LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp,
tác giả đã nhận được sự động viên, giúp đỡ quý báu của nhiều đơn vị và cá
nhân.
Trước tiên, tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy/Cô
giảng viên lớp Cao học Quản lý giáo dục – K19A của Trường Đại học Vinh
đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và cung cấp những kinh nghiệm quý báu về
phương pháp nghiên cứu và quản lý giáo dục.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, quý thầy cô giảng viên,
cán bộ, nhân viên Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Y khoa Vinh, các
bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt khóa học
này.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS.TS Thái Văn Thành,
người đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để tác giả hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song chắc chắn
rằng luận văn này sẽ không thể tránh khỏi một vài thiếu sót. Tác giả rất mong
nhận được sự góp ý của quý thầy cô giảng viên và các bạn đồng nghiệp.
Tác giả
Nguyễn Thị Ý Nhi
MỤC LỤC
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBGV
CBQL
CĐHA
CK I
CK II
Học sinh sinh viên
Khoa học cơ bản
Nghiên cứu khoa học
Tổ chức cán bộ
Trung cấp chuyên nghiệp
Uỷ ban nhân dân
Tổ chức y tế thế giới
Y tế công cộng
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm
của toàn Đảng, toàn dân, trong đó đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò hết sức quan trọng.
Trong lịch sử nước ta, “Tôn sư trọng đạo” là truyền thống quí báu của
dân tộc, nhà giáo và nghề dạy học bao giờ cũng được xã hội tôn vinh. Những
năm qua, chúng ta đã xây dựng được lực lượng đông đảo đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị
tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này
đã đáp ứng yêu cầu quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển giáo dục trong thời
kỳ CNH - HĐH, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn có những hạn
chế, bất cập. Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các
liên quan đến con người. Vì vậy, Nhà trường nhận thức được tầm quan trọng
của việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đào tạo nhất là đối với
một trường đại học còn non trẻ (mới được thành lập ngày 13/7/2010 theo
quyết định 1077/QĐ-TTg trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Y tế Nghệ
An)- lại càng trở nên cần thiết và cấp bách. Bên cạnh phải đảm bảo về số
lượng, còn phải chú trọng đến vấn đề chất lượng và cơ cấu phù hợp. Bởi đây
6
là một ngành đặc thù vừa là thầy giáo, vừa là thầy thuốc, do vậy hơn bao giờ
hết phải xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý đào tạo vừa có phẩm chất
đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp, đạo đức y tế; vừa có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ.
Để nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ y tế đáp ứng yêu cầu chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe nhân dân của tỉnh Nghệ An và một số tỉnh lân cận, cần
thiết phải xây dựng được một hệ thống giải pháp quản lý trong nhà trường. Từ
đó, đưa trường trở thành một trường đại học đào tạo ra đội ngũ thầy thuốc có
chất lượng cho tỉnh nhà và khu vực Bắc trung bộ, góp phần khẳng định vị thế
của một đô thị loại 1 trong vùng và cả nước. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng
yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành
công Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 và chấn hưng đất nước.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Một số giải pháp quản lý
nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Đại học Y khoa Vinh, tỉnh Nghệ An".
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở
Trường Đại học Y khoa Vinh, tỉnh Nghệ An.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý đào tạo ở trường đại học y khoa.
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm
6.3. Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu
8
7. Đóng góp của đề tài
7.1. Về mặt lý luận
Hệ thống hoá và làm rõ hơn cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo
ở trường đại học.
7.2. Về mặt thực tiễn
Làm rõ thực trạng quản lý hoạt động đào tạo ở Trường Đại học Y khoa
Vinh; đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo ở Trường Đại học Y khoa Vinh.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý chất lượng đào tạo ở Trường Đại
học Y khoa.
- Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ở Trường Đại học Y
khoa Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở
Trường Đại học Y khoa Vinh, tỉnh Nghệ An.
9
10
Chương 1
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Trên thế giới cuộc cách mạng công nghệ phát triển mạnh mẽ, làm nền
tảng cho sự phát triển nền kinh tế tri thức và thế giới đang hướng tới cuộc
cách mạng công nhiệp lấy tri thức làm động lực phát triển. Trình độ đổi mới
và ứng dụng tri thức quyết định trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Sự phát
triển khoa học công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp
giáo dục trong các nhà trường, đồng thời đòi hỏi giáo dục phải cung cấp
nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội.
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã tạo ra những trào lưu
đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục ở nước ta, tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho nền
giáo dục trong nước nhanh chóng tiếp cận các xu thế mới, tri thức mới, những
mô hình giáo dục hiện đại, tận dụng các kinh nghiệm quốc tế đổi mới làm thu
hẹp khoảng cách giữa nước ta và các nước khác.
Phát triển giáo dục trong nền kinh tế hội nhập đã đặt ra những yêu cầu
lớn trong việc dào tạo nguồn nhân lực, không chỉ đáp ứng về mặt số lượng mà
còn đòi hỏi về chất lượng cao của nguồn nhân lực.
Công cuộc đổi mới ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến
chất lượng giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng. Có thể nói, chưa bao
giờ giáo dục nước ta chịu nhiều tác động bởi nền kinh tế thị trường và quá
trình toàn cầu hoá như hiện nay. Cho nên, việc phát trển sự nghiệp giáo dục,
đặc biệt là nâng cao chất lượng dạy học, đào tạo nghề vừa là một trong những
yêu cầu của công cuộc đổi mới về kinh tế - xã hội, vừa là đòi hỏi cấp thiết của
sự nghiệp phát triển con người hiện nay.
Kết luận số 242 – TB/TW ngày 15/04/2009 của Bộ chính trị về việc
tiếp tục thực hiện nghị quyết trung ương 2 (khoá VIII) phương hướng phát triển
giáo dục và đào tạo đến năm 2020: “Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
12
- Một số biện pháp quản lý quá trình đào tạo tại trường trung học kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh – Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Đoan Trang
(2005);
- Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng tỉnh
Đồng Tháp - Luận văn Thạc sỹ của Đặng Huy Phương (2009);
- Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung cấp Văn
hoá nghệ thuật Cần Thơ nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới - Luận văn
Thạc sỹ của Trần Ngọc Diệu (2009);
- Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo hướng dẫn viên
du lịch ở trường Trung cấp du lịch và khách sạn Saigontourist - Luận văn
Thạc sỹ của Lê Duy Hiển (2012);
Các đề tài nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều lĩnh vực của quản lý dào
tạo, trong đó có các biện pháp quản lý hoạt động dạy học, từ đó tác động đến
phát triển đội ngũ các bộ quản lý, giáo viên trên tầm vĩ mô và từng đơn vị.
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết nhằm nâng cao
chất lượng quản lý hoạt động dạy học nói chung và dạy nghề nói riêng, tuy
nhiên, việc nghiên cứu chưa được sâu, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng
quản lý đào tạo ở mô hình Trường Đại học Y khoa Vinh chưa có tác giả nào
nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Đào tạo
Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp từ đầu,
đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ học cho học sinh để họ có thể
trở thành người lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao.
Quá trình này diễn ra trong các cơ sở đào tạo theo một kế hoạch, có nội dung,
chương trình và thời gian cụ thể, nhằm giúp người học đạt được một trình độ
nhất định trong hoạt động nghề nghiệp. [9, tr.14]
15
1.2.2.2. Chất lượng đào tạo
- Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào
tạo đề ra đối với một chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp
– ĐHQG Hà Nội).
- Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở
các đặc trưng về phẩm chất giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng
lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào
tạo theo các ngành cụ thể [3,tr.3].
- Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục (Lê
Đức Phúc, viện KHGD).
- Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu [3,tr.4] .
Theo các định nghĩa khái niệm chất lượng nêu trên, chất lượng nói chung
và chất lượng đào tạo nói riêng là những thuật ngữ khái niệm cơ bản được
nhìn nhận ở những góc độ khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt thông dụng
thuật ngữ chất lượng được hiểu là "cái làm nên phẩm chất giá trị của sự vật"
hoặc là "cái tạo nên bản chất của sự vật làm cho sự vật này khác sự vật kia".
Như vậy thuật ngữ "chất lượng" phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản
chất giữa sự vật này và sự vật khác. Theo quan điểm triết học chất lượng
chính là các chất của sự vật hiện tượng làm cho nó là nó chứ không phải là cái
khác. Sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng vượt qua
giới hạn tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật hiện tượng tạo nên
chất mới có tác động trở lại đối với sự tích luỹ về lượng. Trong lĩnh vực sản
xuất kinh doanh chất lượng sản phẩm được đặc trưng bởi các yếu tố về
nguyên vật liệu chế tạo, quy trình và công nghệ sản xuất, các đặc tính về sử
dụng kể cả mẫu mã của thị hiếu mức độ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng...
Các đặc tính chất lượng được thể hiện qua các chỉ số kỹ thuật - mỹ thuật, giá
17
sang, sắp xếp, đổi mới để đưa vào sự phát triển. Hai quá trình này có mối
quan hệ biện chứng để hệ luôn ở trạng thái cân bằng.
Theo tác giả Thái Văn Thành khái niệm về quản lý có nhiều quan điểm
khác nhau: [7, tr.5].
- Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất
khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng,
duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động.
- Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó
quản lý được hiểu là bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự
biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng
thái mới thích ứng với những hoàn cảnh mới.
- Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể
người – thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới
mục đích dự kiến.
- Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ
chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động.
- Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu
của từng cá nhân biến thành thành tựu của xã hội.
- Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có
hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó.
Các khái niệm trên đây cho thấy:
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lý bao gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những
người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: quản lý là sự tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Tiếp cận trên phương diện hoạt động của một tổ chức, tác giả Nguyễn
Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ
có nhiệm vụ sử dụng các công cụ và phương pháp, đề ra biện pháp quản lý.
19
- Khách thể quản lý: cũng có thể là một cá nhân, một nhóm người hay
một tổ chức, tiếp nhận sự quản lý.
- Mục tiêu quản lý: do chủ thể quản lý đặt ra hoặc do yêu cầu của thực
tiễn đời sống hình thành. Mục tiêu có thể định lượng, nhưng có thể chỉ định
tính theo chuẩn mực nào đó.
- Công cụ quản lý: là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác
động đến đối tượng quản lý.
- Phương pháp quản lý: là cách chủ thể tác động vào đối tượng quản lý.
Các yếu tố quản lý có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau và đều nằm
trong môi trường kinh tế - xã hội nhất định, trong đó bao gồm: mặt bằng dân
trí, giáo dục, tâm lý xã hội, phong tục tập quán, văn hoá, luật pháp, các tác
động quốc tế… môi trường này là nguồn thông tin và cũng là cái quyết định
trình độ hiệu quả của quản lý.
- Các chức năng quản lý và chu trình quản lý: Các chức năng quản lý và
chu trình quản lý bao gồm: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. “Các chức năng
quản lý là những hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích đến tập thể người”.
Kế hoạch hóa
Kiểm tra
Thông tin quản lý
Tổ chức
Chỉ đạo
1.2.3.3. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản
lý vĩ mô: Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác
21
động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức –
sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực
lượng giáo dục và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối
hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này
vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến.
Quản lý nhà trường bao gồm hai loại:
- Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường:
Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của cơ quan quản lý giáo
dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học
tập của nhà trường.
Quản lý cũng gồm những chỉ dẫn, quy định của các thực thể bên ngoài
nhà trường, nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường cũng như cộng đồng,
được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát
triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng
phát triển đó.
- Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường: Quản lý
nhà trường do chủ thể quản lý bên trong bao gồm các hoạt động:
+ Quản lý giáo viên.
+ Quản lý học sinh.
+ Quản lý quá trình dạy học – giáo dục.
+ Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường.
+ Quản lý tài chính trường học.
+ Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.
Giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Đại học Y
khoa là những cách thức tác động hướng vào việc tạo ra những biến đổi về chất
lượng của người học trong thời gian đào tạo, từ đó hình thành cho người học
những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của một bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng, hộ sinh,
23
kỹ thuật viên y – dược, nhân viên y tế thôn bản nhằm đáp ứng yêu cầu công việc
sau khi ra trường.
1.3. Một số vấn đề lý luận của quản lý chất lượng đào tạo ở Trường Đại
học Y khoa
1.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Đại
học Y khoa
Để tiến hành sự nghiệp CNH- HĐH đất nước thành công thì ngoài những
điều kiện như vốn, kỹ thuật công nghệ... thì cần phải có một nguồn nhân lực,
một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trí tuệ, có sức khoẻ. Muốn cho toàn
xã hội khoẻ mạnh thì phải có đội ngũ cán bộ y tế có trình độ kỹ thuật, y đức
tốt.
Mặt khác sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta lãnh đạo đã
đạt được nhiều thành tựu, đời sống nhân dân được nâng cao cho nên nhu cầu
bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ của người dân ngày càng tăng. Do vậy đòi hỏi
người cán bộ y tế phải được đào tạo cơ bản, có kiến thức, kỹ năng nghề
nghiệp, có thái độ phục vụ tốt mới đáp ứng được nhu cầu của người dân.
Thực tế hiện nay các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề y tế cũng đã cố gắng vươn lên xây dựng và phát triển đội ngũ nhà
giáo, xây dựng cơ sở vật chất, đổi mới nội dung chương trình phương pháp
dạy học,trang bị phương tiện dạy học, y dụng cụ thực hành nhưng chất lượng
vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội, chưa ngang tầm với các nước trong
khu vực.