BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ AN HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP KỸ THUẬT VÀ NGHIỆP VỤ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ AN HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP KỸ THUẬT VÀ NGHIỆP VỤ VINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã Số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người Hướng dẫn khoa học
TS. PHAN QUỐC LÂM
NGHỆ AN – 2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Phan Quốc Lâm,
người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cám ơn sự chỉ dẫn tận tâm của tất cả các giảng viên trực
tiếp giảng dạy trong suốt thời gian học tập vừa qua, đặc biệt là sự quan tâm,
giúp đỡ tận tình của quý Thầy, Cô công tác tại Khoa Sau đại học và Quản lý
Giáo dục Trường Đại học Vinh.
Xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Trường TC Kỹ thuật
– Nghiệp vụ Vinh và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi được tham
gia học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân yêu trong
gia đình, bạn bè và đồng nghiệp về sự động viên và giúp đỡ to lớn nhất đã dành
cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
vào tâm lý của người học khiến cho họ luôn có suy nghĩ chỉ mong muốn vào học
ở các trường ĐH, CĐ bằng mọi giá mà không muốn vào học các cấp học thấp
hơn. Mặt khác việc lựa chọn cấp học, trường học, ngành học của người học chưa
1
thực sự hợp lý vì chưa chú trọng nhiều đến các yếu tố phù hợp với năng lực, sở
trường, khả năng của bản thân.
Nhìn chung chất lượng nguồn lao động của nước ta hiện nay còn thấp so
với các nước trong khu vực và trên thế giới, ý thức và kỷ luật lao động chưa cao,
chưa chuyên nghiệp. Vì vậy chưa thể đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, khoảng cách
giữa trình độ tay nghề của học viên mới ra trường với yêu cầu thực tế của đơn vị
sử dụng lao động có trình độ còn khá xa. Để khắc phục được những hạn chế và
tồn tại nâng cao chất lượng, trình độ của người lao động thì nhiệm vụ đặt ra là
phải thực hiện việc đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục một cách “căn bản”,
“toàn diện”. Trong phạm vi các trường học phải chú trọng và thực hiện tốt
nhiệm vụ QL và nâng cao CLĐT.
Trên cơ sở phân tích các điều kiện và yêu cầu đặt ra để tìm kiếm giải pháp
cho việc đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát
triển kinh tế xã hội và công cuộc CNH, HĐH đất nước, trong những năm qua
nhà nước ta đã chú trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân với
rất nhiều các cấp học, bậc học khác nhau từ thấp đến cao và trong đó hệ thống
các trường dạy nghề đã ra đời và phát triển trở thành bộ phận quan trọng, góp
phần tích cực vào việc giải bài toán về các vấn đề của nguồn nhân lực, đặc biệt
là các trường Trung cấp chuyên nghiệp và các trường Trung cấp nghề đóng một
vai trò quan trọng trong việc hướng nghiệp, đào tạo dạy nghề cho người lao
động để tạo ra một lực lượng đông đảo công nhân kỹ thuật và thợ có tay nghề
cao trong nhiều lĩnh vực phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của Đất
nước trong hoàn cảnh mới.
Trường Trung cấp Kỹ Thuật và Nghiệp vụ Vinh được thành lập ngày
28/06/1973 với tên gọi là Trường Công nhân Xây dựng Vinh(thường gọi là
mũi nhọn và chọn lọc trong các lĩnh vực công nghệ, xây dựng, kinh tế, Hàn,
Điện….
3
Trên thực tế trong những năm qua trường đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng trong đào tạo, đóng góp đáng kể nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An và khu vực Bắc Trung bộ. Tuy nhiên bên cạnh
những thành tựu đạt được về quy mô cũng như chất lượng đào tạo của đơn vị
vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, hạn chế về các mặt như: nội dung chương trình đào
tạo, đội ngũ giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý, phương pháp dạy học, cơ sở vật
chất và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu; chất
lượng và hiệu quả đào tạo chưa cao, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đào tạo là
nhiệm vụ thường xuyên và hết sức quan trọng của Nhà trường, nó không chỉ là
trách nhiệm mà còn là uy tín, danh dự và sự sinh tồn của Nhà trường, và đó cũng
là cái chung đối với các trường Trung cấp trong điều kiện hiện nay; đồng thời
nâng cao chất lượng đào tạo cũng chính là sự khẳng định thương hiệu của từng
trường. Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển, BGH trường TC Kỹ thuật -
Nghiệp Vụ Vinh luôn quan tâm đến chất lượng đào tạo, và thực tế đã có nhiều
giải pháp để QL chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có một đề
tài nào nghiên cứu về vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo tại trường.Đó là
lý do để tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp quản lý chất lượng đào tạoở
Trường TC Kỹ Thuật - Nghiệp vụ Vinh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp quản
lý chất lượng đào tạoở Trường TC Kỹ thuật - Nghiệp vụ Vinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý chất lượng đào tạoở trường Trung cấp chuyên nghiệp
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý chất lượng đào tạoở Trường TC Kỹ Thuật - Nghiệp vụ
Vinh.
7.1. Về mặt lý luận
Góp phần hệ thống hoá lý luận về vấn đề quản lý chất lượng ở trường
TCCN.
7.2. Về mặt thực tiễn
Làm rõ thực trạng về quản lý chất lượng đào tạoở Trường TC Kỹ Thuật -
Nghiệp vụ Vinh, đồng thời đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng đào tạo
có cơ sở khoa học và có tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội tại Nghệ An nói
riêng và cả nước nói chung.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chất lượng đào tạo ở Trường TC
Kỹ thuật – Nghiệp vụ Vinh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý chất lượng đào tạo ở Trường TC Kỹ
thuật – Nghiệp vụ Vinh.
6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
1.1.1 Tình hình ngoài nước:
Trong những năm gần đây tình hình thế giới có nhiều thay đổi: xu hướng
quốc tế hóa, toàn cầu hóa, khu vực hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ và bộc lộ
một cách rõ ràng dẫn đến sự tăng cường hợp tác giữa các quốc gia, khu vực về
các lĩnh vực kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, môi trường… theo các hình thức
song phương đa phương được đẩy mạnh. Sự hình thành các khu vực kinh tế
chung mà ở đó các ranh giới và hàng rào thuế quan dần bị xóa bỏ đã giúp cho
các nền kinh tế có điều kiện thuận lợi xích lại gần nhau hơn đã dẫn đến sự ra đời
phát triển nhanh chóng của các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia. Bên cạnh đó là
sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin đã tạo ra
với thị trường lao động, mã số B96-52-TĐ03 của tác giải Trần Khánh Đức,
1998 đã đề xuất các giải pháp nâng cao mức độ đáp ứng của GD đại học và GD
chuyên nghiệp với thị trường lao động. Ngoài ra còn nhiều tài liệu của các tác
giả đã đề cập đến vấn đề CLĐT và nâng cao CLĐT như: Công tác kiểm định
các điều kiện đảm bảo chất lượng và khả năng ứng dụng ở Việt Nam (2000) của
TS. Trần Khánh Đức; Về chất lượng đào tạo và quản lý chất lượng đào
tạotrung học chuyên nghiệp (2001), Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo
nhân lực theo ISO và TQM (2004) của TS.Trần Khánh Đức; Đánh giá chất
lượng giáo dục chuyên nghiệp: cơ sở lý luận và thực tiễn, (2005) của PGS.TS
Nguyến Đức Trí; Đánh giá chất lượng giáo dục THCN, (2005) của GS.TSKH
Nguyễn Minh Đường; Bàn về chất lượng đào tạo và đánh giá chất lượng đào
tạo TCCN, (2005) của ThS Nguyễn Đăng Trụ; Chất lượng giáo dục THCN -
khái niệm, nội dung tiêu chí và phương pháp đo lường, (2005) của PGS.TS
Nguyễn Viết Sự; Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng EFQM và sử dụng vào việc
nâng cao chất lượng trường THCN, (2005) của ThS Đỗ Thiết Thạch; Về xây
dựng chuẩn chất lượng giáo dục TCCN, (2005) của GS.TSKH Vũ Ngọc Hải;
Tiêu chuẩn trong giáo dục chuyên nghiệp, (2005) của TS Hoàng Ngọc Vinh; Về
8
hệ thống đảm bảo chất lượng trong các trường trung cấp chuyên nghiệp, (2005)
của KS Nguyễn Việt Hùng; Kiểm định chương trình đào tạo TCCN, (2005) của
TS Đặng Xuân Hải; Chất lượng đào tạo trong cơ chế thị trường, (2008) của
GS.TSKH Nguyễn Minh Đường; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao
chất lượng GDCN và cao đẳng ở Việt Nam, (2008) của PGS.TS Nguyến Đức
Trí; Chất lượng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạonghề nghiệp, (2008) của
PGS.TS Trần Khánh Đức; Đánh giá chất lượng đào tạo trong các trường
TCCN, cao đẳng và đại học, (2008) của TS Phan Thị Hồng Vinh - ThS Ngô Thị
San; …
Ngoài ra là một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu của một số học viên
cao học ngành QLGD đã đi vào nghiên cứu thực trạng CLĐT nghề ở các trường
cao đẳng, trung cấp nghề và đề xuất những biện pháp, giải pháp QL nhằm nâng
kỹ xảo, thái độ… để hoàn thành nhân cách cho mỗi cá nhân và tạo điều kiện
cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả”.
- Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: Đào tạo có nghĩa là: “ Đào tạo làm
cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định [45].
Từ những khái niệm về đào tạo đã nêu trên đã giúp cho chúng ta có thể rút
ra những kết luận về khái niệm đào tạo như sau: giữa đào tạo và giáo dục có mối
liên hệ mật thiết với nhau, nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Khái
niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn giáo dục, đào tạo thường đề cập đến giai
đoạn sau, khi một người đã đạt được một trình độ nhất định, có một độ tuổi nhất
định. Giáo dục và đào tạo là hai mặt, hai khâu nối tiếp trong một tiến trình hoạt
động có mục đích chung là trang bị kiến thức, kỹ năng kỹ xảo, chuyên môn…
cho người học.
Như vậy, đào tạo là một quá trình tác động đến đối tượng đào tạo là con
người một cách có tổ chức, có mục đích nhằm giúp cho người được đào tạo
10
được trang bị và hình thành nên hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ
một các có hệ thống. Sau khi được đào tạo con người sẽ lĩnh hội và nắm vững
được các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn… nhằm có sự chuẩn bị và chủ
động và thích nghi với các yêu cầu cuộc sống đặt ra, sau quá trình đào tạo giúp
cho con người có khả năng được bố trí, đảm nhận và hoàn thành tốt các nhiệm
vụ theo sự phân công lao động của xã hội, giúp cho con người tăng khả năng
làm việc một cách có hiệu quả hơn.
Đào tạo là một hoạt động có vai trò rất quan trọng đối với con người vì
thông qua quá trình đào tạo giúp cho con người có thể lưu giữ và truyền thụ các
kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng trong các hoạt động lao động từ thế hệ này sang
thế hệ khác, giúp cho con người nâng cao hiệu quả trong quá trình lao động của
mình.
Ngày nay chúng ta có thể thấy hoạt động đào tạo được diễn ra dưới nhiều
hình thức đa dạng và với những quy mô lớn nhỏ khác nhau, ở nhiều cấp độ khác
nhau.
Có một định nghĩa về chất lượng được đánh giá có ý nghĩa đối với việc xác
định chất lượng giáo dục và cả việc đánh giá nó của tác giả Nguyễn Hữu Châu,
đó là: “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu.
Như vậy qua các quan niệm khác nhau về chất lượng đã trích dẫn ở trên đã
mang lại cho chúng ta những sự hình dung cụ thể về khái niệm chất lượng.
1.2.2.2. Chất lượng đào tạo:
Cũng giống như khái niệm chất lượng, chất lượng đào tạo là khái niệm có
một loạt định nghĩa trái ngược nhau và rất nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn
đề này đã diễn ra tại các diễn đàn khác nhau mà nguyên nhân của nó là thiếu
một cách hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề.
12
Khi tiếp cận và nghiên cứu về khái niệm chất lượng đào tạo sẽ có nhiều
cách tiếp cận khác nhau và dưới đây là những quan điểm tổng quát về chất
lượng đào tạo được nhiều người đồng thuận:
- Theo tác giả Lê Đức Ngọc và Lâm Quang Thiệp (ĐH Quốc gia Hà Nội),
CLĐT được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu ĐT đã đề ra đối với một
chương trình đào tạo.
- Theo tác giả Trần khánh Đức, CLĐT là kết quả của quá trình ĐT được
phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động
hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương
trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể.
- Theo cách tiếo cận QLCL thì: CLĐT được coi là sự phù hợp và đáp ứng
yêu cầu. CLĐT có hai phần: Phần cứng gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ người
học tiếp thu trong QTĐT; phần mềm là năng lực sáng tạo và thích ứng. CLĐT
phụ thuộc vào ba yếu tố: Hoạch định (thiết kế và xây dựng mục tiêu); tổ chức
ĐT; sử dụng. Miền chất lượng là vùng giao nhau của ba yếu tố trên, miền chất
lượng càng lớn chứng tỏ cơ sở đào tạo đã tổ chức tốt QTĐT phù hợp với mục
tiêu thiết kế ban đầu, đạt hiệu quả và có khả năng cạnh tranh với các cơ sở ĐT
khác.
1.2.3. Quản Lý và Quản lý chất lượng đào tạo
Trung Hoa cổ đại đã có những lý thuyết quản lý của Khổng Tử, Mạnh Tử,
Hàn Phi…cho đến các nhà nghiên cứu phương tây sau này muốn phản ánh
những nét đặc trưng của quản lý bằng nhiều cách như nhấn mạnh tính chất hay
hình thức tác động, mục đích hay chức năng của quản lý đã đưa ra các định
nghĩa sau:
Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H. Fayon (1849-1925) là cha đẻ của
thuyết hành chính trong quản lý đã đưa ra định nghĩa “Quản lý hành chính là dự
đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.[14]
Theo F.Taylor (1856 - 1915) là người đầu tiên làm cho các vấn đề của quản
lý thành đối tượng của môn học khoa học độc lập và chính ông đã biến các tư
14
tưởng quản lý thành các nguyên tắc và kỹ thuật lao động cụ thể, tạo ra được năng
suất, hiệu quả cao trong sản xuất: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách
tốt nhất, rẻ nhất”.[29]
Theo nhà lý luận quản lý Henry Fayol: “Quản lý hành chính là dự đoán và
lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.[14]
Theo phân tích của Marx, quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã
hội, nó luôn gắn chặt với sự phân công và phối hợp. Song, điều đó chỉ có thể thực
hiện trên cơ sở tổ chức vì: “chức năng chủ yếu của quản lý là liên hợp, tháp hợp
tất cả các mặt hoạt động của tổ chức và của những người tham gia tổ chức đó là
một chỉnh thể”.
GS. Hà Thế Ngữ và GS. Đặng Vũ Hoạt nói: “Quản lý là một quá trình định
hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ
thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng
cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, "Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý)
nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến" [13]
Tác giả Hồ Văn Vĩnh định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
nội dung cơ bản vẫn gồm bốn chức năng sau đây:
Lập kế hoạch
Là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý, là khâu đầu tiên của
chu trình quản lý. Lập kế hoạch là quá trình xác lập mục tiêu, thời gian, biện
pháp, dự báo trước kế hoạch và quyết định phương thức để thực hiện mục tiêu đó.
Nói cách khác lập kế hoạch là xác định trước xem phải làm gì, làm như thế nào,
khi nào làm và ai làm. Căn cứ thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ vào mục
tiêu cần phải hướng tới để cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ của tổ chức trong
từng thời kỳ, từng giai đoạn. Từ đó tìm ra con đường, biện pháp đưa đơn vị đạt
được mục tiêu.
16
Tổ chức
Là quá trình thiết lập cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận. Từ
đó, chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý một cách có hiệu quả bằng
cách điều phối các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, vật lực và tài lực. Quá
trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức phải đảm bảo các yêu cầu: Tính tối
ưu, tính linh hoạt, độ tin cậy và tính kinh tế. Trong quá trình xây dựng cơ cấu tổ
chức quản lý cần tính đến các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đó là
những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống cụ thể có ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình tổ chức thực hiện.
Chỉ đạo
Là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành tổ chức - nhân
lực đã có của đơn vị vận hành theo đúng kế hoạch đã vạch ra. Lãnh đạo bao hàm
cả liên kết, liên hệ, uốn nắn hoạt động của người, động viên, khuyến khích họ
hoàn thành nhiệm vụ. Trong chức năng chỉ đạo, chủ thể quản lý phải trực tiếp ra
quyết định (mệnh lệnh) cho nhân viên dưới quyền và hướng dẫn, quan sát, phối
hợp, động viên để thuyết phục, thúc đẩy họ hoạt động đạt được các mục tiêu đó
bằng nhiều biện pháp khác nhau.
Kiểm tra
Là hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý thông qua
trong quá trình sản xuất. Đặc biệt trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, hoạt
động quản lý có vai trò rất quan trọng. Nếu hoạt động quản lý tốt sẽ thúc đẩy sản
xuất, nâng cao lợi nhuận đồng thời cũng góp phần nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của con người, tạo điều kiện cho tư duy sáng tạo phát triển về mọi
phương diện. Ngược lại, nếu hoạt động quản lý tồi không chỉ tác động hạn chế,
ngăn cản sự phát triển kinh tế, xã hội mà còn dẫn đến tình trạng làm nghèo đi và
làm chậm lại sự phát triển của đất nước, lãng phí sức người và của cải vật chất
của tồn tại xã hội.
Tóm lại, quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và
với con người.
1.2.3.2. Quản lý chất lượng đào tạo
18
Quản lý chất lượng đào tạo là nhiệm vụ quan trọng nhất và luôn luôn được
đặt ra đối với mỗi trường học, mỗi cơ sở giáo dục đào tạo do những yêu cầu
khách quan và chủ quan khác nhau như:
Do nhu cầu xã hội trong sử dụng nguồn nhân lực luôn đòi hỏi nguồn nhân
lực có chất lượng ngày càng cao để đáp ứng yêu cầu đặt ra từ sự phát triển
nhanh chóng của nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế
thế giới.
Về phía bản thân người học, người lao động luôn đòi hỏi các cơ sở đào tạo
khi mở ra trường lớp phải đào tạo có chất lượng tốt và ngày càng được nâng cao
để giúp cho người được đào tạo có thể học tập và trang bị những kỹ năng nghề
nghiệp, kiến thức chuyên môn mới, trang bị nghiệp vụ tạo nên năng lực lao động
cần thiết và rèn luyện phẩm chất đạo đức đáp ứng được các yêu cầu thực tế đặt
ra. Từ đó giúp cho người được đào tạo có năng lực lao động tốt, có khả năng tìm
kiếm việc làm và khẳng định năng lực chuyên môn trong công việc, ổn định đời
sống.
Yêu cầu quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo cũng là yêu cầu bức thiết
và là nhiệm vụ cần thiết phải làm thường xuyên được đặt ra đối với các trường
học và cơ sở đào tạo bởi vì chỉ có làm tốt công tác Quản lý chất lượng đào tạo
Giải pháp đó còn là sự kết hợp của nhiều giải pháp tác động đến các đối
tượng trong quá trình đào tạo từ công tác quản lý, đến nội dung chương trình
đào tạo, đến các nhân tố tham gia vào quá trình đào tạo nhằm tạo ra sự chuyển
biến tích cực và giúp cho chủ thể của quá trình đào tạo là người dạy và người
học phát huy được tối đa năng lực truyền thụ và tiếp thu các kiến thức, kỹ năng
chuyên môn, đạo đức tạo ra những biến đổi tích cực về chất lượng, tạo ra
những sản phẩm đào tạo có chất lượng ngày càng cao theo mục tiêu đề ra, đáp
ứng yêu cầu xã hội.
1.3.Một số vấn đề về chất lượng đào tạo ở trường TCCN
20
1.3.1 Trường Trung cấp chuyên nghiệp:
Trường TCCN là một bộ phận quan trọng nằm trong hệ thống giáo dục
quốc dân: đây là nơi diễn ra các hoạt động giáo dục đào tạo nghề và đào tạo
chuyên nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, là nơi đào tạo nên
đội ngũ lao động có chất lượng ở các ngành nghề khác nhau nhằm đáp ứng cho
nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước góp phần xây dựng, phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong những năm qua hệ thống các trường TCCN đã được chú trọng xây
dựng và phát triển thành một hệ thống khá hoàn chỉnh trong cả nước và đã thể
hiện được vai trò, nhiệm vụ quan trọng của mình trong việc đào tạo nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực. Tuy còn gặp rất nhiều khó khăn thách thức để tồn tại
và phát triển song nhìn chung hệ thống các trường TCCN ở nước ta vẫn không
ngừng đổi mới và hoàn thiện hơn.
1.3.2 Chất lượng ĐT của Trường TCCN:
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trong nhất của tất cả các trường
học, cơ sở giáo dục đào tạo nói chung và đối với hệ thống trường TCCN nói
riêng thể hiện ở các cấp từ thấp đến cao, và việc phấn đấu nâng cao chất lượng
đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở
giáo dục đào tạo nào, là mục đích trong hoạt động tại các cơ sở giáo dục đào tạo
có tính định hướng cho các hoạt động khác diễn ra trong trường học, vừa có tác
lượng cao ở một lĩnh vực này nhưng ở một lĩnh vực khác lại có thể có chất
lượng thấp. Điều này đặt ra một yêu cầu phải xây dựng một hệ thống rõ ràng,
mạch lạc các tiêu chí với những chỉ số được lượng hoá, nêu rõ các phương thức
đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng sẽ được sử dụng trong và ngoài giáo
dục với xu hướng tiếp cận dần với chuẩn của khu vực và thế giới nhằm đưa giáo
dục đại học Việt Nam hoà nhập với giáo dục đại học thế giới .
Tóm lại, mặc dù CLĐT có tính phức tạp và luôn tồn tại nhiều định nghĩa,
cách hiểu khác nhau nhưng có thể khái quát lại như sau: CLĐT là sự phù hợp với
22