BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG ĐÌNH THÀNH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KINH TẾ- KỸ THUẬT
ĐÔ LƯƠNG -NGHỆ AN
LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, tháng 4 năm 2014
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG ĐÌNH THÀNH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KINH TẾ- KỸ THUẬT
ĐÔ LƯƠNG -NGHỆ AN
MÃ SỐ: 60140114
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Mai Văn Tư
Nghệ An, tháng 4 năm 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn: Trường Đại học Vinh, Lãnh đạo và quý
thầy, cô đã giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt hai năm học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, Cấp ủy, Ban
giám hiệu, cán bộ quản lý các Phòng - Khoa của trường Trung cấp nghề KT-
1.2.2.2. Chất lượng đào tạo nghề 12
1.2.3. Quản lý và quản lý chất lượng đào tạo nghề
14
1.2.3.1. Khái niệm quản lý 14
1.2.3.2. Quản lý chất lượng đào tạo nghề 20
1.2.4. Giải pháp & giải pháp quản lý chất lượng ĐT nghề 21
1.2.4.1. Giải pháp 21
1.2.4.2. Giải pháp quản lý chất lượng đào tạo nghề 21
1.3. Một số vấn đề về lý luận liên quan đến đề tài 21
1.3.1. Đặc điểm của đào tạo nghề: 21
1.3.2. Các đặc trưng cơ bản của nghề. 23
1.3.3. Vai trò, vị trí của dạy nghề trong phát triển nguồn
nhân lực.
24
1.3.4. Các yếu tố của quá trình đào tạo nghề 25
4
ii
1.3.4.1. Mục tiêu của đào tạo nghề 25
1.3.4.2. Nội dung của đào tạo nghề 26
1.3.4.3. Phương pháp đào tạo nghề 26
1.3.4.4. Hoạt động dạy nghề và học nghề 27
1.3.4.5. Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
nghề
28
1.3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề 28
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ
Ở TRUỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KT- KT ĐÔ LƯƠNG -
NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2010-2013
31
53
2.2.2.6. Công tác kiểm tra đánh giá. 54
2.2.2.7. Thực trạng quan hệ nhà trường và doanh nghiệp 56
2.2.3. Nguyên nhân của thực trạng 58
2.2.3.1. Nguyên nhân đạt được 58
2.2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế. 59
Chương 3
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KINH TẾ -
KỸ THUẬT ĐÔ LƯƠNG
62
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 62
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 62
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 63
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 63
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 63
3.2. Một số giải pháp quản lí đề xuất 64
3.2.1. Đẩy mạnh công tác tuyển sinh, từng bước nâng cao
chất lượng đầu vào
64
3.2.2. Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đáp
ứng yêu cầu của công tác đào tạo
66
3.2.3. Cải tiến mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo gắn
với yêu cầu thực tế sản xuất, đáp ứng thị trường lao động.
70
3.2.4. Đổi mới phương pháp dạy học 73
6
iv
3.2.5. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị
KT-KT Kinh tế - Kỹ thuật
LĐTB &XH Lao động Thương binh và Xã hội
NCKH Nghiên cứu khoa học
PPDH Phương pháp dạy học
QH Quốc hội
SPKT Sư phạm kỹ thuật
THPT Trung học phổ thông
THCS Trung học cơ sở
UBND Ủy ban nhân dân
8
vi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối
cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ
bão, với quy mô rộng, trình độ ngày càng cao, tạo tiền đề cho việc hình
thành nền kinh tế tri thức.
Toàn cầu hoá, hội nhập khu vực và quốc tế đã và đang là xu thế tất yếu
khách quan và nhu cầu cấp bách đối với mỗi một quốc gia, nhất là đối với
các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong xu thế đó, sự cạnh
tranh giữa các quốc gia trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh
tế ngày càng quyết liệt hơn, gay gắt hơn. Trong lĩnh vực kinh tế, thì lợi thế
cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn lực với chất lượng cao. Vì
vậy chú trọng phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chính là
chìa khoá để phát triển nền kinh tế.
Việt Nam hiện tại vẫn đang là một nước nông nghiệp, nhưng từ thuở xa
xưa, ông cha ta đã ý thức được rằng: “ Ruộng bề bề không bằng nghề cầm
tay” hay “ nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Hết thế hệ này đến thế hệ khác,
Việt Nam không thiếu những người thợ tài hoa. Thế kỷ 20, Người thợ máy
Tôn Đức Thắng là người Việt Nam đầu tiên kéo cờ trên Biển Đen ủng hộ
nhân kỹ thuật, lao động có tay nghề cao chính là sản phẩm được đào tạo
qua các trường kỹ thuật và dạy nghề. Nhiệm vụ đào tạo nhân lực được coi
là trọng yếu, then chốt trong hệ thống giáo dục đào tạo quốc dân, bởi vì suy
cho cùng lao động kỹ thuật là lực lượng tác động trực tiếp vào quá trình tạo
nên sản phẩm xã hội, trực tiếp tạo nên năng suất lao động trong bất kỳ
phương thức sản xuất nào. Chính vì ý nghĩa quan trọng đó mà việc nâng
cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và chất lượng đào tạo nghề luôn
luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia.
10
Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng đào tạo nghề nói riêng đã,
đang là chủ đề được đề cập một cách sôi động và cấp thiết trong quá trình
thực hiện chiến lược giáo dục & đào tạo Việt Nam trong nhiều năm nay.
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định:
“Phát triển GD-ĐT cùng với khoa học công nghệ là một trong những động
lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người- Yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững”
Từ những nhận thức trên, trong những năm qua, Trường Trung cấp nghề
Kinh tế - Kỹ thuật Đô Lương ( tiền thân là Trung tâm DN-HN Đô Lương )
luôn xác định: Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề cấp bách,
mang tính sống còn đối với đơn vị.
Với cương vị là trưởng phòng đào tạo của Trường Trung cấp nghề -
Kinh tế kỹ thuật Đô Lương, bản thân tôi cảm thấy vinh dù vì trong những
năm qua đã có những đóng góp thật sự hữu ích trong việc nâng cao chất
luợng đào tạo tại đơn vị. Song bên cạnh đó cũng không thể tránh khái
những trăn trở về một số tồn tại, yếu kém trong công tác đào tạo nghề nói
chung và của nhà trường nói riêng.
Xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn công tác và yêu cầu của nhiệm
vụ chuyên môn, chúng tôi chọn vấn đề: “ Một số giải pháp quản lý chất
lượng đào tạo ở Trường Trung cấp nghề KT-KT Đô Lương-Nghệ An ”
5.3 Đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng đào tạo ở trường Trung cấp
nghề Kinh tế - Kỹ thuật Đô Lương.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
12
Sử dụng các phương pháp thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp tài liệu
nhằm Xây dựng cơ sở lý luận đề tài nghiên cứu.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Các phương pháp: Điều tra, quan sát, xin ý kiến chuyên gia nhằm khảo
sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý chất lượng đào tạo nghề tại trường
Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật Đô Lương và thu thập thêm các thông
tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
6.3. Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công cụ vi tính xử lý kết
quả nghiên cứu.
7. Đóng góp mới của đề tài
7.1 Về mặt lý luận
Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về nghề, chất lượng
đào tạo nghề, quản lý chất lượng đào tạo nghề, đặc điểm của đào tạo nghề
và các đặc trưng cơ bản của nghề…
7.2 Về mặt thực tiễn
Đã phân tích và đánh giá đúng thực trạng về chất lượng đào tạo nghề
hiện nay, đề xuất được các nhóm giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo nghề. Các nhóm giải pháp này áp dụng trong thực tiễn sẽ góp
phần đổi mới cung cách quản lý chất lượng đào tạo của nhà trường
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục
nghiên cứu, Luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào tạo nghề trong giai
đoạn hiện nay.
Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý chất lượng đào tạo ở Trường
đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất,
14
trang thiết bị cho dạy và học nghề đã được đầu tư, nâng cấp. Phong trào thi
đua dạy tốt học tốt trong toàn ngành đã được đẩy mạnh.
Và đến những năm gần đây vấn đề đào tạo nghề tiếp tục được quan tâm
nghiên cứu . Thông qua những đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lí
giáo dục. Những nghiên cứu này đã ít nhiều khái quá hoá và làm rõ được
những vấn đề lý luận và đề xuất những Giải pháp quản lí góp phần nâng cao
hiệu quả quản lí quá trình đào tạo nghề nói chung và hoạt động dạy nghề nói
riêng.
Vấn đề quản lý chất lượng đào tạo nghề tại truờng Trung cấp nghề KT-
KT Đô Lương cũng đã đạt được một số thành tích đáng kể. Song trong
nhiều năm qua chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Chính vì vậy
công tác quản lý chất lượng đào tạo nghề tại trường truờng Trung cấp nghề
KT-KT Đô Lương là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ. Nghiên cứu đề tài
này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà
trường, qua đó nhằm cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, góp phần thực
hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế trong khu vực.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Nghề và đào tạo nghề
1.2.1.1. Khái niệm nghề
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nghề. Chung nhất,
nghề là một dạng xác định của hoạt động lao động trong hệ thống phân
công lao động xã hội; là tổng hợp những kiến thức ( hiểu biết ) và kỹ năng
trong lao động mà con người tiếp thu được do kết quả của đào tạo chuyên
môn và tích luỹ kinh nghiệm trong công việc.
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo,
con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản
phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã
hội.
hoàn thành khóa học” [19]. Qua đó, ta có thể thấy đào tạo nghề là
khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó
không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho
quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc. đào tạo nghề giúp cho
người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh
nghiệp, hoặc có thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân. Hiện nay,
đào tạo nghề mang tính tích hợp giữa lý thuyết và thực hành. Sự tích hợp
thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi người học sinh hôm nay, người thợ trong tương
lai phải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa phải thành thục về kỹ năng tay
nghề. Đây là điểm khác biệt lớn trong đào tạo nghề so với dạy văn hóa.
Đào tạo nghề cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng, thái độ
nghề nghiệp cần thiết của một nghề. Về kiến thức học sinh hiểu được cơ sở
khoa học về vật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, quy trình công nghệ, giải pháp
tổ chức quản lý sản xuất để người công nhân kỹ thuật có thể thích ứng
với sự thay đổi cơ cấu lao động trong sản xuất và đào tạo nghề mới. Học
sinh được cung cấp kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng sử dụng
công cụ gia công vật liệu, các thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán,
thiết kế và khả năng vận dụng vào thực tiễn. Đó là những cơ sở ban đầu
để người học sinh- người cán bộ kỹ thuật tương lai hình thành kỹ năng, kỹ
xảo nghề nghiệp, phát huy tính sáng tạo hình thành kỷ luật, tác phong lao
động công nghiệp. Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: Học đi đôi
với hành; lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo
dục đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật,
tác phong công nghiệp của người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện. đào
tạo nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề
và cao đẳng nghề. Hình thức dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy, dạy
nghề thường xuyên.
17
1.2.2. Chất lượng và chất lượng đào tạo nghề
nhà quản lý có được cơ chế sử dụng hợp lý, an toàn những nguồn lực
của mình để đạt tới mục tiêu đó định từ trước một cách hiệu quả nhất.
Theo TS Nguyễn Thị Tính: “ Chất lượng giáo dục - đào tạo được đánh
giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đó đề ra đối với một chương
trình giáo dục - đào tạo; Chất lượng là kết quả của quá trình giáo dục -
đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và
giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương
ứng với mục tiêu, chương trình giáo dục - đào tạo theo các ngành nghề cụ
thể ” [ 21 ].
Một quan niệm khác coi chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách
hàng - chính là người sử dụng lao động sau đào tạo. Điều này đòi hỏi
khi thiết kế một sản phẩm hay dịch vụ, yếu tố quyết định là xác định nhu
cầu của khách hàng, để sản phẩm có được những đặc tính mà khách hàng
mong muốn và với giá cả mà họ sẽ hài lòng trả.
Trong giáo dục nghề nghiệp, định nghĩa này gây ra một số khó khăn
trong việc xác định khái niệm khách hàng. Ai là khách hàng trong giáo dục
nghề nghiệp? Đó là học sinh (người sử dụng dịch vụ như thư viện, ký túc
xã, phòng thí nghiệm…) hoặc là chính phủ, hoặc là các doanh nghiệp
(người trả tiền cho các dịch vụ đó) hay đó là cán bộ giảng dạy, cha mẹ sinh
viên v.v. . .
Theo nghĩa tuyệt đối: chất lượng được hiểu như là một sản phẩm mang ý
nghĩa hoàn hảo hơn cả, nó hoàn mỹ mà các thứ cùng chủng loại, kiểu cách
có chuẩn mực rất cao cũng không thể hoặc khó có thể vượt qua. Như
vậy cũng có nghĩa là một tiêu chí nào đó đặt ra luôn được đảm bảo giá trị
và giá trị sử dụng tuyệt đối hơn cả.
19
Theo nghĩa tương đối: Một sản vật, một tiêu chuẩn một dịch vụ hay bất
kể một loại quan niệm nào đó được người ta gắn với nó. Các sản vật,
những dịch vụ được coi là chất lượng khi chúng đạt được những chuẩn
mực nhất định được quy định trước. Chất lượng không được coi là cái đích
hiệu quả đào tạo, nói đến hiệu quả đào tạo là nói đến các mục tiêu đó đạt ở
mức độ nào, sự đáp ứng kịp thời các yêu cầu của nhà trường và sự chi phí
tiền của, sức lực, thời gian sao cho ít nhất nhưng đem lại hiệu quả nhất.
Vì thế chất lượng đào tạo nghề có thể xem là giá trị sản phẩm mà quá trình
dạy học, giáo dục mang lại lợi ích cho xã hội, nhà trường, gia đình và học
sinh. Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay. Chất lượng
đào tạo là một khái niệm tương đối, nó phụ thuộc vào yêu cầu khách quan
của người sử dụng lao động chứ không do ý chí của người làm công tác
đào tạo quy định.
Chất lượng đào tạo nghề chịu tác động bởi rất nhiều khâu nhưng trong
đó có các khâu quan trọng nhất đó là:
+ Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình
+ Phương pháp dạy học nghề
+ Những vấn đề quản lý, cơ chế quản lý, các quy chế, cách thức kiểm tra
đánh giá chất lượng đào tạo nghề
+ Đội ngũ giáo viên, CBQL dạy nghề
+ Chất lượng đầu vào của học sinh học nghề
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực và tài chính phục vụ đào tạo nghề.
+ Mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường với các doanh nghiệp sản xuất
Mức độ tác động của các khâu nói trên không giống nhau. Vì vậy để
nâng cao chất lượng đào tạo nghề cần phải tìm các Giải pháp quản lý tốt
trong các khâu đó.
21
Như vậy chất lượng đào tạo nghề phản ánh mức độ đạt được mục tiêu
đào tạo sau quá trình đào tạo: có chất lượng, chất lượng cao, hay chất
lượng thấp. Đồng thời chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh sự phù hợp và
được thực tiễn xã hội chấp nhận ở mức độ nào tính theo phần trăm người
đã được đào tạo và được chấp nhận làm việc theo đúng ngành nghề.
* Chất lượng đào tạo nghề đáp ứng mục tiêu đề ra được thể hiện qua các
mối quan hệ trong sơ đồ dưới đây:
Chất
lượn
g
đào
tạo
Theo Mác: Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được
thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự
quản lý. Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và
hình thành những chức năng chung xuất hiện trong toàn bộ cơ thể sản xuất,
khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó.
Theo giáo sư Hà Sĩ Hồ: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng
(có chủ định) có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên
các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự
vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục
đích đã định [14].
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói
chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dù kiến"
[15].
Như vậy, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau: Phải có mục tiêu đặt ra
cho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt động của
tổ chức, phải có nội dung, phương pháp, phương tiện và kế hoạch hành
động, một môi trường nhất định.
Quản lý là khoa học, vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hoá và là
đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học phân loại
kiến thức, giải thích các mối quan hệ khách quan - đặc biệt là mối quan hệ
giữa chủ thể và khách thể quản lý. Đối tượng nghiên cứu của khoa học
quản lý là các mối quan hệ mà các mối quan hệ này là xuất phát từ đòi hỏi
của các quy luật khách quan. Vì vậy người quản lý phải nghiên cứu các quy
luật khách quan, các mối quan hệ, tránh ngẫu hứng tuỳ tiện, chủ quan.
tính khách quan, nó đòi hỏi các nhà quản lý phải xác lập được mục tiêu rõ
24
ràng và biết điều hành hệ thống của mình tới đích. Hoạt động quản lý có
những yêu cầu khách quan, phổ biến đối với những người làm quản lý, đó
là những chức năng chung và cơ bản của hoạt động quản lý.
* Chức năng quản lý
Trong quản lý, chức năng là hình thức biểu hiện sự tác động của chủ thể
và đối tượng nhằm đạt mục tiêu đã định. Là những nhiệm vụ có tính năng
nhất định, còn là sự thể hiện sự phân công lao động trong lĩnh vực quản lý.
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý cơ bản mà thông qua
đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý, nhằm thực hiện các mục
tiêu xác định. Chức năng quản lý chiếm giữ vị trí then chốt, nó gắn liền với
nội dung của hoạt động điều hành ở mọi cấp.
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân định các chức năng quản lý tuỳ
theo hướng tiếp cận như theo hướng tác động, hay theo nội dung tác động
Song nhiều nhà nghiên cứu đều đồng tình với cách phân định các chức
năng quản lý theo quan điểm tiếp cận hệ thống, Theo quan điểm này thì
quản lý có bốn chức năng cơ bản sau:
Chức năng kế hoạch: là chức năng trung tâm, kế hoạch được hiểu khái
quát là một bản ghi nhận những mục tiêu cơ bản và một chương trình hành
động cụ thể được hoạch định, trước khi tiến hành thực hiện những nội dung
nào đó mà chủ thể quản lý đã đề ra.
Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các hoạt
động và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó. Kế hoạch
là nền tảng của quản lý, nó bao gồm những nội dung quan trọng sau:
* Xác định chức năng, nhiệm vụ và các công việc của đơn vị.
* Dự báo, đánh giá triển vọng.
* Đề ra mục tiêu, chương trình
* Lập kế hoạch chương trình
* Nghiên cứu, xác định tiến độ