1
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THANH NHÀN
CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT SỐ 2
TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
1
1
2
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THANH NHÀN
CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT SỐ 2,
TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mãsố: 60.14.01.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN TỨ
NGHỆ AN - 2014
2
2
3
LỜI CẢM ƠN
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Đóng góp của đề tài
8. Cấu trúc luận văn
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2. Một số khái niệm cơ bản16
1.3. Các yếu tố cơ bản của chất lượng được đào tạo nguồn nhân lực23
1.4. Nội dung quản lý chất lượng đào tạo của các trường Trung cấp nghề27
Chương 2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở
TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT SỐ 2, TỔNG LIÊN
ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
2.1. Khái quát về trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 2, Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam5
2.2. Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp nghề Kinh
tế - Kỹ thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam43
2.3. Thực trạng công tác quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở trường
Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam47
4
4
5
2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở
trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
53
Chương 3. CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT SỐ 2,
TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM59
3.1. Nguyên tắc đề xuất giải pháp59
3.2. Các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp
nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Mạng lưới trường CĐN, TCN, TTDN, CĐ, THCN
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và vùng phụ cận
13
Bảng 2.1.Tổng hợp các giá trị tài sản hiện có của nhà trường
39
Bảng 2.2. Chương trình, giáo trình dạy nghề đã ban hành
39
Bảng 3.1. Danh sách các đơn vị gửi phiếu trắc nghiệm
84
6
6
7
Bảng 3.2. Đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
85
7
7
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH)
đất nước để phấn đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Một trong
những yếu tố cơ bản để phát triển xã hội nhanh và bền vững là phát huy nguồn nhân
lực con người, phát triển giáo dục và đào tạo, động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp CNH - HĐH.
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, các cơ sở đào tạo cần đổi
mới, phát triển để có đủ năng lực đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường
lao động trong và ngoài nước về số lượng, chất lượng, nguồn nhân lực có chuyên
môn, kỹ năng nghề nghiệp và tác phong công nghiệp. Nghị quyết 29 của Hội nghị
Trung ương 8 (khóa XI) đã đề ra nhiệm vụđổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
động Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả, xứng đáng là một địa chỉ tin
cậy của người học và của thị trường lao động.
Tuy nhiên, trong xu thế hiện nay, với những đòi hỏi mới về trình độ, chất
lượng của nguồn nhân lực, trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 2 phải đổi
mới một cách toàn diện, cơ bản, vững chắc để đáp ứng được các yêu cầu mới về
nguồn nhân lực. Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Các giải pháp
quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật
số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam” nhằm góp phần giải quyết vấn đề nói
trên.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất một số giải
pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ
thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
9
9
10
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ
thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp nghề
Kinh tế - Kỹ thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp quản lý có tính khoa học và khả thi thì sẽ
nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 2, Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội trong giai đoạn hiện nay.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn có 3
chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận của công tác quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở
trường Trung cấp nghề
Chương 2. Thực trạng chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp nghề Kinh tế -
Kỹ thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Chương 3. Các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở trường
Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
11
11
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việt Nam đang trong tiến trình CNH – HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
Vấn đề về nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trở
nên hết sức cấp thiết. Trình độ khoa học công nghệ không ngừng thay đổi, đòi hỏi
năng lực tiếp cận về kỹ năng nghề nghiệp của lực lượng lao động phải thích nghi
với yêu cầu của quá trình sản xuất. Công nghệ sản xuất tiên tiến đã mở ra phương
hướng và cách thức nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường với sản phẩm
có chất lượng và giá thành tối ưu. Trong giáo dục đào tạo nghề giúp cho người học
lĩnh hội tri thức, có kỹ năng nghề nghiệp và được thực hiện với những ứng dụng
của thành tựu khoa học công nghệ phù hợp với yêu cầu sản xuất.
Vấn đề chất lượng đào tạo từ trước tới nay luôn nhận được sự quan tâm
không chỉ của các nhà quản lý mà còn của các nhà nghiên cứu trong nước cũng như
trên thế giới. Việc nghiên cứu để nâng cao chất lượng đào tạo luôn được xem là
nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác quản lý của các cơ sở đào tạo .
1.1.1 Khái quát kết quả nghiên cứu công tác quản lý nâng cao chất lượng
đào tạo nghề trên thế giới
thạc sĩ…sinh viên tốt nghiệp một trường nghề vẫn có thể xin học tiếp ở một trường
Đại học tổng hợp nếu muốn. Do được tuyển chọn kỹ ở đầu vào nên chất lượng của
học sinh tốt nghiệp rất cao, luôn được xã hội tôn trọng, ra trường là xin ngay được
việc làm.
13
13
14
Ở Châu Âu, Đức là nước có mạng lưới giáo dục nghề tốt nhất, dày đặc nhất.
người Đức rất xem trọng nghề thủ công, và sống rất hãnh diện với nó, họ sống rất
xứng đáng và họ có những đóng góp rất lớn cho lợi ích của xã hội. trong hệ thống
dạy nghề ở Đức, các doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng. năm 2007, theo
thống kê của Bộ giáo dục Đức, 93,3% các công ty sở hữu trường dạy nghề riêng và
phát triển chiến lược nhân sự trong tương lai thông qua các mô hình dạy nghề. Việc
kiểm tra về khả năng tổ chức, đào tạo nghề tại doanh nghiệp được tiến hành bởi các
Phòng công nghiệp và thương mại. Ngoài ra, do sự liên kết chặt chẽ với các tập
đoàn đầu tư, khả năng các học viên ra trường nhận được việc làm ngay là rất cao.
Những kết quả nghiên cứu về nâng cao chất lượng đào tạo của các quốc gia
đang là bài học kinh nghiệm quý báu để Việt Nam đi tắt đón đầu, phát triển nhanh
chóng và bền vững, hội nhập chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của khu vực và thế
giới.
1.1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu công tác quản lý nâng cao chất lượng
đào tạo nghề ở Việt Nam
Ngay từ đầu thập kỷ sáu mươi, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III (1960)
xác định; ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, coi công nghiệp là cơ sở của nền kinh
tế quốc dân, mở đầu cho thời kỳ xây dựng kinh tế. Nhu cầu lao động kỹ thuật cho
các khu công nghiệp đã đưa sự nghiệp đào tạo công nhân trở nên cấp bách. Công
tác đào tạo nghề được chú trọng phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng đào
tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của các khu công nghiệp. đào tạo nghề trong
nước trở thành “một khâu của quá trình chuẩn bị sản xuất” của các cơ sở công
nghiệp. chính sách cơ bản về đào tạo nghề trong giai đoạn này là gắn trực tiếp công
tạo chính quy, công tác đào tạo nghề được tiếp tục duy trì và phát triển trong các
loại hình trường dạy nghề cạnh xí nghiệp và các lớp đào tạo tại sản xuất.
Việc thành lập Tổng cục dạy nghề năm 1978 đánh dấu mốc quan trọng của
công tác đào tạo nghề nói chung và chính sách phát triển công tác đào tạo nghề nói
riêng. Ngành dạy nghề trở thành một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân
thống nhất (ngành giáo dục chuyên nghiệp). công tác đào tạo được chú trọng cả về
năng lực chuyên môn kỹ thuật và ý thức đạo đức xã hội, nghề nghiệp để hình thành
đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân ngày
15
15
16
càng lớn mạnh. Một điều đáng chú ý trong công tác đào tạo nghề giai đoạn này là
chủ trương nâng cao khả năng, tiềm lực đào tạo của các cơ sở đào tạo trong nước,
do đó bên cạnh việc tranh thủ gửi học sinh đi học nghề ở các nước Liên Xô và
Đông Âu, chúng ta cũng tiếp nhận viện trợ đồng bộ để xây dựng nhiều trường dạy
nghề trong nước có trình độ hiện đại như các Trường Việt - Xô, Việt - Đức, Việt -
Hung…đồng thời thực hiện thí điểm việc hình thành và phát triển các trung tâm dạy
nghề ở các quận huyện trong cả nước. đây là một chủ trương đúng đắn góp phần
nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, đáp ứng nhu cầu học nghề ngày càng cao của
thanh niên và các tầng lớp nhân dân lao động. Chính sách đào tạo nghề có những
bước thay đổi cơ bản từ năm 1986 khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện,
chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường nhiều thành
phần có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN. Những quan điểm tư
tưởng nội dung cơ bản của công tác GD-ĐT chính sách được thể hiện tập trung
trong các Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, VII, VIII. Giáo
dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm thực hiện các nhiệm vụ nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục đào
tạo, ngành dạy nghề ngay từ năm 1987 đã tiến hành thực hiện 3 chương trình hành
động. Nghị quyết Trung ương 4 (1993) về tiếp tục đổi mới GD-ĐT đã đề ra một loạt
các quan điểm chỉ đạo có thể được hiểu là những chính sách định hướng lớn như:
tiến thế giới”.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra chủ
trương phải đổi mới phát triển dạy nghề đến năm 2020 là:“Phát triển hệ thống dạy
nghề có đủ năng lực đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nước và xuất khẩu lao động
về số lượng, chất lượng, cơ cấu trình độ đào tạo, ngành nghề đào tạo; tạo sự đột phá
về chất lượng dạy nghề, một số nghề đạo tạo đạt chuẩn quốc gia, một số nghề đào
tạo theo chương trình dạy nghề tiên tiến của các nước phát triển trong khu vực và
thế giới”…”[10].
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp
hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
17
17
18
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng đã khẳng định đổi mới căn bản,
toàn diện GD-ĐT nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Đối với giáo dục
nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề
nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình
độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng
nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
Nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ
năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp để hình thành năng lực nghề nghiệp cho
người học. Đổi mới phương thức đánh giá, công nhận tốt nghiệp giáo dục nghề
nghiệp trên cơ sở kiến thức, năng lực thực hành, ý thức kỷ luật, đạo đức nghề
nghiệp. Có cơ chế để tổ chức và cá nhân sử dụng lao động tham gia đánh giá chất
lượng giáo dục nghề nghiệp của cơ sở đào tạo …”[11].
Năm 2013, cả nước có 1.339 cơ sở dạy nghề, trong đó có 162 trường cao
đẳng nghề; 302 trường trung cấp nghề; 875 trung tâm dạy nghề, hệ thống cơ sở dạy
nghề đã phát triển mạnh mẽ, xóa bỏ tình trạng trắng trường dạy nghề ở các tỉnh,
nhân tố quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực.
1.1.3.Về kết quả nghiên cứu nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở đào
tạo nghề khu vực tỉnh Đồng Nai và vùng phụ cận
Trong những năm qua hệ thống giáo dục tỉnh Đồng Nai không ngừng phát
triển từ cơ sở vật chất, loại hình đào tạo, số lượng giáo viên, học sinh và là một
trong những trung tâm giáo dục đào tạo lớn nhất nước. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở
dạy nghề trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hết sức phong phú và đa dạng. Số lượng các cơ
sở tăng nhanh qua các năm qua, sự tăng nhanh của các cơ sở dạy nghề cho thấy
công tác đào tạo nghề của tỉnh Đồng Nai đã bắt nhịp theo hướng cung sang hướng
cầu của thị trường lao động; phát triển dạy nghề gắn chặt với yêu cầu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và định hướng phát triển của tỉnh. Cùng với sự tăng
trưởng kinh tế chung của cả nước, sự nghiệp dạy nghề tỉnh Đồng Nai đã có những
bước phát triển đáng kể về số lượng cơ sở dạy nghề và quy mô đào tạo nghề.
Bảng : 1.1 Mạng lưới trường CĐN; TCN; TTDN; CĐ, THCN trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai và các vùng phụ cận.
19
19
20
Tỉnh/
TP
Trường
Tổng
số
CĐ/THCN
có dạy nghề
Trường CĐ
nghề, TC nghề
Trung
tâm dạy
nghề
chuyên môn cao, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu về phẩm
chất, nhân cách, năng lực nghề nghiệp và thể chất; đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu
trình độ, cơ cấu ngành nghề phục vụ các ngành kinh tế phát triển, góp phần thực
hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2011-
2020.Về mục tiêu cụ thể, đến năm 2015 dự kiến qui mô dân số tỉnh Đồng Nai
khoảng 2,8 đến 2,9 triệu người; số người trong độ tuổi lao động là 1.960.000 người;
số lao động đang làm việc khoảng 1.581.600 người. Đến 2020 dân số khoảng 3,1
đến 3,2 triệu người; số người trong độ tuổi lao động là 2.150.000 người; số lao động
đang làm việc khoảng 1.973.400 người; số lao động được giải quyết việc làm mỗi
năm từ 80.000 đến 85.000 lao động .Căn cứ mục tiêu đến 2020 tỉnh Đồng Nai trở
thành tỉnh công nghiệp với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 14,5%
20
20
21
(xấp xỉ mức hàng năm của giai đoạn 2014-2015 ) thì đến 2020 cần có 872.500 lao
động qua đào tạo nghề (chiếm 50% lao động làm việc trong các thành phần kinh tế).
21
21
22
Hiện nay, tỉnh Đồng Nai có 31 khu công nghiệp đã dần được lấp đầy trong
đó có 29 khu công nghiệp đang hoạt động, thu hút đầu tư của 38 quốc gia, vùng
lãnh thổ, nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động, thường xuyên
cần hàng ngàn lao động kỹ thuật và tay nghề cao làm việc. Tổng số nhân lực qua
đào tạo năm 2015 chiếm khoảng 65% và năm 2020 chiếm 77% trong tổng số người
làm việc trong nền kinh tế.Trong tổng số nhân lực qua đào tạo, số nhân lực đào tạo
qua hệ thống dạy nghề năm 2015 khoảng 74,6%. Năm 2020 khoảng 70,1%; số nhân
lực qua hệ thống giáo dục đào tạo năm 2015 khoảng 25,4%, năm 2020 khoảng
29,9%.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Giai đoạn 2014-2015 nhu cầu tuyển dụng
5% lao động có trình độ đại học trở lên, 10% lao động có trình độ trung cấp và cao
nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 2, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đào tạo nguồn
nhân lực kỹ thuật đa ngành như: Điện công nghiệp, Cơ điện tử, Cơ khí CNC, nguội
sửa chữa, nghiệp vụ nhà hàng, lập trình máy tính, Công nghệ thông tin, Kế toán
doanh nghiệp… với 2 cấp trình độ Trung cấp nghề và Sơ cấp nghề phục vụ nhu cầu
lao động trong nước. Ngoài ra, trường còn mở rộng các hình thức liên kết đào tạo
với các trường đại học, cao đẳng khác. Trường thường xuyên mở các lớp đào tạo
nghề ngắn hạn, tư vấn và giới thiệu việc làm cho người lao động.
Một số báo cáo tổng kết, đánh giá năm học, sáng kiến kinh nghiệm của giáo
viên nhà trường đã nghiên cứu, tìm hiểu, cụ thể hóaphương châm đào tạo của nhà
trường là: “Học đi đôi với hành”, “Thực tập kết hợp với lao động sản xuất”; đã đề
xuất một số biện pháp như: lấy học sinh làm trung tâm, lấy thực hành, thực tập kỹ
năng nghề làm chính, tạo cho người học có khả năng làm việc độc lập; coi trọng
giáo dục đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác
phong công nghiệp của người học, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt
nghiệp có khả năng làm việc, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.
23
23
24
Trường đã có một số đề tài nghiên cứu trọng điểm cấp tỉnh đã triển khai ứng
dụng đạt hiệu quả cao trong giảng dạy kỹ thuật và đạt giải cao của tỉnh và của toàn
quốc như “Thiết bị phân loại và di chuyển sản phẩm”, “Thiết bị Mâm Chia Độ”,
“Máy bơm nước bằng bình ắc quy điện”, “Máy ép thủy lực sử dụng mùn cưa làm
chất đốt”…Một số biện pháp được nghiên cứu, đề xuất về phối hợp với các doanh
nghiệp để cho học sinh đến thực tập làm quen với công việc sản xuất và những thiết
bị, công nghệ mới. Tăng cường công tác quản lý đào tạo, quản lý chất lượng dạy
nghề. Hàng năm nhà trường tổ chức hội giảng giáo viên qua đó nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên, phát động giáo viên làm sáng kiến kinh nghiệm, cải tiến
phương pháp dạy học và áp dụng công nghệ mới vào giảng dạy, từ đó áp dụng vào
thực tế của nhà trường để nâng cao chất lượng đào tạo.Tuy nhiên, trong bối cảnh
đổi mới căn bản toàn diện giáo dục – đào tạo hiện nay, việc nghiên cứu các giải
hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ
thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở
nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của
quá trình giáo dục, sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em.
Khái niệmquản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản lý vĩ
mô: Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý
(có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ
thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong
và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào mọi
hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để đạt được
những mục tiêu dự kiến.
1.2.2. Khái niệm đào tạo và quản lý đào tạo
1.2.2.1. Khái niệm đào tạo
Khái niệm về đào tạo có nhiều cách hiểu khác nhau, sau đây là một số khái
niệm được nhiều người đồng thuận:
Theo từ điển Tiếng Việt: Đào tạo là: dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có
hiểu biết, có nghề nghiệp”.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường (2006) “Đào tạo là quá trình hoạt động có
mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ
25
25