoá
nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ. Với quan niệm này thế giới nghệ
thuật được dùng nhiều trong việc khai thác các tác phẩm của các tác gia lớn
là đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm nghệ
thuật [tr.711].
2.1.1.2. Quan niệm của giáo trình Lí luận văn học do GS. Hà Minh Đức
chủ biên:
Nhân vật trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ,
đó không phải là sự sao chép đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà
chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề
nghiệp, tính cách... Và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật
thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con
người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc hoạ sâu đậm hoặc
chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể, là những sự vật, loài
vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người...Cũng có khi nó
không phải là những con người, sự vật cụ thể là một hiện tượng về con người
hoặc liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm.
2.1.1.3. Quan niệm của PGS. TS Phùng Minh Hiến
Theo PGS.TS Phùng Minh Hiến trong bài giảng của mình thì nhân vật
văn học là đối tượng được miêu tả một cách tập trung đến mức có sức sống
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
riêng nào đó ở bên trong tuỳ theo nhiệm vụ nghệ thuật mà tác giả giao cho nó.
Đối tượng đó có thể là con người (con người có tên, không tên, xuất hiện
nhiều lần hoặc một lần), là đồ vật (cái mũ trong truyện ngắn Sêkhốp), là loài
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
Nhân vật phụ là nhân vật thứ yếu so với nhân vật chính trong diễn biến
cốt truyện. Nó xuất hiện để bổ sung, so sánh, đối chiếu làm sáng rõ nhân vật
chính và nhân vật trung tâm.
2.1.2.3. Dựa trên loại thể văn học
Chia nhân vật thành: nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình và nhân vật tính
cách.
Nhân vật tự sự là nhân vật được thể hiện ở nhiều khái cạnh hành động
như: ngôn ngữ, quá trình phát triển số phận... tham gia vào sự phát triển sinh
động của các phương diện đời sống tạo thành chuỗi các tình tiết, xung đột của
tác phẩm.
Nhân vật trữ tình là nhân vật được thể hiện qua thế giới tinh thần nội
tâm cảm xúc phong phú.
Nhân vật kịch là nhân vật hiện lên chủ yếu qua hành động, ngôn ngữ,
cử chỉ, xung đột. Nhân vật kịch không được miêu tả một cách cụ thể.
2.1.2.4. Dựa trên cấu trúc nhân vật
Chia làm bốn loại: Nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tư
tưởng, nhân vật tính cách
Nhân vật chức năng là nhân vật không có đời sống nội tâm, phẩm chất,
đặc điểm cố định. Sự tồn tại của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng nhất
định.
Là nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đặc điểm của một
loại hình nhất định, nhằm khái quát chung về một loại tính cách.
Nhân vật tính cách là nhân vật được miêu tả gắn với sự phát triển nhận
thức con người về đời sống xã hội. Đó là con người có cá tính nổi bật, trong
đó tính cách nhân vật có biến động, đổi thay.
văn.
2.2. Không gian và thời gian nghệ thuật
Không gian và thời gian là hai phạm trù của vũ trụ. Nó là khái niệm của
triết học và khoa học tồn tại khách quan và tác động đến mọi sự vật, hiện
tượng trong thế giới tự nhiên. Nhưng không gian và thời gian lại là đối tượng
nhận thức của con người, nó được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan của mỗi
người trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Bởi vậy, không gian và thời gian
cũng là một phương tiện quan trọng của nghệ thuật nói chung và văn học nói
riêng. Lí luận văn học chấp nhận hai thuật ngữ không gian nghệ thuật và thời
gian nghệ thuật.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
2.2.1. Không gian nghệ thuật
- Theo Từ điển thuật ngữ văn học
Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ
thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần thật trong nghệ thuật bao
giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn diễn ra trong một trường nhìn nhất
định[3;tr.160]. Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên
mang tính chủ quan, ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng.
Không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối không qui được vào không
gian địa lý và có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của bức tranh thế giới
như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự. Không gian nghệ thuật có thể
một điểm nhìn nhất định trong thời gian. Và cái được trần thuật bao giờ cũng
diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật. Sự phối hợp của hai
yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ
có trong thế giới nghệ thuật. Khác với thời gian khách quan được đo bằng
đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược quay về quá khứ, có
thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài
trong chốc lát thành vô tận [3;tr.322].
Thời gian thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới không
tách rời với chuỗi biến cố cốt truyện. Nó phản ánh sự cảm thụ thời gian của
con người trong từng thời kỳ lịch sử, từng giai đoạn phát triển, thể hiện sự
cảm thụ độc đáo của giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới,
đồng thời thể hiện ý đồ của tác giả trong việc miêu tả đối tượng trong tính vận
động. Vấn đề thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có hai mặt cơ bản,
đó là: quan niệm thời gian của nhà văn và tổ chức thời gian của tác phẩm
- Nhà lí luận Nga D.X.Likhachốp cho rằng: thời gian vừa là khách thể
vừa là chủ thể và đồng thời là công cụ phản ánh văn học. Văn học ngày càng
thấm nhuần ý thức và cảm giác về sự vận động của thế giới trong hình thức hết
sức đa dạng của thời gian (Thi pháp văn học cổ điển Nga La Khắc Hoà
dịch, Tạp chí văn học số 2- 1989)
Trong tác phẩm văn chương, thời gian chỉ trở thành nghệ thuật khi nó
trực tiếp tác động vào nhân vật, vào môi trường mà ở đó diễn ra số phận của
nhân vật và những biến động của tâm tư, tình cảm của con người. Thời gian
nghệ thuật là hình thức của hình tượng nghệ thuật thể hiện tài năng và cá tính
sáng tạo của người nghệ sĩ... nó được nhận biết nhờ các mối quan hệ giữa các
biến cố, có thể là quan hệ nhân quả, quan hệ tâm lí hoặc liên tưởng. Tuy nhiên
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
được chắt lọc, rèn rũa qua bao lao động nghệ thuật của nhà văn; đến lượt mình
nó lại góp phần nâng cao, làm phong phú cho ngôn ngữ nhân dân.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
Trong tác phẩm, ngôn ngữ nghệ thuật là một trong những yếu tố quan
trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng... của nhà văn. Mỗi một
nhà văn là tấm gương sáng về mặt hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù
lao động để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác.
Tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu
cảm là những thuộc tính của ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn học nói
riêng). Căn cứ chủ yếu để phân biệt ngôn ngữ nghệ thuật là hình thái hoạt
động mang ý nghĩa thẩm mĩ. Nó được sử dụng để phục vụ nhân vật trung tâm
và xây dựng hình tượng văn học. Vì vậy tính hình tượng, tính thẩm mỹ là
thuộc tính bản chất nhất, xuyên thấm vào mọi thuộc tính khác quy định thuộc
tính ấy.
Tuy nhiên, những thuộc tính chung vừa nói trên được biểu hiện qua các
thể loại văn học với những sắc thái khác nhau. Ngôn ngữ trong tác phẩm kịch
tập trung chủ yếu vào lời đối thoại giữa các nhân vật với nhau, qua đó bộc lộ
tính cách nhân vật; ngôn ngữ thơ ca là sự chắt lọc nhuần nhuyễn có vần điệu
để bộc lộ tình cảm của nhà thơ; còn ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự là sự tổng
hợp nhiều tính cách. Song, sự khác biệt quan trọng giữa tác phẩm kịch với tác
phẩm tự sự chính là ở chỗ: trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ người kể chuyện
đối thoại với ý thức cùng một đối tượng miêu tả. Nó là yếu tố cơ bản thể hiện
phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính tác giả.
2.3.2.2. Ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ nhân vật là lời nói nhân vật trong tác phẩm thuộc loại hình tự
sự và kịch.
Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương tiện quan trọng được nhà
văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và tính cách nhân vật. Trong tác phẩm,
nhà văn có thể cá hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách
đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lặp lại những
từ, những câu mà nhân vật thích nói...
Dù tồn tại dưới dạng nào, hoặc thể hiện bằng cách nào, ngôn ngữ nhân
vật bao giờ cũng phải đảm bảo sự kết hợp giữa tính cá thể hoá và tính khái
quát hóa. Nghĩa là mỗi nhân vật có một ngôn ngữ mang đặc điểm riêng có lời
ăn tiếng nói riêng, mặt khác ngôn ngữ ấy lại phản ánh đặc điểm ngôn ngữ của
một tầng lớp nhất định, gần gũi với nghề nghiệp, tâm lý giai cấp, trình độ văn
hóa.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
Ngôn ngữ nhân vật là một phạm trù lịch sử. Trong văn học Trung đại do
ý niệm cá nhân chưa phát triển, nó chưa có sự cá thể hoá sâu sắc và chưa phân
biệt với ngôn ngữ tác giả. ở chủ nghĩa hiện thực, ngôn ngữ nhân vật được coi
là một đối tượng miêu tả, cá tính hoá đã trở thành một yêu cầu thẩm mĩ.
Từ sau năm 1975 từ nhận thức và quan niệm mới về con người dẫn tới
những đổi thay trong các kiểu nhân vật. Văn học sau 1975 có sự dịch chuyển
từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm
hứng thể sự đời tư nên khả năng tiếp cận, phản ánh hiện thực con người trong
giai đoạn này một cách nhanh nhạy và sắc bén.
Số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn. Họ
nhìn nhận con người như một cá thể bình thường trong những môi trường sống
đời thường. Họ khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời
thường, của cuộc sống riêng tư. Họ đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá
chiều sâu con người đích thực, khai thác con người ở bên trong con người.
Con người xã hội trong văn học là con người trần thế với tất cả tính chất người
tự nhiên của nó, trong con người ấy có cả ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp
hèn, ý thức và vô thức...
Sự thay đổi trên đã xuất hiện nhiều kiểu nhân vật mới: nhân vật cô đơn,
con người bi kịch, con người lạc thời, nhân vật kỳ ảo, nhân vật bị tha hoá...
Các nhà văn đã phá vỡ cái nhìn một phía, tĩnh tại để tạo ra cái nhìn phức tạp,
sâu sắc hơn. Vì thế đánh giá về cách thức xây dựng nhân vật, vai trò, chức
năng của nhân vật trong thời kỳ văn học này cũng có sự dịch chuyển theo xu
hướng văn học và tư duy nghệ thuật của nhà văn.
Trong tất cả mười bốn truyện của tập truyện Cánh đồng bất tận, mỗi
truyện nhà văn chỉ xây dựng một số nhân vật, thông thường chỉ từ ba đến bốn
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
sống, mơ ước của con người. Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư là những con
người đời thường mà vẫn có nét riêng. Nhân vật được đặt trong môi trường
sống tự nhiên xã hội mà vẫn gợi sức ám ảnh lạ lùng. Phải chăng đó là cái
điệu hồn riêng trong sự cảm nhận cuộc sống con người, số phận con người
của một nhà văn trẻ hiện đại.
Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư thường được thể hiện qua chiều sâu của
dòng ý thức, qua dòng chảy ngôn từ chứ không qua những tình huống mâu
thuẫn xung đột kịch tính bề ngoài, mà ở những mâu thuẫn bên trong do chính
con người tạo ra. Đó là mâu thuẫn giữa con người và môi trường tự nhiên xã
hội: nhân vật bị đẩy vào thiên nhiên càng xa rời cuộc sống xã hội, ngược lại
con người tiếp xúc với môi trường xã hội lại khát khao giao tiếp; mâu thuẫn
trong chính nội tại bản thân con người như: miếng cơm manh áo tình cảm,
tình yêu sự thù hận... Đọc truyện Nguyễn Ngọc Tư, người đọc như trôi vào
dòng chảy tâm trạng của nhân vật mà chiêm nghiệm suy tư. Qua khảo sát tập
truyện Cánh đồng bất tận, chúng tôi đã khái quát lên ba kiểu nhân vật tiêu
biểu đó là: Kiểu nhân vật cô đơn, trốn tránh; kiểu nhân vật suy tư, hồi tưởng
và kiểu nhân vật bi kịch.
1.1. Kiểu nhân vật cô đơn, trốn tránh
Trong văn học, nhân vật rơi vào trạng thái cô đơn và lẩn tránh thường
được miêu tả trong mối quan hệ đấu tranh nội tâm gay gắt ở những nhân vật tư
tưởng, ví dụ như nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao, hoặc một cung
chơi ven đường mơ ước phải chi ông này là ông nội mình, thương đỡ chơi.
Nỗi đau chia cắt cứ xé con người, người chị mong em quay về mà chỉ nghĩ chờ
chơi vậy, và có nhớ là cái nhớ bao gồm rất nhiều thứ nhớ đồng - loại (và tôi
là đồng loại còn lại), nhớ một cách trò chuyện (đọc thấu lòng nhau), nhớ một
người nghe được tiếng tim mình (điều này thì con vịt mù làm được, nhưng nó
đã chết rồi) và nhớ một người che chở (công việc này, đáng lẽ là của cha má
tôi).
Sự trốn tránh của người cha vô hình dung đẩy hai đứa trẻ vào sự cô đơn,
trống trải. Cuộc sống của chúng là qua những cánh đồng, những dòng sông
không tên để trở thành những đứa trả lạc thời. Ta đau xót khi đọc chi tiết một
đứa trẻ mới lớn không ai dạy cho biết thế nào là sự phát triển sinh lý (kỳ kinh
nguyệt đầu tiên và có con). Cái nhà mà hai đứa trẻ ấy gọi là cái chòi tạm bợ
hay cái ghe những cánh đồng, những dòng sông vô định. Nó vẫn tồn tại vì có
cha, có con, có những hoạt động sống, chỉ có điều sống đời mục đồng, chúng
tôi buộc mình đừng yêu thương, quyến luyến bất cứ ai, để khỏi ngậm ngùi, để
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân
khỏi dửng dưng khi cuốn lều, nhổ sào đi sang cánh đồng khác, dòng kinh
khác... và cuộc tình của cha tôi ngày càng ngắn ngủi.
Con người tự đẩy mình ra khỏi mối quan hệ với xã hội càng trở nên cô
đơn và lảng tránh khi đối diện với ý thức trở lại, thậm chí nhẫn tâm chà đạp
lên chính tình thương của mình. Người cha vì hận tình mà bỏ rơi bao người
Phạm Thị Vân
Nhân vật chính trong truyện Cánh đồng bất tận- cô bé Nương hơn ai
hết cảm nhận cái nặng nề trôi qua của cuộc sống. Cô khao khát một cuộc sống
bình thường, khao khát sự bình yên trở lại trong tâm hồn của người cha, cố níu
kéo bằng sự giao tiếp qua tiếng gọi con thông thường của người cha Điền ơi!
Điền! hay Nương à, nướng mấy con cá khô, cha lai rai với mấy bác... Niềm
vui ấy chỉ được trong chốc lát, để rồi khi khuất bóng người Chị em tôi đắng
đót nhìn cha hao hao người đóng tuồng vừa chút lớp xanh xao, lạnh lẽo đến
ngơ ngác và cô đơn. Cô đơn hơn cả là khi mình cảm nhận người xung quanh
còn cô đơn hơn mà không biết làm gì, chấp nhận sự trượt dài và nỗi thiếu
thốn triền miên. Mỗi lần dời khỏi một nơi nào đó, thật khó để phân biệt,
chúng tôi bỏ đi hay chạy trốn. Chúng tôi đánh mất cái quyền được đưa tiễn,
được xao xuyến nhìn những cái vẫy tay, được nhận vài cái món quà quê như
buồng chuối già hương hay bó rau ngót cắt trong vườn, cùng lời dặn dò quyến
luyến đi mạnh giỏi hen...
Nguyễn Ngọc Tư đã không ngại ngần khi đặt nhân vật của mình trước
những cảnh riêng tư của con người mà trơ ra, đánh mất cảm xúc, bản năng
sinh lý. Đó là việc để hai đứa trẻ chứng kiến những người đàn ông thợ gặt làm
tình với những người phụ nữ trên cánh đồng, trực tiếp hơn là cảnh người cha
lật cạch những người phụ nữ ra giống như mấy con vịt đạp mái trên chiếc
chòi nhỏ. Khi chứng kiến những cảnh đó, hai đứa trẻ cố giả đò nhắm mắt
hay khinh khỉnh cười khào, thằng Điền chối bỏ niềm vui được trở thành
một người đàn ông thực thụ, nó kìm hãm bản năng trỗi dậy mạnh mẽ ở tuổi
dậy thì bằng tất cả sự miệt thị, giận dữ, căm thù. Nó phản kháng bằng cách
trút sạch những gì cha tôi có, cha tôi làm. Còn đàn bà, với cha, càng trải
nghiệm càng chán chường, càng gieo rắc, càng đau.
Trong tác phẩm, không ít người lên tiếng vùng vẫy nhưng càng lên
tiếng càng thấy cô đơn, tuyệt vọng. Đó có thể là hành động rất trẻ con: Có
lần, khi đi trên sông thằng Điền giả đò té chìm nghỉm mất tăm, tôi giả đò kêu
Nếu như trong truyện Cánh đồng bất tận, con người được đặt trong mối
quan hệ với môi trường tự nhiên xã hội và cả mối quan hệ gia đình để có tất
cả những lý do để buồn, để cô đơn thì đến một số truyện ngắn khác như: Biển
người mênh mông, Hiu hiu gió bấc, Một trái tim khô... Cái cô đơn trong con
người lại được biểu hiện ở khía cạnh khác nhưng vẫn diễn ra thầm kín trong
lòng, dai dẳng trong nội tâm, cái cô đơn tự con người khi đối diện với chính
mình càng thấy rõ hơn.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
K29G Ngữ Văn