BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HUỲNH QUANG HUY
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HỢP TÁC ĐÀO TẠO
GIỮA CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ
VỚI DOANH NGHIỆP Ở TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS THÁI VĂN THÀNH
Nghệ An, 2013
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, bạn
bè, đồng nghiệp. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới Sở Lao
động-Thương binh & Xã hội tỉnh Kiên Giang, các trường trung cấp nghề, các
doanh nghiệp trong tỉnh, các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp đã tận tình
quan tâm chỉ bảo, cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá cho luận văn.
Xin cảm ơn sự ủng hộ động viên giúp đỡ của Ban Giám hiệu, các phòng
ban chức năng trường Đại học Vinh và trường Đại học Đồng Tháp;
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, PGS.TS Thái Văn
Thành đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này;
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, bản thân em đã có nhiều cố gắng,
1.2.5. Giải pháp quản lý hợp tác đào tạo giữa các trường TCN với
DN
1.3. Một số vấn đề lý luận về hợp tác đào tạo giữa các TCN với
DN
1.3.1. Ý nghĩa của việc hợp tác
1.3.2. Nội dung quản lý hợp tác đào tạo giữa các trường TCN với
DN
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hợp tác giữa nhà trường với DN
Kêt luận chương 1
Trang
1
2
3
3
3
3
3
4
5
6
10
11
13
13
14
17
19
19
41
42
42
43
44
45
45
46
46
48
48
49
64
66
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HỢP TÁC ĐÀO TẠO GIỮA
CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ VỚI DOANH NGHIỆP
3.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
3.2. Các giải pháp quản lý hợp tác đào tạo giữa nhà trường với
DN
3.2.1. Thành lập bộ phận chuyên trách khai thác và xử lý thông tin
về khảĐổi
năngmới
hợpphương
tác giữathức,
nhà trường
với DN
3.2.2.
83
83
3.4.2. Nội dung thăm dò
3.4.3. Đối tượng thăm dò
3.4.4. Kết quả thăm dò
Kết luận chương 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục nghiên cứu
83
83
83
84
86
86
87
90
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Stt
Viết tắt
Viết đầy đủ
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
STT
Tên biểu đồ, biểu đồ
Trang
Sơ đồ 1.1 Khái niệm quản lý
16
Sơ đồ 1.2 Giải pháp quản lý hợp tác đào tạo giữa trường nghề với
18
DN
Sơ đồ 1.3
Sơ đồ 1.4
Sơ đồ 1.5
Sơ đồ 1.6
Sơ đồ 1.7
Sơ đồ 1.8
Sơ đồ 1.9
Biêu đồ
2.1
Nhà trường nằm ngoài DN
Nhà trường nằm trong DN
DN sản xuât nằm trong nhà trường
Hình thức hợp tác đào tạo song hành
Hình thức hợp tác đào tạo luân phiên
Hình thức hợp tác đào tạo tuần tự
Chu trình quản lý hợp tác giữa trường nghề với DN
Đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý ở các trường
nghề tỉnh Kiên Giang nhằm tăng cường hợp tác với DN
Bảng 2.4 Đánh giá của hiệu trưởng trường trung cấp nghề và chủ
DN về hình thức hợp tác giữa trường nghề với DN
%) khách thể điều tra về mức độ hợp tác giữa
Bảng 2.5 (theo
Đánh tỷ
giálệcủa
trường nghề với DN (tính theo tỷ lệ %)
Bảng 2.6 Đánh giá của khách thể điều tra về kết quả hợp tác giữa
trường nghề với DN (tính theo tỷ lệ % học sinh hưởng
lợi)
51
Bảng 2.7 Đánh giá của khách thể điều tra về chất lượng đội ngũ
lao động được đào tạo nghê hiện nay (tính theo tỷ lệ %)
Bảng 2.8 Thực trạng về hoạt động quản lý của các trường nghề ở
tỉnh Kiên Giang nhằm tăng cường sự hợp tác với DN
trong đào tạo nghề (tính theo tỷ lệ %)
56
Bảng 2.9 Đánh giá của khách thể điều tra về các yếu tố ảnh
hưởng đến sự hợp tác giữa trường nghề với DN (tính
theo tỷ lệ %)
60
Bảng 2.10 Đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý ở các trường
nghề tỉnh Kiên Giang nhằm tăng cường hợp tác với DN
trong đào tạo
xây dựng phát triển mạnh hệ thống các trường nghề, các trường kỹ thuật, mục
đích là nhanh chóng đạt chuẩn khu vực và quốc tế để không ngừng tăng cường
nguồn nhân lực cho thị trường trong nước và khả năng cạnh tranh ở thị trường
nước ngoài.
Theo Điều 6 của Luật Dạy nghề năm 2006, dạy nghề gồm có ba cấp trình
độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề. Mỗi năm, hệ thống cơ
sở dạy nghề trong cả nước đào tạo ra hàng triệu người lao động có kỹ năng nghề
nghiệp nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Căn cứ Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27 tháng 11 năm 2009
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông
thôn đến năm 2020”, mục tiêu tổng quát bình quân hàng năm đào tạo nghề cho
khoảng một triệu lao động nông thôn, cụ thể giai đoạn 2009-2010 dạy nghề cho
khoảng 800.000 lao động nông thôn, giai đoạn 2011-2015 là 5.200.000 lao động
nông thôn, giai đoạn 2016-2020 là 6.000.000 lao động nông thôn [2. tr.2-3];
Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020, theo đó giai
đoạn 2011-2015 đào tạo mới trình độ CĐN, TCN khoảng 2,1 triệu người, SCN
và dạy nghề dưới 3 tháng khoảng 7,4 triệu người, giai đoạn 2016-2020 đào tạo
mới trình độ CĐN, TCN khoảng 2,9 triệu người (trong đó 10% đạt cấp độ quốc
gia, khu vực ASEAN và quốc tế), SCN và dạy nghề dưới 3 tháng khoảng 10
triệu người [2.tr.2]. Về mặt số lượng tuy khá dồi dào như vậy nhưng năng lực
của người lao động không phải lúc nào cũng đáp ứng, đặc biệt nhân sự cao cấp,
các chuyên gia có kinh nghiệm và khả năng quản lý,...đang ở trong tình trạng
cung thấp xa so với cầu. Qua tìm hiểu bước đầu của chúng tôi, có không ít người
lao động sau khi tốt nghiệp trường nghề chưa thích ứng ngay được với sản xuất.
Hệ quả là lãng phí nguồn ngân sách đào tạo của nhà nước; cơ hội tìm kiếm được
việc làm phù hợp với trình độ đã được đào tạo của người lao động thấp; nhiều
DN để có nguồn nhân lực theo mong muốn, sau khi tuyển lao động về phải đào
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, đào tạo nghề, hợp tác giữa nhà
trường với DN, giải pháp quản lý nhằm tăng cường hợp tác đào tạo giữa nhà
trường với DN.
5.2. Khảo sát thực trạng hợp tác đào tạo giữa nhà trường với DN, một số
hoạt động quản lý hợp tác đào tạo giữa nhà trường với DN của hiệu trưởng các
trường TCN ở tỉnh Kiên Giang, đồng thời phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến
thực trạng này.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý hợp tác giữa nhà trường với DN trong
đào tạo.
6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong điều kiện cho phép, luận văn chỉ đi sâu tìm hiểu các vấn đề sau:
- Thực trạng về sự hợp tác trong đào tạo giữa nhà trường với DN; các yếu
tố hưởng đến mối quan hệ hợp tác này; một số hoạt động quản lý hợp tác đào tạo
với DN của hiệu trưởng các trường TCN ở tỉnh Kiên Giang.
- Hoàn thiện và đổi mới một số giải pháp quản lý hợp tác đào tạo giữa nhà
trường với DN, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
7. Các phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu (phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa), các văn bản,
tài liệu thể hiện quan điểm, chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước; những tác phẩm kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin; các công trình khoa học
về mối quan hệ hợp tác giữa trường nghề với DN trong và ngoài nước để hình
thành cơ sở lý luận của đề tài.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Tiếp cận, quan sát tổng thể, theo dõi những mặt biểu hiện trong quá trình
hợp tác giữa các trường TCN với DN; phát hiện yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
- Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động quản lý nhằm tăng
cường hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo của các trường trung cấp nghề ở
tỉnh Kiên Giang.
- Hoàn thiện và đổi mới phương thức, hình thức, mức độ hợp tác.
- Hoàn thiện và đổi mới giải pháp xây dựng quy chế nội bộ về sự hợp tác với doanh nghiệp
trong đào tạo; đề xuất kiến nghị với cơ quan quản lý cấp trên để được tạo cơ chế hợp tác thuận lợi.
9. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 03 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý đào tạo giữa các trường TCN với DN
- Chương 2: Thực trạng quản lý hợp tác đào tạo giữa các trường TCN với
DN
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý hợp tác đào tạo giữa các trường TCN
với DN
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HỢP TÁC ĐÀO TẠO GIỮA
CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ VỚI DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Ở nước ngoài
Mối quan hệ giữa trường nghề với DN trong đào tạo nghề từ lâu đã được
nhiều nước quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
nghề cho người lao động.
Vào giữa thế kỷ XIX (1894) do sự phát triển của công nghiệp, ở Pháp xuất
hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp. Người ta đã
ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức tạp, sự chuyên
môn hóa được chú trọng. Do vậy, nội dung các cuốn sách khẳng định tính cấp
thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, có nghề
nghiệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với yêu cầu của xã hội. [16]
3. Mối quan hệ giữa nhà trường với DN ngày càng mật thiết, trường học và
xí nghiệp tương hỗ, tương lợi, bình đẳng về lợi ích trên phương tiện dịch vụ kỹ
thuật, do vậy mà tăng cường hợp tác giữa các bên.
Do những ưu điểm như vậy mà các "Công ty đại học" mọc lên như nấm, từ
nước Mỹ đến Châu Âu, rồi đến toàn thế giới. "Công ty đại học" với những hình
thức khác nhau và sự ra đời của xí nghiệp hóa trường học, báo trước sự phát
triển quan trọng của sự phát triển giáo dục. [7, tr.11]
Jacques Delors, Chủ tịch ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ
XXI của UNESCO khi phân tích "những trụ cột của giáo dục" đã viết: "Học tri
thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại ". Theo ông, vấn đề
học nghề của học sinh là không thể thiếu được trong những trụ cột của giáo dục,
đồng thời đã tổ chức các hội thảo, nghiên cứu về vấn đề "gắn đào tạo với sử
dụng" trong đào tạo nghề. [27]. Ở Nhật và Mỹ, nhiều trường nghề được thành
lập ngay trong các công ty tư nhân để đào tạo nhân lực cho chính công ty đó và
có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng. Mô hình này có ưu điểm là chất
lượng đào tạo cao, người học có năng lực thực hành tốt và có việc làm ngay sau
khi tốt nghiệp.
"Ba trong một" là quan điểm được quán triệt trong đào tạo nghề ở Trung
Quốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ. Theo đó, các trường dạy nghề phải
gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc
nâng cao chất lượng đào tạo nghề. [27]
Nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN
năm 2003, APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề ở Inđônêxia từ năm 1993 đã
được nghiên cứu và phát triển mạnh. Trong đó, kết hợp đào tạo nghề giữa nhà
trường với DN được quan tâm đặc biệt. [27]
Năm 1999, ở Thái Lan Chính phủ đã nghiên cứu và xây dựng "Hệ thống
hợp tác đào tạo nghề" (Cosperative training system) để giải quyết tình trạng bất
xây dựng Hà Nội có đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: "Các giải pháp
gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực
xây dựng" [19] có nêu ra các giải pháp thiết lập quan hệ giữa nhà trường và DN.
Năm 2005, Hoàng Ngọc Trí với luận án tiến sĩ "Nghiên cứu các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở thủ đô Hà Nội" [17]
có đề cập đến mối quan hệ giữa các trường nghề và đơn vị sản xuất. Năm 2006,
Nguyễn Văn Tuấn với luận văn thạc sĩ "Một số biện pháp tăng cường quản lý
đào tạo nghề ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội" [21] có đi sâu phân tích
mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo nghề; những nhân tố tác động
đến quản lý quá trình đào tạo nghề. Năm 2007, Nguyễn Anh Tuấn có luận văn
tốt nghiệp "Hoàn thiện và đổi mới các biện pháp quản lý đào tạo nghề của
trường trung học công nghiệp quốc phòng trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2007
đến năm 2015)" [20] đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý đào tạo nghề
theo quan điểm hệ thống: Quản lý mục tiêu, quản lý nội dung, quản lý phương
pháp đào tạo nghề,..., quản lý kết quả và chất lượng đào tạo nghề.
Trên đây là sự khái lược về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có
liên quan đến vấn đề hợp tác đào tạo giữa trường nghề với DN nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo nghề. Tuy nhiên, vai trò của quản lý đối với việc tăng cường
sự hợp tác giữa trường nghề với DN trong xu thế hội nhập hiện nay vẫn còn là
khoảng trống, ít được quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề: "Một
số giải pháp quản lý hợp tác đào tạo giữa các trường trung cấp nghề với doanh
nghiệp ở tỉnh Kiên Giang" làm đề tài nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Nghề, đào tạo nghề
1.2.1.1. Khái niệm nghề
Nghề là một loại hình hoạt động mang tính chất riêng, đặc thù của con
người, nó được hình thành và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người.
hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội
trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành
xã hội học tập ”. [ tr.9]
Ngày nay khi đề cập tới nguồn lực quyết định nhất đến sự phát triển kinh tế
- xã hội, người ta thường chỉ ra đó là vốn con người, là nguồn nhân lực chứ
không phải là nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, tiền bạc.
- Nguồn nhân lực là chỉ những người đang và sẽ bổ sung vào lực lượng lao
động xã hội đa dạng và phong phú, bao gồm các thế hệ trẻ đang được nuôi
dưỡng, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và cao
đẳng, đại học. Nói đến nguồn nhân lực, mới chỉ đề cập đến tiềm lực; còn khi tiến
hành đào tạo, sử dụng, phát huy, phát triển nguồn nhân lực, nó mới trở thành lực
tác động đến phát triển kinh tế - xã hội.
- Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là làm gia tăng giá trị của
con người về mọi mặt, trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ; làm cho con người trở thành
những người lao động có năng lực và phẩm chất mới, cao hơn.
Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của 5 yếu tố: Giáo dục đào tạo,
sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người. Trong
đó, giáo dục là nhân tố cốt lõi, là cơ sở của các nhân tố khác và đồng thời cũng
là cơ sở quan trọng nhất cho sự phát triển nền kinh tế - xã hội bền vững.
- Nhân lực là chỉ người lao động kỹ thuật được đào tạo trong nguồn nhân
lực ở một trình độ nào đó để có năng lực tham gia vào lao động xã hội. Năng lực
của người lao động kỹ thuật được cấu thành bởi các yếu tố: kiến thức, kỹ năng,
thái độ và thói quen làm việc.
Cơ cấu nhân lực thường được hình thành và phát triển theo dạng hình tháp
với các trình độ: đại học và sau đại học, cao đẳng - trung cấp kỹ thuật; công nhân
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các
tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện
chuyển biến của môi trường" [15, tr.43]
Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: "Quản lý là một nghệ thuật đạt được những
mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt
động của những người khác" [1, tr.176]
Có thể nhận thấy những khái niệm nêu trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt
khác, dù tiếp cận ở góc độ nào, lĩnh vực nào đi chăng nữa; ở cấp vĩ mô hay vi
mô đều có điểm chung thống nhất là coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có chủ
thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý; giữa
chúng có mối quan hệ với nhau thông qua những tác động quản lý. Do vậy,
chúng tôi có thể biểu thị sơ đồ khái niệm quản lý như sau:
Đối
tượng QL
Mục tiêu
quản lý
Khách thể QL
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về khái niệm quản lý
Qua sơ đồ khái niệm quản lý, tiếp cận theo quan điểm hệ thống thì "quản
lý" là một quá trình bao gồm các thành tố cấu trúc như: chủ thể quản lý, đối
trượng quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý v.v. Nếu tiếp cận theo quan
điểm HĐ thì "quản lý" là HĐ có ý thức của chủ thể quản lý.
Từ việc phân tích các khái niệm và quan điểm tiếp cận khác nhau về quản
Trong thực tiễn, chúng ta thường sử dụng các thuật ngữ giải pháp, phương