Nghiên cứu chế tạo màng bao gói thực phẩm ăn được trên cơ sở tinh bột dẻo hoá - Pdf 31

Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

Mở đầu

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu của người tiêu dùng về các
sản phẩm thiết yếu hàng ngày đang ngày một gia tăng, đặc biệt là nhu cầu về các
mặt hàng thực phẩm. Một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để người tiêu dùng
lựa chọn thực phẩm là chất lượng của sản phẩm. Việc nghiên cứu các phương
pháp để đảm bảo chất lượng sản phẩm từ lâu đã được các nhà khoa học nghiên
cứu như: bảo quản lạnh, bảo quản bằng hoá chất, bảo quản bằng việc bao gói..
Việc sử dụng màng bao gói thực phẩm có ảnh hưởng lớn đến các thuộc
tính của sản phẩm, chúng quyết định chất lượng của sản phẩm và làm giảm tối
đa mức độ thay đổi đối với sản phẩm. Một trong những thách thức đối với các
loại màng bao gói thực phẩm công nghiệp trong quá trình sản xuất là phải giữ được tính bền của sản phẩm hay hạn sử dụng của chúng. Màng phủ thực phẩm
phải có tính ổn định, duy trì được tính chất hóa học, tính năng bảo vệ và tính
năng sử dụng trong suốt quá trình bảo quản.
Màng phủ ăn được là một loại màng phủ thực phẩm được sử dụng rất phổ
biến nhằm cải thiện chất lượng của thực phẩm. Tác dụng của nó đã thể hiện rõ
trong thực tiễn và được khẳng định bằng chính những đánh giá, sức tiêu thụ của
khách hàng.
Nhằm nghiên cứu, tìm hiểu về màng phủ thực phẩm, trong khóa luận
này,chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu chế tạo màng bao gói thực phẩm
ăn được trên cơ sở tinh bột dẻo hoá”

Lớp sư phạm hoá – K30B

1

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2

Lớp sư phạm hoá – K30B

2

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

Hai nhân tố quan trọng trong quá trình bao gói các loại thịt đỏ là màu sắc
và vi sinh vật. Bao gói bằng khí quyển biến đổi MAP, trong đó không khí thường
được thay thế bằng hỗn hợp 70-80% O2 và 20-30% CO2, thường được sử dụng
để bảo đảm độ bền màu sắc và vi sinh vật. Bao gói bằng khí quyển biến đổi
MAP với hàm lượng CO2 và N2 cao hay bao gói bằng chân không thường được
sử dụng để duy trì độ bền màu sắc và vi sinh vật. Trong các loại thịt tươi thì vật
liệu bao gói có thể ngăn chặn sản phẩm bị khô do mất ẩm.
1.1.2.2. Đồ ăn sẵn [17,19]
Thời hạn bảo quản của các loại thực phẩm ăn sẵn trong quá trình bảo quản
lạnh được xác định bởi mức độ thay đổi oxi hóa và phát triển của vi sinh vật.
Nhằm giảm bớt các phản ứng có hại trong đồ ăn nhanh, vật liệu bao gói phải có
khả năng thấm oxi và hơi nước thấp. Bao gói bằng khí quyển biến đổi với N2
thay cho O2 và CO2 nhằm ức chế vi sinh vật thường hay được áp dụng nhất.
1.1.2.3. Sản phẩm bơ sữa [18, 19]
Sữa, kem và các sản phẩm lên men từ sữa hầu hết các loại phomat đều cần
bao gói thấm ít O2 nhằm tránh quá trình oxi hóa và sự phát triển của các vi sinh
vật không mong muốn. Tỷ lệ CO2/O2 cao là cần thiết để tránh bao gói không bị
phồng. Phomat mốc thì cần thông thoáng không khí để thúc đẩy sự phát triển của
nấm mốc. Trong khi đó, phomat làm chín bằng nấm mốc bề mặt cần hạn chế

thể thực hiện được bằng cách kiểm soát các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm tương
đối, thành phần khí (etylen, CO2, O2), ánh sáng hoặc bổ sung các loại phụ gia
thực phẩm và xử lý như phủ sáp và chiếu xạ. Hư hỏng vật lý (khuyết tật bề mặt,
va đập nhẹ) có thể kích thích quá trình hô hấp và sản sinh ra khí etylen do đó làm
tăng quá trình già hóa. Việc lựa chọn vật liệu bao gói phức tạp do nó phụ thuộc
vào tốc độ hô hấp và thoát hơi nước riêng của các sản phẩm khác nhau. Vật liệu
bao gói lý tưởng phải có khả năng thấm để duy trì quá trình hô hấp trong sản
phẩm sao cho cân bằng khí quyển (tỉ lệ CO2/O2) bên trong vật liệu bao gói là tối
ưu. Vật liệu bao gói phải giữ được mùi vị mong muốn, ngăn chặn được quá trình
mất mùi, tránh được ánh sáng và chống lại được các hư hỏng cơ học.
1.1.2.6. Đồ ăn nhẹ [19]
Hầu hết các kiểu hư hỏng thường thấy của đồ ăn nhẹ là mất độ giòn và
tăng lượng mỡ ôi. Do vậy, độ thấm hơi nước và oxi thấp là tối quan trọng. Độ

Lớp sư phạm hoá – K30B

4

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

bền cơ học thường cần thiết cho sản phẩm ăn nhẹ để ngăn cản sự vỡ vụn của sản
phẩm.
1.1.2.7. Sản phẩm đông lạnh [17, 19]
Hầu hết các kiểu hư hỏng thường thấy của thực phẩm đông lạnh là sự phân
huỷ của chất màu, giảm hàm lượng vitamin và oxi hoá lipit. Do đó, vật liệu bao


mang phụ gia sản phẩm như các tác nhân kháng khuẩn và chống oxi hoá, làm
giảm sự hấp thụ dầu của các sản phẩm trong quá trình chiên rán.
1.2.1. Màng phủ trên cơ sở lipit
1.2.1.1. Sáp mỡ dầu [6, 15, 18, 19, 20]
Màng phủ thực phẩm bằng chất béo đã được sử dụng ở Anh từ thế kỉ 16.
Sáp (sáp carnauba, sáp ong, sáp từ parafin) và dầu (dầu khoáng, dầu thực vật) đã
có mặt trên thị trờng từ cuối thập niên 30 dới dạng lớp phủ bảo vệ cho rau quả
tươi. Vào cuối những năm 50, một số nhà chế biến ở Mĩ đã áp dụng các loại lớp
phủ bóc được từ sáp vi tinh thể có nguồn gốc từ dầu mỏ cho thịt đông lạnh như
bò, cừu, bê, hamburger và thịt hộp. Nói chung lớp phủ sáp có khả năng chống
truyền hơi ẩm cao hơn so với các lớp phủ ăn được từ lipit và không lipit khác.
Tuy nhiên, các lớp phủ từ dầu sáp cũng như từ dầu và chất béo đều bộc lộ những
vấn đề về khả năng nhận cảm (mùi sáp, mùi ôi).
Các loại thịt cắt tươi được bảo vệ bởi 1 lớp phủ từ chất béo nấu chảy thì có
chất lượng cao hơn so với các mẫu đối chứng không phủ cả về màu sắc và khả
năng duy trì độ ẩm trong quá trình bảo quản ở 2-4oC. Thịt gia cầm và cá đông
lạnh không bị tách nước khi phủ bằng nhũ tương dầu trong nước được chuẩn bị ở
60-80oC bằng cách trộn mỡ động vật hoặc dầu thực vật với chất nhũ hoá, nước,
và thường là tác nhân bảo quản và gia vị. Thịt làm khô đông lạnh thường bị suy
giảm khả năng hấp thụ ẩm trong quá trình bảo quản khi phun 1 lớp phủ trên cơ
sở chất béo hoá lỏng lên các miếng thịt tách nước trong khoảng 52-79oC. Các lớp
phủ này bao gồm mỡ bò, mỡ lợn, một tri-glyxerit của axit béo và axit lactic
(glyxerin lactopanmitic) và dầu mỡ thực vật. Các ancol hoặc axit béo no mạch
dài (16-20 nguyên tử cacbon) đã được sử dụng làm lớp phủ bảo vệ để kiểm soát
khả năng mất ẩm của thịt đông lạnh. Các lớp phủ này được áp dụng lên thịt trước

Lớp sư phạm hoá – K30B

6

chúng nên màng polisaccarit thường có khả năng chắn hơi nước hạn chế. Tuy
nhiên khi được áp dụng dưới dạng lớp phủ, dạng gel có hàm lượng cao, một số
polysaccarit có thể làm chậm quá trình mất ẩm của thực phẩm nhờ hoạt động
như một tác nhân vi sinh thay vì chắn ẩm.

Lớp sư phạm hoá – K30B

7

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

1.2.2.1. Alginat [18] [6] [22] [15]
Alginat là chất được chiết từ rong nâu thuộc họ Phaephyceae, là dẫn xuất
của alginic axit, một copolyme mạch thẳng của các monome D-manuronic và Lgunuronic axit. Màng được tạo ra bằng cách cho bay hơi nước từ 1 lớp mỏng của
dung dịch alginat, là chất không thấm dầu và mỡ nhưng giống như các
polysaccarit ưa nước khác, chúng có tính chất thấm hơi nước cao. Khả năng
phản ứng của alginat với cation hoá trị II hoặc III được dùng để chế tạo màng
alginat. Ion Ca2+ là tác nhân tạo gel hiệu quả hơn Mg2+, K+, Al3+, Fe2+, Fe3+ , nó
tạo cầu nối alginat với nhau qua tương tác giữa các ion, hiện tượng này là liên
kết hyđro giữa các mạch.
1.2.2.2. Carrageenan [18, 19]
Carrageenan là một polyme glactoza được chiết từ rong Irish
(Chandruscrispus) và từ các loại tảo đỏ khác. Carrageenan là một hỗn hợp chứa
ít nhất 5 polyme riêng biệt được ký hiệu là i, l, ỡ, c và n - Carrageenan. Trong số
đó hỗn hợp của i, c, và l - Carrageenan được dùng trong thực phẩm. Quá trình

đầu. Cũng giống như màng carrageenan, màng agar được bổ sung chất kháng
khuẩn tan trong nước (như: clo tetraxylin, oxitetracylin) rất hiệu quả trong việc
kéo dài thời gian bảo quản của thịt gia cầm trong điều kiện bảo quản ở 2 0C. Thời
gian bảo quản của thịt bò ở 50C được kéo dài hơn 2 ngày khi sử dụng màng agar
được hoá dẻo bằng glyxerin và được bổ sung clo tetraxylin. Mặc dù tương đối
dày nhưng màng agar này không làm giảm lượng ẩm từ thịt như lớp phủ glyxerit
axetyl hoá hoặc màng etylxenlulozơ.
1.2.2.4. Dextran [15, 18, 22]
Dextran là hỗn hợp gồm vi khuẩn được tạo thành từ các đơn vị a-Dglucopyranosyl với nhiều loại và lượng liên kết glycozit khác nhau. Leuconostoc
mesenteroide và L-dextran là các vi sinh vật thường được sử dụng trong sinh
tổng hợp dextran từ quá trình lên men sucrozơ. Lớp phủ dextran được áp dụng
dạng dung dịch nước lỏng hoặc huyền phù để dùng cho tôm nguyên con, tôm
bóc vỏ, cá và các sản phẩm thịt như dăm bông, xúc xích, thịt xông khói để giữ hương vị, màu sắc và độ tươi trong quá trình bảo quản lạnh hoặc đông lạnh.
1.2.2.5. Các ête xenlulozơ [9, 15, 18]
Xenlulozơ tự nhiên ở dạng thể không hoà tan trong nước lạnh có khối
lượng phân tử cao. Khả năng phản ứng của 3 nhóm hydroxyl ở vị trí 2, 3 và 6

Lớp sư phạm hoá – K30B

9

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

trên mạch glucozyl của xenlulozơ đã được sử dụng để tạo các dẫn xuất có ích,
các ête xenlulozơ khác là các hợp chất polyme tạo thành bằng cách thay thế một


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

Tuy nhiên, lớp phủ ở nhiệt độ cao có ảnh hưởng tiêu cực tới bề ngoài của
sản phẩm do làm hư hỏng tế bào bề mặt và làm đông tụ dịch từ thịt chảy ra. Các
lớp phủ trên cơ sở este xenlulozơ của axit hữu cơ như xenlulozơ propionat,
xenlulozơ axetat, xenlulozơ butyrat đã được sử dụng để bảo quản chất lượng thịt
tươi và thịt chế biến. Tuy nhiên, các lớp phủ trên cơ sở este xenlulozơ không ăn
được và phải bóc khỏi thịt và bề mặt thực phẩm khác trước khi nấu.
1.2.2.6. Màng trên cơ sở protein [6,10,18]
Khả năng tạo màng và tính chất của protein động - thực vật như collagen,
gelatin, protein sữa, gluten lúa mỳ, protein đậu nành, zein ngô và protein lạc đã
được nghiên cứu. Tương tự như màng polysaccarit, màng protein có tính chất
thấm hơi nước tương đối cao, gấp từ 2-4 lần so với vật liệu bao gói thông thường
như: PE, PP, polyeste và PVC. Mặt khác, màng từ collagen gluten lúa mỳ, zein
ngô, protein đậu nành và protein váng sữa thường có tính chất chắn O2 tốt trong
các môi trường có độ ẩm tương đối thấp.
Một vấn đề trong việc áp dụng lớp phủ protein cho thịt sống, thịt gia cầm
và hải sản thô là khả năng chấp nhận protein đối với các enzym thủy phân
protein có trong các loại thực phẩm này. Hơn nữa, về phương diện khả năng
chấp nhận của người tiêu dùng và yêu cầu nhãn mác của sản phẩm, việc áp dụng
các lớp phủ protein trên thịt và các sản phẩm khác phải tính đến các phản ứng có
hại có thể xảy ra đối với protein.
1.3. Màng ăn đƣợc trên cơ sở tinh bột hóa dẻo
1.3.1. Giới thiệu về màng tinh bột và dẫn xuất trên cơ sở [5, 8, 10, 11, 12, 16,
18, 19, 21, 23]
Amylozơ, phần liên kết mạch thẳng của tinh bột có khả năng tạo màng
chắc, tương đối bền,trái ngược hẳn với màng amylopectin dòn và không liên tục.

hưởng của màng tinh bột khoai lang có thể được so sánh với màng bao gói PVC.
Màng tinh bột và PVC làm giảm đáng kể tỷ lệ quả hỏng so với đối chứng.
Sử dụng màng phủ ăn được để kéo dài thời gian bảo quản rau quả đã được
nghiên cứu trong những năm gần đây. Màng phủ tinh bột phù hợp với các điều
kiện nhiệt độ và độ ẩm tương đối, chắn oxi và cacbonic tốt nhưng chắn hơi nước
kém. Các đặc trưng này rất phù hợp để bảo quản rau quả, do nó làm giảm tốc độ
hô hấp nhờ hạn chế tiếp xúc với oxi xung quanh và tăng cacbonic bên trong, vì

Lớp sư phạm hoá – K30B

12

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

vậy chậm quá trình chín. Việc chắn hơi nước kém cho phép nước di chuyển qua
màng, ngăn quá trình ngưng tụ nước, có thể là nguồn vi khuẩn có hại cho rau.
Trong các loại quả mọng thì dâu tây mới được đưa ra thị trường trong
những năm gần đây và nguyên nhân chính gây hư hỏng và thối rữa khi bảo quản
là do vi khuẩn. Phương pháp phổ biến để duy trì chất lượng và hạn chế quá trình
hư hỏng của dâu tây là làm mát nhanh sau khi thu hoạch và bảo quản ở nhiệt độ
thấp trong khoảng 0-40C với độ ẩm cao. Quá trình hư hỏng của dâu tây sau khi
thu hoạch có thể được hạn chế bằng cách sử dụng thuốc diệt nấm, tuy nhiên
thuốc còn sót lại đã ảnh hưởng đến cảm quan và giá trị dinh dưỡng của quả tươi.
Tinh bột được phân loại phân loại trên cơ sở hàm lượng amylozơ, với hàm lượng
amylozơ trung bình trong khoai tây và ngô. Chất lượng của quả được đánh giá

Glyxerin được xác nhận là một chất hoá dẻo tốt cho tinh bột và có thể làm
tăng khả năng gia công của tinh bột. Với sự tăng hàm lượng glyxerin độ nhớt
biểu kiến của tinh bột nóng chảy và nhiệt độ hoá thuỷ tinh đều giảm. Phân tích
SEM đã cho thấy glyxerin có thể giúp phá huỷ cấu trúc hạt của tinh bột trong khi
đùn và chế biến nó thành vật liệu nhựa nhiệt dẻo và có thể chế biến lại.
ảnh hưởng của hàm lượng amylozơ của tinh bột, loại chất dẻo hóa (glyxerin và
sorbitol) và kể cả tác nhân chống vi khuẩn trong công thức của màng phủ cũng
đã được phân tích. Đặc tính vi cấu trúc của màng có liên quan đến độ thấm hơi
nước (WVP) quan sát được. Màng phủ được chế tạo từ tinh bột với hàm lợng
amylozơ cao hơn làm giảm WVP, làm giảm hao hụt khối lượng duy trì độ chắc
quả trong thời gian bảo quản dài hơn là màng từ tinh bột có hàm lượng amylozơ
trung bình. Màng phủ chứa sorbitol có WVP nhỏ hơn so với glyxerin. Cả
sorbitol và glyxerin đều làm giảm hao hụt khối lượng, duy trì độ bền và màu sắc
bề mặt của hoa quả, sorbitol với hàm lượng 20g/lít cho hiệu quả dẻo hóa cao
nhất. Sorbitol được sử dụng rộng rãi trong các công thức màng ưa nước. ảnh hưởng của chất dẻo hóa lên tính thấm hơi nước và khí phụ thuộc vào chất nền, loại
chất dẻo hóa và điều kiện môi trường. Màng phủ chứa sorbitol giúp làm giảm
tổng số vi khuẩn. Việc bổ sung kali sorbat làm màng hiệu quả hơn do thời gian
bảo quản được kéo dài đến 28 ngày khi so với 14 ngày không phủ.
1.3.3. Một số đặc tính của màng ăn được trên cơ sở tinh bôt [18]
1.3.3.1. Độ thấm hơi nước của màng tinh bột ăn được [10, 20]
Quá trình vận chuyển nước trong màng ăn được trên cơ sở tinh bột là một
hiện tượng phức tạp do tương tác mạnh của phân tử nước thấm vào cấu trúc

Lớp sư phạm hoá – K30B

14

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2



Lớp sư phạm hoá – K30B

15

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

ảnh hưởng của lượng nước và glyxerin lên độ thấm khí của màng tinh bột
polyme đã được nghiên cứu. Màng tinh bột được tổng hợp từ amylozơ và
amylopectin. Trong môi trường ẩm thì loại màng này có tính chất chắn oxi rất
tốt. Do tinh bột có khả năng được sử dụng như màng chắn để bảo vệ thực phẩm
và bảo quản thực phẩm nên có thể đóng vai trò chắn khí. Một nghiên cứu khác
về độ thấm khí qua màng tổng hợp từ tinh bột khoai tây, gạo và lúa mì được
phân tích ở thang nhiệt độ rộng, khuếch tán khí tăng khi tăng nhiệt độ và hàm lượng nước. Độ ẩm tương đối trong quá trình làm khô màng ở 230C trong khoảng
từ 20-90% không ảnh hưởng đến độ thấm oxi của màng. Độ thấm oxi của màng
tinh bột dẻo hóa bằng glyxerin ở nhiệt độ cố định phụ thuộc vào hàm lượng nước
của màng. Nếu hàm lượng nước < 15% màng có tính chất chắn khí tốt nhưng
nếu hàm lượng nước tăng lên 20% thì tính chất chắn mất đi. Cấu trúc của polyme
tinh bột không ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển oxi.

Lớp sư phạm hoá – K30B

16

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2




Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

gia nhiệt. Quá trình này đảm bảo sự phân rã các hạt tinh bột để hình thành hỗn
hợp phân tán đồng nhất. Chất hóa dẻo glyxerin được thêm vào với hàm lượng
khác nhau. Sau khi để nguội đến khoảng 400C, dung dịch được rót lên đĩa petri
có đường kính 9cm và trải đều bằng đũa thủy tinh. Các đĩa này được giữ trong tủ
sấy chân không ở 600C. Sau 15h, các đĩa được lấy ra khỏi tủ sấy và màng được
bóc ra.
2.2.2. Các tính chất cần khảo sát
2.2.2.1. Độ dày màng
Độ dày màng được xác định bằng máy đo chiều dày cầm tay Quanic 1500
cho vật liệu không dẫn với nền không từ tính. 15 giá trị được đo ngẫu nhiên trên
màng ở các điểm khác nhau trong mỗi mẫu và giá trị trung bình được tính với sai
số không quá 5%.
2.2.2.2. Quan sát định tính
Quan sát và đánh giá bề ngoài của màng dựa trên độ đục, độ nhẵn - thô, độ
cứng - mềm.
2.2.2.3. Độ thấm hơi nước của màng
Độ thấm hơi nước của màng được xác định bằng cách cho một lượng xác
định CaCl2 khan vào chén cân có khối lượng đã biết. Phủ màng tinh bột lên trên
bề mặt chén cân, đem cân để xác định khối lượng ban đầu. Định kỳ xác định sự
thay đổi khối lượng chén cân. Từ sự thay đổi về khối lượng chén cân ta sẽ xác
định được độ thấm hơi nước qua màng tinh bột.
WVT = x.w/A (gH2O.mm.cm-2)
Trong đó:
- WVT: lượng hơi nước truyền qua màng (g.h-1.mm-1).

a

b

Trong đó:

a: độ dày màng (mm)

Lớp sư phạm hoá – K30B

19

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp
b: độ dài của phần thân, ở đây là 20 mm.
Chiều rộng 4 mm.
2.2.2.6. Hình thái học

Nghiên cứu hình thái học bề mặt của màng tinh bột bằng phương pháp
chụp ảnh kính hiển vi điện tử quét trên máy Hitachi S4800 (Singapore) tại Viện
khoa học vật liệu - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2.2.2.7. Phân tích nhiệt
Phân tích nhiệt vi sai (DTA) được ghi trên máy TA - 50 Shimadzu với tốc
độ gia nhiệt 100C/phút từ nhiệt độ phòng đến 6000C.

Lớp sư phạm hoá – K30B

gian trong phân tử, nhờ đó làm giảm độ dòn của màng. Glyxerin liên kết với các
phân tử tinh bột làm cho sức căng cố kết của phân tử trong các mạch polyme gắn
kết bị yếu đi khiến cho cấu trúc mềm dẻo hơn. Glyxerin được kết hợp đồng thể
trong mạng lưới các liên kết hydro giữa tinh bột, do vậy màng trở nên mềm,
trong suốt và dẻo hơn.
3.1.2. ảnh hưởng của chất hóa dẻo tới chiều dày màng
Đo độ dày màng tinh bột với hàm lượng chất hóa dẻo thay đổi từ 0 đến
35%. Kết quả được trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. ảnh hưởng của chất dẻo hoá tới chiều dày và bề ngoài của màng
Hàm lượng chất

Chiều dày màng

hóa dẻo ( % )

( mm )

Bề ngoài của màng

0

0,051 ±

0,0015

Trong, dai, dòn, không nhẵn

20

0,055 ±

dẻo dày hơn màng không được hóa dẻo. Điều này là do glyxerin có thể xâm

Lớp sư phạm hoá – K30B

22

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

nhập vào mạng lưới của tinh bôt nhanh chóng và dễ dàng để tạo màng dày và
chắc hơn.
3.1.3. ảnh hưởng của chất hóa dẻo tới độ tan của màng
Nghiên cứu ảnh hưởng của chất hóa dẻo đến độ hòa tan của màng. Kết quả
được trình bày trong bảng 2.
Bảng 2. Quan hệ giữa độ hoà tan và nồng độ chất dẻo hoá
Hàm lượng chất hóa dẻo (%)

Độ tan (%)

0

15

20

17


Vũ Minh Đức

Khóa luận tốt nghiệp

Bảng 3. ảnh hưởng của chất dẻo tới tính chất cơ lý của màng
Hàm lượng chất hóa dẻo ( % )

Độ bền kéo ( MPa )

Độ dãn dài tương đối (%
)

0

17,84

10,1

20

11,72

36,2

25

9,31

38,7

Lớp sư phạm hoá – K30B

24

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2


Vũ Minh Đức

Độ thấm hơi nước (g.mm.cm-2)

Khóa luận tốt nghiệp

12
10
8
6
4
2
0
0

10

20

30

40


Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status