BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ HUY ĐẠI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT VIỆT-ĐỨC NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN– 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ HUY ĐẠI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT VIỆT– ĐỨC NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ : 60.14.01.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HÀ VĂN HÙNG
NGHỆ AN – 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban lãnh đạo nhà
trường, tập thể Thầy, Cô giáo Phòng sau đại học, Khoa giáo dục học Trường
đại học Vinh đã tạo điều kiện, tận tình giảng dạy truyền đạt kiến thức, hướng
dẫn học tập và nghiên cứu trong thời gian khóa học. Đặc biệt, tôi xin chân
thành cảm ơn PGS.TS Hà Văn Hùng, người Thầy hướng dẫn khoa học, đã
hướng dẫn trực tiếp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo, cán bộ, giáo viên Trường
Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt – Đức Nghệ An. Nơi tôi làm việc và tìm hiểu về
14 HSSV Học sinh sinh viên
15 KHCN Khoa học công nghệ
16 KHKT Khoa học kỹ thuật
17 KTXH Kinh tế xã hội
18 TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
19 TCN Trung cấp nghề
20 SPKT Sư phạm kỹ thuật
21 XHCN Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 01
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………… 01
2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………… 04
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu………………………………………04
4. Giả thuyết khoa học………………………………………………………04
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu……………………………………… 04
6. Nhóm phương pháp nghiên cứu………………………………………… 05
7. Những đóng góp của luận văn……………………………………………06
8. Cấu trúc luận văn…………………………………………………………06
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI……………………………… 07
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 07
1.2. Một số khái niệm cơ bản 09
1.2.1. Khái niệm quản lí, quản lí giáo dục đào tạo 09
1.2.2. Khái niệm nghề, đào tạo nghề .15
1.2.3. Quản lí công tác đào tạo nghề 19
1.2.4. Các yếu tố của quá trình đào tạo nghề 20
1.2.4.1. Mục tiêu của đào tạo nghề 20
1.2.4.2. Nội dung của đào tạo nghề 21
viên 64
2.3.4. Về Cơ sở vật chất, kinh phí và đội ngũ CBQL 65
2.3.5. Về chất lượng đầu ra (học sinh tốt nghiệp) 65
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế trên 65
2.4.1. Xã hội và các khách hàng (Doanh nghiệp) của nhà trường chưa
nhận thức đầy đủ 65
2.4.2. Trường đã chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ 66
2.4.3. Chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên 66
2.4.4. Cơ chế sử dụng giáo viên dạy nghề như là công chức nhà nước
làm giảm động lực phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp của họ…………… 66
2.4.5. Trường chưa quan tâm xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa Nhà
trường với Công ty, xí nghiệp, Doanh nghiệp………………………………….67
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ ĐÀO TẠO \NGHỀ NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO
ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT VIỆT- ĐỨC NGHỆ AN… 68
3.1. Một số nguyên tắc đề xuất giải
pháp 68
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 68
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ của các giải pháp 69
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 69
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 69
3.2. Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao
đẳng nghề kỹ thuật Việt – Đức Nghệ An 70
3.2.1. Tăng cường bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ đội ngũ GV và
CBQL…………………………… 70
3.2.2. Chú trọng công tác quản lí huy động các nguồn lực, đầu tư cơ sở
vật chất phục vụ đào tạo 74
3.2.3. Xác định rõ mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo trong xu thế mở
rộng qui mô đào tạo nghề 78
3.2.4. Đổi mới nội dung chương trình, giáo trình đào tạo theo hướng
công, thì điều cốt lõi là phải phát huy tốt nhân tố con người. Bởi lẽ con người
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, giáo dục là nhân tố chủ yếu
để hình thành và phát triển nhân cách con người, là chìa khoá mở cửa vào tương
lai, là quốc sách hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
Nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, là trách nhiệm chung của toàn Đảng,
toàn Quân, toàn Dân ta, trong đó vai trò của các Trường chuyên nghiệp, các cơ
sở giáo dục đào tạo nghề là rất quan trọng.
Nghệ An là một tỉnh công nghiệp có tiềm năng kinh tế lớn nằm trong
vùng trọng điểm kinh tế miền trung là Hà tỉnh, Thanh Hóa và Nghệ An. Do vậy
tỉnh Nghệ An nói riêng và khu vực Bắc miền trung của Tổ Quốc nói chung có
nhu cầu rất lớn về lực lượng người lao động được đào tạo nghề. Trong các lĩnh
vực công nghiệp và xây dựng, Nghệ An hiện có một hệ thống đào tạo nghề
nghiệp với 60 cơ sở đào tạo ĐH, CĐ, TCCN, TCN, trong đó có 5 Trường Đại
học, 7 trường Cao đẳng nghề, 10 trường Trung cấp nghề và hơn 38 trung tâm
Hướng nghiệp, giáo dục thường xuyên và các cơ sở dạy nghề tư nhân ở các
huyện, thị xã, thành phố tham gia dạy nghề thuộc các lĩnh vực. Theo đó đội ngũ
CBQL và giáo viên dạy nghề không ngừng phát triển. Tuy nhiên cũng như cả
nước, vấn đề đổi mới công tác quản lý dạy và học nghề nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo nghề hiện vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém đặt ra cần phải giải
quyết trong thời gian tới.
Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt Đức Nghệ An được thành lập theo
quyết định số 195/QĐ-UBND ngày 01/07/2007 của UBND tỉnh Nghệ An, trên
cơ sở nâng cấp Trường trung cấp nghề kỹ thuật Việt Đức Nghệ An.
Là đơn vị hành chính sự nghiệp có thu dưới sự quản lý của UBND tỉnh
Nghệ An, về nghề trực thuộc Sở LĐ TB & XH Nghệ An, Trường Cao đẳng nghề
kỹ thuật Việt Đức là một trường công lập của tỉnh được giao nhiệm vụ chính là
công tác đào tạo nghề, cung cấp nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật cao của tỉnh,
các tỉnh lân cận.
Qua thời gian hơn 40 năm phấn đấu phát triển và trưởng thành, trường
cũng đă đào tạo nhiều thế hệ công nhân kỹ thuật, trung cấp nghề, cao đẳng
tại một số vấn đề như quá trình quản lí đào tạo nghề chưa đồng bộ từ mục tiêu,
nội dung chương trình, đội ngũ giáo viên, phương pháp đào tạo, điều kiện cơ sở
vật chất còn bất cập, hạn chế nên chất lượng đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp
ứng được nhu cầu sử dụng lao động đa dạng hiện nay của thị trường.
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải
pháp Quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề kỹ
thuật Việt Đức Nghệ An” nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý, phát
triển đội ngũ giáo viên và đào tạo nghề của nhà trường nói riêng cũng như góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các trường dạy nghề khác trong tỉnh và
ngoài tỉnh nói chung.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số giải pháp quản lí nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở
Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt –Đức nghệ An, góp phần đào tạo nguồn
nhân lực có chất lượng tay nghề phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lí quá trình đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp quản lí nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Trường Cao
đẳng nghề kỹ thuật Việt –Đức nghệ An.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu đề xuất được các giải pháp quản lí quá trình đào tạo nghề dựa trên
những nét đặc thù của Nhà trường, phù hợp với thực tế và có tính khả thi cao thì
sẽ góp phần nâng cao được chất lượng đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề
kỹ thuật Việt –Đức Nghệ An.
5. NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc quản lí quá trình đào tạo nghề có
liên quan đến chất lượng đào tạo nghề trong trường cao đẳng nghề.
Đức nghệ An, về quản lí đào tạo nghề.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp xử lí kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học, phương
pháp ngoại suy, phương pháp so sánh.
- Phương pháp chuyên gia
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
* Về mặt lí luận:
- Luận văn đã hệ thống được các cơ sở lí luận của công tác quản lí nâng
cao chất lượng đào tạo nghề ở các trường cao đẳng nghề nói chung và Trường
Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt –Đức Nghệ An nói riêng.
- Đã bổ sung một số luận điểm về công tác quản lí chương trình nội dung
cũng như đánh giá, kiểm định chất lượng trong hoạt động đào tạo nghề.
* Về mặt thực tiễn:
- Đã phân tích đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo cũng như quản lí
nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt –Đức Nghệ
An đồng thời đã chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng và định hướng cách khắc
phục.
- Đã đề xuất được một số giải pháp quản lí nâng cao chất lượng đào tạo ở
Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt –Đức Nghệ An.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được trình
bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3: Một số giải pháp quản lí nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở
Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt –Đức Nghệ An.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển như
quản lí đào tạo nghề liên tục được hoàn thiện, đổi mới để đảm bảo chất lượng
đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô trước đây cũng sớm quan
tâm đến vấn đề đào tạo nghề, với những đóng góp quan trọng của các nhà giáo dục
học, tâm lý học như X.I Arkhangenxki, X.Ia Batưsep, A.E Klimov, N.V Cudmina,
Ie. A Parapanôva, T.V Cuđrisep,.v.v. dước góc độ giáo dục học nghề nghiệp, tâm
lý lao động, tâm lý học kỹ sư, tâm lý học xã hội. Tuy nhiên, theo nhận xét của T.V
Cuđrisep, những nghiên cứu trong lĩnh vực dạy học và giáo dục nghề vào những
năm 70 của thế kỷ XX còn mang tính từng mặt, một chiều nên chưa giải quyết
được một cách triệt để vấn đề chuẩn bị cho thế hệ trẻ ước vào cuộc sống và lao
động. Quá trình hình thành nghề lúc đó được chia làm 4 giai đoạn tách rời nhau, đó
là: giai đoạn nảy sinh dự định nghề và bước vào học các trường nghề; giai đoạn
học sinh lĩnh hội có tính chất tái tạo những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; giai
đoạn thích ứng nghề và cuối cùng là giai đoạn hiện thực hoá từng phần hoạt động
nghề. Quan niệm trên theo T.V Cuđrisep đã tạo ra những khó khăn rất lớn trong
quá trình học và dạy nghề. Quá trình đào tạo nghề trở lên áp đặt và không thấy
được mối quan hệ giữa các giai đoạn hình thành nghề.
Cũng theo T.V Cuđrisep, để khắc phục những khó khăn, hạn chế trên cần
thiết phải có nhận thức lại, theo tác giả sự hình thành nghề của thế hệ trẻ, trong
điều kiện của giáo dục và dạy học là một quá trình lâu dài, liên tục và thống
nhất. Quá trình hình thành nghề trải qua bốn giai đoạn nhưng chúng có sự gắn
bó mật thiết với nhau. Quan điểm này của tác giả đã tạo nên nhận thức mới về
sự hình thành nghề, là cơ sở khoa học để xây dựng mô hình đào tạo nghề và
nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
Ở Việt Nam, những vấn đề về đào tạo nghề, quản lí quá trình đào tạo
nghề cũng đã được Tổng cục dạy nghề quan tâm ngay từ cuối những năm 70
của thế kỷ XX. Lúc đó, một số các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề
nghiệp, tâm lý học lao động (ví dụ như Đặng Danh Ánh, Nguyễn Ngọc Đường,
Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dương, ) đã chủ động nghiên cứu những khía
cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề. Đặc biệt, một số
chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật nó bảo toàn cấu
trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lí là một tác động hợp quy luật
khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống: Quản lí là "Phương thức tác động
có chủ định của chủ thể quản lí lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng
buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì
tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu".
Khái niệm quản lí được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo
các cách tiếp cận khác nhau.
Ở ngoài nước, có một số tác giả khái niệm như sau:
Các Mác đã viết: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến
một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự
vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự
điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [8].
Còn Fredrick Winslow Taylor (1856-1915) thì khẳng định: "Quản lí là
biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ
đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [17].
Theo Harold Koontz, CyriO“donnell và Heinz Weihrich thì " Quản lí là
một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt
được các mục tiêu của tổ chức" [18].
Các Ông Thomas. J. Robins và Wayned Morrison lại cho rằng: "Quản lí là
một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học” [34].
Ở Việt Nam, có một số khái niệm quản lí như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt-Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: "Quản lí là
trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều hành các
hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [37].
Trong giáo trình quản lí hành chính Nhà nước của Học viện hành chính
quốc gia chỉ rõ: “ Quản lí là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội
phù hợp với quy luật khách quan” [33].
Tóm lại, các quan niệm trên đây, tuy mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này
hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lí là hoạt
động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Hay nói một cách
khái quát nhất: quản lí là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đạt được các mục tiêu
của tổ chức đã đề ra.
Khái niệm quản lí bao hàm một ý nghĩa chung là:
- Quản lí là những tác động có tính hướng đích.
- Hoạt động quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã
hội.
- Quản lí là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc
qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.
- Quản lí là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá
nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
- Quản lí là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một
nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một Quốc gia.
- Quản lí là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản
lí lên đối tượng quản lí, thông qua các cơ chế quản lí, nhằm sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát
triển, đạt được những mục tiêu đã định.
Trong công tác quản lí bao giờ cũng có chủ thể quản lí, khách thể quản lí
quan hệ với nhau bằng các tác động quản lí. Quá trình quản lí phải có mục đích,
nhiệm vụ hoạt động chung. Khi thực hiện nhiệm vụ quản lí, chủ thể quản lí luôn
hướng theo mục đích quản lí đã xác định để điều khiển đối tượng bị quản lí thực
hiện mục tiêu chung của tổ chức.
Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm quản lí bao hàm các khía cạnh:
Hệ thống quản lí gồm 2 hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể
quản lí với đối tượng quản lí. Khi chỉ ra chủ thể quản lí thì phải chỉ ra đối tượng
quản lí và ngược lại.
thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có
hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu
phát triển giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [25].
Còn xét ở cấp vi mô, cấp quản lí một nhà trường/cơ sở giáo dục:
Theo học giả nổi tiếng M.I Konđakốp: " Quản lí giáo dục là tập hợp
những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong
hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng
cũng như chất lượng" [27].
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí làm cho hệ vận hành
theo đường lối, nguyên lý của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường
XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy, giáo dục thế hệ trẻ, đưa
thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất"[19].
Tác giả Trần Kiểm cho rằng:” Quản lí giáo dục vi mô được hiểu là những
tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui
luật) của chủ thể quản lí đến tập thể GV, CNV, tập thể HS, cha mẹ HS có các
lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và
hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục của nhà trường” [25].
Theo Nguyễn Ngọc Quang:"Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường
vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với
ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [29].
Tóm lại, quản lí giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của
ngành giáo dục, nhà quản lí giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương
pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác
động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà
trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch đảm bảo quá trình giáo dục đạt
được mục tiêu giáo dục.
1.2.2. Khái niệm nghề, đào tạo nghề
1.2.2.1. Khái niệm về nghề
bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực
phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim
ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát
triển của xã hội.
Trên Thế giới hiện nay có trên dưới 2.000 nghề với hàng chục nghìn
chuyên môn. Ở các nước Đông Âu và Liên Xô cũ trước đây, người ta đã thống
kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000.
Bên cạnh khái niệm nghề cần quan tâm tới đặc điểm chuyên môn của
nghề và phân loại nghề. Đặc điểm chuyên môn của nghề gồm các yếu tố:
- Đối tượng lao động của nghề.
- Công cụ và phương tiện lao động của nghề.
- Quy trình công nghệ.
- Tổ chức quá trình lao động sản xuất của nghề.
- Các yêu cầu đặc trưng về tâm sinh lí của người hành nghề cũng như
yêu cầu về đào tạo nghề.
Việc phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức đào tạo nghề, tuy
nhiên xuất phát từ yêu cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau nên
phân loại nghề khá phức tạp và phong phú. Ví dụ: phân theo tính chất của nghề
ta có nghề đơn giản, nghề kỹ thuật; hay phân theo phạm vi hoạt động của nghề
thì phân ra nghề diện hẹp, nghề diện rộng.
* Phân theo lĩnh vực quản lí, lãnh đạo có 10 nhóm nghề:
- Lãnh đạo các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể và các bộ phận trong
các cơ quan đó.
- Lãnh đạo doanh nghiệp
- Cán bộ kinh tế, kế hoạch tài chính, thống kê, kế toán
- Cán bộ kỹ thuật công nghiệp
- Cán bộ kỹ thuật nông, lâm nghiệp
- Cán bộ khoa học giáo dục
- Cán bộ văn hóa nghệ thuật
- Cán bộ y tế